I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ VÀ VẤN ĐỀ NƯỚC SẠCH VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG TRONG LƯU VỰC SÔNG HỒNG - THÁI BÌNH
 

I. Công tác quản lý chất thải y tế trong lưu vực sông Hồng – Thái bình

Theo báo cáo của Cục Quản lý môi trường Y tế - Bộ Y tế, tính đến tháng 6 năm 2011, lưu vực sông Hồng –Thái Bình hiện có 758 cơ sở y tế tuyến Trung ương, tỉnh và huyện. Lượng nước thải y tế phát sinh trung bình tại các cơ sở y tế tuyến trung ương là 5.500 m3/ngày đêm, tuyến tỉnh là 17.000 m3/ngày đêm, và tuyến huyện là 13.000m3/ngày đêm. Lượng chất thải rắn y tế phát sinh trong lưu vực là hơn 59 tấn/ngày (trong đó có khoảng 11 tấn/ngày là chất thải y tế nguy hại). Khí thải nguy hại phát sinh chủ yếu từ các lò đốt chất thải y tế, các cơ sở y tế có các phòng xét nghiệm phục vụ công tác nghiên cứu và đào tạo y dược.

Về công tác quản lý và xử lý chất thải y tế, theo số liệu thống kê cho thấy tại các bênh viện có giường bệnh,  đối với chất thải lỏng, 338 bệnh viện cần được xây dựng và trang bị mới hoặc sửa chữa nâng cấp hệ thống xử lý nước thải, trong đó khoảng gần 268 bệnh viện chưa có hệ thống xử lý nước thải (chủ yếu là ở tuyến huyện và tỉnh). Hiện có 143 bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải y tế (73 bệnh viện có hệ thống xử lý hoạt động tốt, còn lại nhiều hệ thống xử lý chất thải đã xuống cấp, cần được sửa chữa, nâng cấp cho phù hợp với quy mô phát triển, nhu cầu chăm sóc sức khỏe có nhân dân và đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. Còn với chất thải rắn, tỷ lệ bệnh viện xử lý chất thải rắn y tế bằng lò đốt là 27,34%, số bệnh viện hợp đồng với công ty môi trường thuê xử lý là 42,21% và 30,45% bệnh viện xử lý bằng cách thiêu đốt thủ công hoặc tự chôn lấp trong khuôn viên của bệnh viện (chủ yếu ở bệnh viện tuyến huyện và một vài bệnh viện chuyên khoa tại các tỉnh miền núi). Trong đó đa số các lò đốt chưa có hệ thống xử lý khí thải, công suất lò đốt sử dụng chưa hợp lý, gây ô nhiễm môi trường và hiệu quả sử dụng chưa cao.

Trong lưu vực sông Hồng – Thái Bình có 48 cơ sở y tế thuộc danh sách theo Quyết định 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó có 04 bệnh viện do Bộ Y tế quản lý, 03 cơ sở do Bộ Quốc phòng quản lý và 41 cơ sở do các tỉnh quản lý. Theo thống kê báo cáo, có 41/48 cơ sở đã đầu tư xây dựng mới và cải tạo hệ thống xử lý chất thải y tế, 07/48 cơ sở còn lại đang tiếp tục triển khai xử lý ô nhiễm triệt để ô nhiễm môi trường. Hiện đã có 26/48 cơ sở (chiếm 54,2%) được công nhận ra khỏi danh sách gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64.

Tại các trạm y tế xã, phường, công tác quản lý chất thải y tế chưa được quan tâm và thực hiện, chưa thực hiện xử lý chất thải y tế trước khi xả thải ra môi trường theo quy định.

            Tại các viện/Trung tâm y tế dự phòng, hiện nay thực hiện xử lý nước thải sơ bộ bằng bể tự hoại, chưa có hệ thống xử lý nước thải.

Tại các cơ sở y tế đào tạo y, dược đã làm phát sinh chất thải y tế, tuy nhiên các cơ sở mới thực hiện xử lý ban đầu hoặc chưa xử lý với chất thải y tế, hầu hết không có hệ thống xử lý chất thải y tế rắn và lỏng.

Trước tình hình đó, Bộ Y Tế đã có những  biện pháp kịp thời để quản lý chất thải y tế như ban hành Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y, Quy chế quản lý chất thải y tế và các quy định khác của pháp luật để chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế, các cơ sở y tế địa phương triển khai thực hiện về thu gom, phân loại và xử lý chất thải y tế. Chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở y tế trong danh sách các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ triển khai các biện pháp giải quyết triệt để tình trạng ô nhiễm môi trường và làm thủ tục ra khỏi danh sách các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Tổ chức lớp tập huấn “Nâng cao năng lực về quản lý chất thải y tế” cho cán bộ Sở Y tế và Trung tâm y tế dự phòng tỉnh/Thành phố một số tỉnh miền Bắc tại Đồ Sơn, Hải Phòng. Chỉ đạo các cơ sở y tế áp dụng mô hình công nghệ xử lý chất thải y tế phù hợp, thân thiện với môi trường. Cụ thể:

1. Xử lý chất thải lỏng y tế

a) Đối với các trạm y tế, các trung tâm y tế dự phòng và các bệnh viện hoạc phòng khám bệnh tuyến huyện miền núi có thể áp dụng mô hình công nghệ: Xử lý bậc 1 kết hợp với khử trùng, bao gồm 2 phương án:

            - Phương án (1) Xử lý nước thải bậc 1 phân tán và khử trùng tập trung: nước thải vệ sinh từ các khoa, phòng được thu gom vào bể tự hoại; nước thải từ các hoạt động khác (xét nghiệm...) được thu gom vào các bể lắng cát; nước thải từ các bể lắng cát và bể tự hoại tại các khoa phòng sẽ được thu gom về bể khử trùng tập trung sau đó xả ra môi trường bên ngoài.

            - Phương án (2) Xử lý nước thải bậc 1 kết hợp xử lý bùn cặn: Nước thải tại các khoa điều trị  được thu gom về trạm xử lý, qua bể lắng cát sau đó lắng nước thải kết hợp ổn định bùn cặn lắng, khử trùng và xả ra môi trường ngoài.

            b) Đối với các cơ sở điều trị, các trung tâm y tế dự phòng nằm xa khu dân cư, xa khu đô thị, nơi có diện tích đất rộng có thể áp dụng mô hình công nghệ: Xử lý bậc 1 phân tán/tập trung kết hợp với xử lý tập trung bằng phương pháp sinh học nhân tạo, bao gồm 2 phương án:

            - Phương án (1) Xử lý nước thải bậc 1 phân tán kết hợp với xử lý sinh học tập trung trong điều kiện nhân tạo: nước thải từ các khu vệ sinh tại các khoa, phòng được thu gom vào bể tự hoại; nước thải từ các hoạt động khác được thu gom vào các bể lắng cát. Nước thải từ các bể tự hoại và các bể lắng cát tại các khoa phòng được dẫn về bể xử lý sinh học tập trung, sau đó qua bể khử trùng và xả ra môi trường ngoài.

            - Phương án (2) Xử lý nước thải tập trung bằng phương pháp sinh học trong điều kiện nhân tạo: nước thải tại các khoa phòng được thu gom về trạm xử lý nước thải, qua bể lắng cát, bể lắng sơ cấp kết hợp ổn định bùn cặn, bể xử lý sinh học, bể khử trùng và xả ra môi trường bên ngoài.

            c) Đối với các cơ sở điều trị, các viện/trung tâm y tế dự phòng, các cơ sở đào tạo y dược, cơ sở sản xuất thuốc nằm trong thành phố, gần khu dân cư, khu đô thị, mặt bằng hẹp có thể áp dụng mô hình công nghệ: Xử lý bậc 1 phân tán/tập trung kết hợp với xử lý tập trung bằng phương pháp sinh học trong điều kiện tự nhiên, bao gồm 2 phương án:

            - Phương án (1) Xử lý nước thải bậc 1 phân tán kết hợp với xử lý sinh học tập trung trong điều kiện tự nhiên: nước thải vệ sinh tại các khoa, phòng được thu gom vào các bể tự hoại; nước thải từ các hoạt động khác được thu gom vào các bể lắng cát. Nước thải từ các bể tự hoại và các bể lắng cát tại các khoa phòng được dẫn về bể khử trùng sơ bộ sau đó chuyển sang khu xử lý sinh học trong điều kiện tự nhiên và xả ra môi trường.

            - Phương án (2) Xử lý nước thải tập trung bằng phương pháp sinh học trong điều kiện tự nhiên: nước thải tại các khoa phòng được thu gom về trạm xử lý, qua bể lắng cát, bể lắng sơ cấp kết hợp ổn định bùn cặn, bể khử trùng sơ bộ, xử lý sinh học trong điều kiện tự nhiên và xả ra môi trường bên ngoài.

2. Xử lý chất thải rắn y tế

            a) Xử lý tập trung: Tại các thành phố, các khu đô thị lớn, chất thải rắn y tế cùng các loại chất thải rắn nguy hại khác được thu gom và tập trung lại để xử lý tại một nhà máy hoặc một trung tâm xử lý có đủ điều kiện đảm bảo xử lý một cách triệt để không gây ô nhiễm môi trường. Đây là những mô hình đang phát huy hiệu quả, tiết kiệm chi phí đầu tư, vận hành.

            b) Xử lý theo cụm: Một số bệnh, cơ sở y tế có khoảng cách gần nhau có thể tập trung chất thải rắn y tế lại để xử lý (có thể xử lý chung với các loại chất thải rắn nguy hại khác).

            c) Xử lý tại chỗ: Tại các cơ sở y tế không có điều kiện vận chuyển chất thải y tế đến các khu xử lý tập trung hoặc xử lý theo cụm như đã nêu ở khoản a) và b) có thể xử lý chất thải y tế nguy hại ngay tại cơ sở bằng các phương pháp phù hợp với điều kiện của cơ sở.

            Những khó khăn, thách thức trong công tác quản lý chất thải y tế bao gồm: (i) Sự gia tăng dân số và nhu cầu chăm sóc về y tế của người dân làm cho các bệnh viện luôn quá tải, dẫn đến quá tải về xử lý chất thải y tế nhất là ở tuyến Trung ương và tuyến tỉnh. (ii) Số lượng các cơ sở y tế cả ở tuyến Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần phải đầu tư xây dựng mới/cải tạo lại hệ thống xử lý chất thải y tế là khá lớn. (iii) Chi phí đầu tư ban đầu cũng như chi phí vận hành, bảo dưỡng thường xuyên cho hệ thống xử lý chất thải y tế là rất lớn trong khi nên kinh tế của nước ta cũng như kinh tế thế giới đang trong giai đoạn chưa ổn định. (vi) Số lượng cán bộ làm công tác quản lý chất thải y tế cũng như các trang thiết bị xử lý chất thải ở nhiều nơi chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế đặc biệt là ở tuyến tỉnh và huyện. (v) Sự phối hợp giữa ngành Y tế và Tài nguyên và Môi trường từ Trung ương đến địa phương nhiều nơi còn hạn chế, chưa phát huy hết sức mạnh trong công tác quản lý chất thải y tế. (vi) Chưa có sự đầu tư đúng mức cũng như các cơ chế về tài chính hợp lý để tạo điều kiện làm tốt công tác xử lý chất thải y tế nhất là các cơ sở nằm trong Quyết định 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải y tế, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố thuộc lưu vực sông Hồng – Thái Bình cần có trách nhiệm: (i) Chỉ đạo và triển khai thực hiện việc xử lý chất thải y tế thuộc địa bàn quản lý. (ii) Ưu tiên bố trí ngân sách bảo đảm đủ kinh phí xử lý chất thải của các cơ sở y tế thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý. (iii) Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan định kỳ kiểm tra chất lượng môi trường tại khu vực có các cơ sở y tế thuộc địa bàn quản lý.

II. Vấn đề nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình

1. Văn bản quy phạm

- Đã ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà tiêu - Điều kiện đảm bảo hợp vệ sinh ngày 24/6/2011.

- Đã ban hành Thông tư hướng dẫn vệ sinh trong hoạt động ủ phân.

-  Đang xây dựng Thông tư Hướng dẫn kiểm tra, giám sát chất lượng nước ăn uống và sinh hoạt: Đang xây dựng dự thảo.

- Đang xây dựng dự thảo Thông Thông tư Hướng dẫn kiểm tra, giám sát nhà tiêu hộ gia đình.

- Kế hoạch truyền thông cho Chương trình Mục tiêu QG về NS-VSMT giai đoạn 2011-2015: Đang xây dựng dự thảo.

2. Công tác chỉ đạo, hướng dẫn triển khai các hoạt động:

- Công văn số 225/ MT-SKCĐ ngày 14/4/2011 của Cục Quản lý môi trường y tế gửi Sở Y tế các tỉnh/Tp về việc tổ chức các hoạt động hưởng ứng tuần lễ quốc gia về Nước sạch và Vệ sinh môi trường.

- Công văn số 433/MT-SKCĐ ngày 27/6/2011 của Cục Quản lý môi trường y tế gửi Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Phú Thọ, Sơn La về triên khai mô hình Câu lạc bộ Sức khỏe cộng đồng; Hà Giang, Yên Bái, Cao Bằng về mô hình nhà tiêu vệ sinh chi phí thấp.

- Chỉ đạo các địa phương tổ chức các hoạt động hưởng ứng Tuần lễ quốc gia NSVSMTNT, ngày môi trường thế giới.

3. Các kết quả thực hiện:

             Tính đến cuối tháng 6/2011, số liệu thu thập được theo báo cáo của 25 tỉnh/thành phố tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu HVS là 43.5%. Có khoảng 93% trạm y tế xã có nhà tiêu. Tuy nhiên, số nhà tiêu hợp vệ sinh khoảng 73%, nhiều nhà tiêu đã xuống cấp hoặc xây dựng và sử dụng không đúng kỹ thuật nên không đảm bảo hợp vệ sinh.

       Về giám sát chất lượng nước:   

- Đôn đốc các tỉnh tăng cường giám sát chất lượng nước, tăng lượng clo dư trong nước để phòng chống dịch tiêu chảy cấp.

- Tổng hợp tình hình kiểm tra, giám sát chất lượng nước hàng tháng của các Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, thành phố

- Kết quả kiểm tra giám sát các nhà máy:

 

Vùng miền

Kết quả kiểm tra nhà máy nước > 500 người

TS. Mẫu  xét nghiệm 

TS mẫu
không đạt

TS lư­ợt
kiểm tra

 TS.đạt TC

Tỷ lệ
đạt TC (%)

TS mẫu
XN

TS. đạt

Tỷ lệ đạt %

Lý hoá

Vi sinh

ĐB. Sông Hồng

626

583

93.1

2,075

1.331

64.1

445

153

 Đông Bắc

813

544

66.9

2.257

1.601

70.9

260

522

Tây Bắc

111

83

74.8

514

172

33.5

59

148

            Việc lấy mẫu, xét nghiệm, kiểm tra giám sát không được thực hiện thường xuyên do nhiều nguyên nhân: Thiếu nhân lực, trang thiết bị, phương tiện, kinh phí (nhiều tỉnh không xây dựng kế hoạch kinh phí cho công tác kiểm tra giám sát chất lượng nước hàng năm). Năng lực Trung tâm YTDP tỉnh hiện nay chỉ thực hiện được từ 10 - 15 chỉ tiêu. Mặt khác, khoảng 80% dân số nông thôn sử dụng nước mưa, giếng khoan, giếng đào, nước tự chảy... để ăn uống, sinh hoạt nhưng chưa kiểm tra chất lượng theo quy định.

4. Khó khăn và tồn tại

- Kinh phí đầu tư cho hợp phần vệ sinh rất thấp so với nhu cầu do đó rất khó khăn cho việc triển khai Chương trình hiệu quả.

- Hoạt động truyền thông về nước sạch, VSMT, vệ sinh cá nhân nhiều nơi chưa được thực hiện. Kinh phí đầu tư cho hoạt động truyền thông còn rất thấp kể cả Trung ương và địa phương. Việc tăng tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh chủ yếu dựa vào hộ gia đình, tuy nhiên nhận thức của người dân về sự cần thiết của nhà tiêu hợp vệ sinh còn rất thấp, vì vậy cần có nhiều kinh phí đầu tư cho hoạt động truyền thông.

- Sự phối giữa ngành y tế với các ban ngành khác trong việc xây dựng triển khai kế hoạch hợp phần vệ sinh ở nhiều địa phương còn chưa tốt.

- Công tác chỉ đạo, kiểm tra giám sát chất lượng nước, nhà tiêu HGĐ chưa thực sự được quan tâm, thiếu kinh phí cho việc lấy mẫu, xét nghiệm. Chưa có chế tài đối với các cơ sở cấp nước không đạt tiêu chuẩn chất lượng nước cấp. Chất lượng nước hộ gia đình còn bị bỏ ngỏ.

- Tại một số địa phương nguồn vốn vay để xây dựng các công trình vệ sinh của ngân hàng Chính sách xã hội còn thiếu về số lượng và diện bao phủ còn hẹp, hoạt động này chưa được phát động và tuyên truyền mạnh để khuyến khích người dân vay vốn để xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh.

5. Đề xuất, Kiến nghị

- Cần tăng cường chỉ đạo việc củng cố, kiện toàn Ban Chỉ đạo Chương trình tại các tỉnh, giao nhiệm vụ cụ thể cho các ngành, đặc biệt là ngành Y tế - Giáo dục - Nông nghiệp và phát triển nông thôn.

- Tăng cường trách nhiệm và vai trò của các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp trong việc tổ chức thực hiện hoàn thành nhiệm vụ nâng tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh của Chương trình.

- Bố trí đủ kinh phí cho ngành y tế để thực hiện nhiệm vụ về hợp phần vệ sinh.

- Xem xét thành lập thêm nhóm tư vấn lưu động riêng cho hợp phần vệ sinh để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trương nông thôn.

- Cần có thống kê, đánh giá về sự chỉ đạo, điều hành của UBND các cấp, sự chỉ đạo của chính quyền các cấp, sự phối hợp của các ban ngành địa phương để xác định những tỉnh cần có sự chỉ đạo ưu tiên về các hoạt động điều hành.

- Đề nghị các địa phương rà soát lại các thực trạng về cấp nước, vệ sinh, nhu cầu thực tế để giúp cho việc xây dựng kế hoạch trong những năm tới và thực hiện tốt chế độ thống kê báo cáo.

- Xác định những địa phương còn khó khăn, tỷ lệ cung cấp nước sạch và vệ sinh còn thấp, thành lập các đoàn liên ngành để kiểm tra và làm việc cụ thể, thúc đẩy thực hiện.

- Cần có đánh giá hiệu quả, khả năng vận động, tiếp cận của người dân về vốn vay của ngân hàng chính sách xã hội để tăng cường khả năng khuyến khích vận động người dân vay vốn xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh.

- Cần tăng cường giám sát, kiểm tra xét nghiệm nguồn nước đầu vào của các nhà máy nước để đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc gia.

- Tăng cường phối hợp liên ngành và có sự chỉ đạo thực hiện bảo vệ nguồn nước đầu vào tránh bị ô nhiễm.

(Theo báo cáo của Cục Quản lý môi trường y tế - Bộ Y tế )

 
CÁC TIN KHÁC
  BẮC NINH: Ô NHIỄM ĐẬM ĐẶC TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn