I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
CÔNG TÁC THỦY LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG NĂM 2005 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG
 

 

I- KẾT QUẢ CÔNG TÁC THỦY LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG

1. Hiện trạng các công tình thủy lợi ở Tuyên quang:

            Tổng số công trình Thủy lợi trên địa bàn tỉnh Tuyên quang là 2332 công trình. Trong đó hồ chứa 473 công trình, đập dâng 939 công trình, trạm bơm 73 công trình còn lại là phai tạm. Trong đó số công trình bán kiên cố và kiên cố là 1.485 công trình chiếm 64%; Số công trình tạm thời (đá xếp, phai gỗ, tre) 847 công trình chiếm 36%.

 Các công trình thủy lợi được chuyển giao cho các Ban quản lý công trình thủy lợi xã và Ban quản lý công trình thủy lợi Hợp tác xã NLN quản lý khai thác và sử dụng đồng thời thực hiện việc thu, chi thủy lợi phí theo Quyết định số 299/QĐ- UB ngày 30/3/1996 của Ủy ban nhân dân tỉnh. Cụ thể như sau:

Huyện Na Hang   :            250       công trình.

Huyện Chiêm Hóa :          696       công trình.

Huyện Hàm Yên   :           443       công trình.

Huyện Yên Sơn    :           494       công trình.

Huyện Sơn Dương  :        423       công trình.

Thị xã Tuyên Quang:          26       công trình.

Tổng số Ban quản lý công trình thủy lợi hiện có 156 Ban quản lý công trình thủy lợi, trong đó có 1 Ban quản lý công trình liên huyện, 6 Ban quản lý công trình liên xã và 149 Ban quản lý công trình Hợp tác xã NLN.

2. Kết quả xây dựng, tu sửa, nâng cấp các công trình thủy lợi:

 Trong các năm 1996 đến 2005 tỉnh Tuyên Quang đã tập trung đầu tư nâng cấp cải tạo các công trình thủy lợi bị hư hỏng, làm mới thêm nhiều công trình thủy lợi từ nguồn vốn Trung Ương do Bộ Nông nghiệp và PTNT đầu tư, nguồn vốn XDCB tập trung, chương trình 135, định canh- định cư, kinh tế mới, chương trình kiên cố hóa kênh mương, dự án RIDP .v.v. nên công trình thủy lợi của tỉnh hiện nay đã được cải thiện một bước cả về số lượng và chất lượng, tăng diện tích tưới, giảm lượng nước thất thoát giảm thời gian cung cấp nước tưới từ đầu mối đến mặt ruộng, giảm công sức và kinh phí tu sửa công trình thường xuyên hàng năm.

Riêng năm 2005 toàn tỉnh đã hoàn thành đưa vào phục vụ sản xuất 118 công trình thủy lợi (tu sửa 6 công trình, nâng cấp 81 công trình, làm mới 31 công trình); 239,21 km kênh mương (162,18 km theo Quyết định 100/QĐ- UB ngày 5/02/1999 và 77,03 km bằng các nguồn vốn khác). Một số dự án đầu tư vào lĩnh vực thuỷ lợi, cải tạo điều kiện môi trường cũng đang trong quá trình nghiên cứu lập kế hoạch đầu tư

3. Kết quả quản lý khai thác công trình thủy lợi phục vụ sản xuất và đời sống:

a/ Kết quả tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp:

Đảm bảo tưới chắc cho 16.187,4 ha lúa đông xuân (chiếm 83,4% diện tích gieo cấy) và 18.139,4 ha lúa mùa (chiếm 69,1% diện tích gieo cấy), đưa tỷ lệ tưới chắc cả năm đạt 75% diện tích gieo cấy.

Số diện tích còn lại vụ đông xuân 3.228,6ha (chiếm 16,6%) và 8.123,6ha vụ mùa (chiếm 30,9%) phải tận dụng nguồn nước khe lạch để tưới.

b/ Ngăn lũ tiêu úng:

Toàn tỉnh có 35,9km đê ven sông Lô. Trước mùa mưa lũ năm 2005 các huyện đã dùng ngân sách và lao động công ích, lao động xã hội của địa phương để bảo dưỡng, tu sửa những hỏng hóc của đê và cống v.v… Nên mùa lũ 2005 các tuyến đê và hệ thống cống dưới đê hoạt động an toàn, ngăn lũ bảo vệ cho 11 xã và 1.424 ha diện tích đất canh tác (Yên Sơn 442,3 ha, Sơn Dương 981,7ha), không gây thiệt hại về người và tài sản.

c/ Mặt nước nuôi trồng thủy sản:

Toàn tỉnh có 1 835 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản, trong đó 303 hồ có 1.100,6 ha mặt nước, còn lại là diện tích của các ao gia đình. Việc sử dụng mặt nước nuôi trông thủy sản đã có hiệu quả hơn ngoài những mặt nước chuyên nuôi trồng thủy sản có mô hình nuôi cá ruộng (đang canh tác lúa) .

d/ Cấp nước sạch nông thôn:

Tính đến cuối năm 2005 tỉnh Tuyên Quang có trên 440.600 người sử dụng nước sạch; 3.147 công trình cấp nước sạch; tỷ lệ dân số được hưởng nước sạch chiếm 60,1%; Ngoài ra nước sạch còn cung cấp cho phát triển chăn nuôi với gần 160.000 con trâu, bò và gần 300.000 con gia súc khác.

e/ Cấp nước cho các ngành kinh tế xã hội khác:

Cùng với sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi các khu công nghiệp chế biến hàng hóa từ các sản phẩm nông nghiệp trong các năm tới các nhà máy đang hình thành trong các khu công nghiệp cũng cần sử dụng một lượng nước trong lưu vực.

 II. TÌNH HÌNH THIÊN TAI VÀ CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC THIÊN TAI:

1. Tình hình thiên tai.

Trên địa bàn lưu vực sông thuộc tỉnh Tuyên quang thường có 4 loại hình thiên tai xảy ra là: hạn hán, mưa đá kèm gió lốc và sét, lũ quét và lũ lụt trên sông Lô và sông Gâm.

a/ Về hạn hán:

Hạn hán thường xảy ra từ tháng 9 năm trước đến tháng 3 năm sau, mức độ khác nhau, những đợt hạn nặng đáng kể thường xảy ra trong vụ đông xuân. từ 1 000 đến 3 000 ha. Diện tích hạn hán cao nhất là vụ đông xuân 1991- 1992 có 3 000/15 000 ha lúa bị hạn (Chiếm 20%), toàn bộ các loại cây trồng khác bị hạn nặng do thiếu nước (70 ¸ 80% ).

b/ Về mưa đá, gió xoáy, sét:

            Mưa đá, gió xoáy thường xảy ra trong các tháng 3,4,5 hàng năm. Trọng điểm là các xã vùng cao của huyện huyện Na Hang, huyện Chiêm Hoá và một số xã vùng thấp của huyện Sơn Dương. Năm 2005 hiện tượng mưa kèm gió xoáy đã xảy ra ở các huyện Sơn Dương, Hàm Yên, Chiêm Hóa và Na Hang. Hậu quả đã làm 1 người chết, 2 người bị thương nhẹ, nhiều ngôi nhà bị sập đổ, hơn 200 ha hoa màu bị hư hại;

c/ Lũ quét:

 Lũ quét xảy ra trên các sườn dốc và các suối do mưa lớn lũ đột xuất lên nhanh gây thiệt hại sạt lở đất ở, đất canh tác ảnh hưởng làm chết và bị thương người, cuốn trôi nhà cửa, vùi lấp đất canh tác phá hỏng các công trình thuỷ lợi, giao thông ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt và sản xuất của nhân dân. thống kê 15 năm tỉnh Tuyên Quang có 11 trận lũ quét đáng kể làm chết 06 người, bị thương 2 người, cuốn trôi 14 nhà, vùi lấp 118 ha ruộng canh tác, mất trắng 1.406 ha lúa, màu. Phá hỏng 17 đập thuỷ lợi kiên cố, bán kiên cố, 191 công trình thuỷ lợi tạm. 62,5 km kênh đã kiên cố. Sạt lở trên 14 000 m đường giao thông.

Trong đó đặc biệt là trận lũ trên sông Phó Đáy tháng 7 năm 2001 gây ra thiệt hại lớn cho nhân dân huyện Sơn Dương. Cả thị trấn Sơn Dương bị chìm ngập trong nước từ 1 đến 4 m, hàng nghìn ha lúa và hoa mầu, khu dân cư bị nước lũ tràn qua. Hệ thống thông tin liên lạc bị tắc nghẽn.

d/ Lũ, lụt sông Lô, sông Gâm:

Lũ xuất hiện chủ yếu do mưa ở thượng nguồn vùng tỉnh Hà Giang và ở Trung Quốc và những trận mưa lớn tại tâm mưa Bắc Quang gây ngập lụt; ở các xã, phường, thị trấn vùng ven sông và hạ nguồn các suối nhỏ, đặc biệt là Thị xã Tuyên Quang huyện Yên Sơn và vùng hạ huyện Sơn Dương. Lũ sông Lô- sông Gâm xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm. Mỗi năm có từ 2 đến 3 trận lũ xuất hiện. lũ lên nhanh. cá biệt có năm tới 5 hoặc 6 trận lũ trong năm. Lũ lớn nhất năm thường tập trung vào các tháng 7 và 8. Theo số liệu thống kê từ năm 1990 đến 2005 Sông lô - Gâm có 25 trận lũ tại Thị xã Tuyên Quang đỉnh lũ ở trên mức 25,60m. Mức lũ lịch sử xẩy ra năm 1971 là: 31,35m, mức lũ cao nhất năm 2004 là: 25,94m.

Năm 2005 ở Tuyên Quang gần như không có lũ, trong năm có 1 trận lũ trên sông Lô mực nước ở thị xã Tuyên Quang đạt mức 23.78 m. Các trận lũ có đỉnh lũ cao nhất tại thị xã Tuyên Quang từ 22,00m trở lên đều gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp và làm ảnh hưởng tới sinh hoạt đời sống sinh hoạt của nhân dân trong vùng. Sau mỗi trận lũ đường xá giao thông bị hư hỏng. Tình hình sản xuất Nông nghiệp bị đình trệ thông thường 10- 15 ngày do phải khắc phục hậu quả của trận lũ.

Năm 2005 ảnh hưởng của cơn bão số 7 mưa lũ đã làm nước dâng trên một số sông suối nhỏ trên địa bàn huyện Sơn Dương gây ngập lụt hoa màu và ảnh hưởng tới đời sống của nhân dân. Trong đó có 28 ngôi nhà bị hư hại; sạt lở 876,5 m3 đất đá đường giao thông; 178,1 ha hoa màu bị ảnh hưởng; nhiều tuyến đường dây điện và truyền thanh bị đứt.

2. Biện pháp khắc phục.

Công tác phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai của tỉnh luôn được chú trọng. Ban chỉ huy Phòng chống lụt bão GNTT của các ngành, các cấp đều được củng cố và kiện toàn sớm; xây dựng các phương án Phòng chống lụt bão GNTT, đồng thời tăng cường kiểm tra, đôn đốc, hoạt động của các Ban chỉ huy PCLB GNTT các cấp.

Tiến hành rà soát xây dựng phương án di dời, di dời dân cư tại những vùng có nguy tai biến cao của thiên tai (sạt lở đất, lũ lụt, thiên tai khác) tới định cư tại nơi an toàn. Theo số liệu điều tra tổng số hộ dân tại vùng có nguy cơ ảnh hưởng của thiên tai là 2 636 hộ với 11 750 nhân khẩu, trong đó đã thực hiện di chuyển tính đến năm 2005 là 1 251 hộ với 5 646 nhân khẩu; kế hoạch di chuyển tiếp từ 2006 đến 2010 là 971 hộ với 4 334 nhân khẩu. số hộ cần ưu tiên di chuyển tiếp là 964 hộ với 4 297 nhân khẩu.

III. CÁC VẤN ĐỀ PHÁT SINH, TỒN TẠI TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH:

1. Các vấn đề phát sinh: Những năm gần đây, tỉnh đã coi trọng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đầu tư sản xuất đã gắn liền với chế biến tiêu thụ. Các khu vực chăn nuôi đại gia súc - nuôi bò sữa, thịt - hình thành vì vậy việc đảm bảo cung cấp nước cho chuồng trại cấp nước tưới cho cây trồng vật nuôi trong giai đoạn tới là rất lớn.

Các khu công nghiệp; những cơ sở chế biến hàng hóa từ các sản phẩm nông nghiệp đã và đang được hình thành. Việc sử dụng tới lượng nước trong lưu vực sẽ tăng và sẽ ảnh hưởng tới môi trường nước, môi trường đất nếu không được chú ý đầu tư nghiên cứu xử lý tốt

2. Những khó khăn, tồn tại:

Nhu cầu sử dụng nước phục vụ sản xuất và dân sinh ngày càng nhiều, nhưng nguồn nước của các công trình cấp nước chỉ có hạn. Các công trình thuỷ lợi thiết kế xây dựng từ lâu nhiều chỉ tiêu tính toán chưa bền vững, nên nhu cầu cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới còn nhiều.

Việc quản lý sử dụng và bảo vệ công trình ở nhiều cơ sở còn yếu, làm hạn chế đến việc khai thác hiệu quả công trình.

Chưa thực hiện điều tra đánh giá về số lượng, chất lượng nguồn nước và vệ sinh môi trường của nguồn nước mặt. Mức độ đảm bảo, khả năng khai thác của các giếng khoan thăm dò để có cơ sở chắc chắn quy hoạch, lập kế hoạch khai thác phục vụ cho cây trồng, vật nuôi, đồng thời hạn chế các tác động xấu của nước bị ô nhiễm làm ảnh hưởng tới sức khoẻ con người và độ bền vững các kết cấu công trình hạ tầng cơ sở.

Nước thải công nghiệp, bệnh viện. tuy đã được quan tâm xử lý vệ sinh môi trường, nhưng hệ thống tiêu, thoát nước ở các thị xã, thị trấn, thị tứ, còn thiếu đồng bộ, chưa được xử lý triệt để trước khi thải ra sông, khả năng thoát nước chậm chưa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.

Mưa lũ hàng năm hay gây ra xói mòn, bạc màu đất, sạt lở núi làm tắc đường giao thông, đổ nhà, Lũ quét, lũ ống còn làm cho sông suối đổi dòng sạt lở bờ, chia cắt ruộng, đất, mất đất canh tác. Lũ sông còn làm ngập úng xã, phường, thị trấn ven sông gây hư hỏng nhà cửa, trường học, bệnh xá, đường giao thông, đường điện, hệ thống cấp nước, hệ thống công trình thuỷ lợi, làm đảo lộn cuộc sống bình thường của nhân dân, ngừng trệ sản xuất, gây ô nhiễm môi trường.

Việc xây dựng công trình thuỷ điện Tuyên Quang trên sông Gâm tuy đem lại lợi ích về điện năng, phòng lũ nhưng phải di chuyển trên 4.000 hộ, trên 20.000 dân, làm ngập 106 km2, trong đó có nhiều cơ sở hạ tầng về giao thông, bưu điện, điện lực, công trình thuỷ lợi, y tế, trường học, trang trại, vườn rừng... Sau khi công trình hoàn thành đưa vào sử dụng, ở các xã, thị trấn nằm dưới hạ lưu công trình do chế độ dòng chảy của sông bị thay đổi sẽ không tránh khỏi bị sói lở bờ bãi ven sông cần được nghiên cứu và có giải pháp công trình để khắc phục.

Do diễn biến thời tiết ngày càng phức tạp, chưa lường hết được. Mặt khác tài nguyên nước của tỉnh Tuyên Quang chỉ là một phần trong toàn bộ tài nguyên nước của lưu vực sông Hồng có liên quan tới nhiều tỉnh trong và ngoài nước, nhưng hệ thống thông tin liên lạc và điều hành giữa các vùng còn thiếu phương tiện, thiết bị, công nghệ hiện đại để phối hợp phòng chống thiên tai trong Tỉnh và cả lưu vực sông Hồng.

V. NHỮNG ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ:

Để làm tốt việc quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh nói riêng và cả lưu vực sông Hồng nói chung xin đề xuất thực hiện các biện pháp sau:

Tập trung quan tâm đến công tác quản lý, khai thác, bảo vệ nguồn tài nguyên nước trên địa bàn. Tăng cường công tác quản lý bảo vệ hệ thống công trình thuỷ lợi, công trình cấp nước phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh.

Tiếp tục đầu tư cải tạo nâng cấp và xây dựng các công trình thuỷ lợi để đảm bảo nước tưới, tiêu úng, cấp nước sạch nông thôn, nuôi trồng thuỷ sản và chăn nuôi. Nâng cấp các tuyến đê phòng lũ; có giải pháp kè chống sạt lở bờ sông đảm bảo cho các công trình hoạt động an toàn, bền vững trong mùa mưa lũ.

Tiến hành điều tra, thăm dò nguồn nước ngầm để có cơ sở khai thác sử dụng hợp lý, xác định chất lượng nước sử dụng. Xử lý triệt để nước thải đổ trực tiếp ra sông, nâng cao khả năng tiêu, thoát nước thành thị, quản lý chặt chẽ việc khai thác cát, sỏi lòng sông, các công trình xây dựng làm thu hẹp lòng sông…

Tiếp tục trồng rừng, bảo vệ rừng đặc dung, rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn các công trình thuỷ lợi.

Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, ngành về quy hoạch xây dựng, quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên nước đảm bảo theo đúng luật Tài nguyên nước và pháp lệnh của nhà nước đã ban hành. Đầu tư trang thiết bị, trong công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi và dự báo Khí tượng thuỷ văn, đối phó kịp thời với các diễn biến thời tiết phức tạp ngày càng tăng.

Cần có sự phối hợp giữa các tỉnh trong lưu vực sông Hồng về chỉ đạo, điều hành, cung cấp thông tin về quản lý khai thác và bảo vệ tài nguyên nước giữa các vùng liên quan.

Sớm nghiên cứu tác động của công trình thuỷ điện Tuyên Quang ở hạ lưu công trình có sự trợ giúp về nghiên cứu quy hoạch, biện pháp kỹ thuật, lập dự án, thực hiện việc đầu tư xây dựng công trình để khắc phục được các bất lợi của công trình thuỷ điện Tuyên Quang gây ra./.

 

 Nguyễn Thị Định

Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT Tuyên Quang

 

 
CÁC TIN KHÁC
  CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG LƯU VỰC SÔNG CẦU
  TÌNH HÌNH THIÊN TAI NĂM 2005 VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC CỦA TỈNH QUẢNG NINH
  ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ TRONG NĂM 2005
  KẾT QUẢ CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH TRONG NĂM 2005:
  KẾT QUẢ CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT NĂM 2005 TỈNH NAM ĐỊNH

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn