I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH THỦY SẢN TRONG LƯU VỰC SÔNG HỒNG - THÁI BÌNH
 

      Lưu vực sông Hồng-Thái Bình đóng vai trò quan trọng đối với vùng lãnh thổ phía bắc nước ta, đặc biệt đối với vùng đồng bằng sông Hồng. Với lợi thế về mặt địa lí, đồng bằng sông Hồng hội tụ khá đầy đủ các điều kiện phát triển theo hướng đa ngành, đa mục tiêu. Đây là một trong hai châu thổ lớn của đất nước với 11 đơn vị hành chính cấp tỉnh, trong đó có Thủ đô Hà Nội. Tổng diện tích đất đai toàn vùng châu thổ khoảng 1,5 triệu ha, dân số khoảng 18 triệu người (chiếm 25% dân số cả nước) và là vùng có mật độ dân số đông nhất cả nước (hơn 1000 người/km2).

Vùng lãnh thổ thuộc lưu vực sông hồng-Thái Bình giầu đất ngập nước (ĐNN) với nhiều kiểu loại khác nhau, trong đó ưu thế là nhóm ĐNN châu thổ và hồ chứa. Đây là cơ sở tài nguyên thiên nhiên quan trọng đối với phát triển các ngành kinh tế, trong đó có thuỷ sản. Tuy nhiên, trong suốt lịch sử phát triển, vùng này vẫn là trung tâm của nền văn minh nông nghiệp, mà yếu tố chính là văn minh trồng lúa nước. Thuỷ sản chỉ phát triển ở vùng cửa sông ven biển, ở các thuỷ vực đồng bằng và rải rác ở miền núi, nhưng chưa phát triển theo hướng thương mại, mà mang dáng dấp tự cung tự cấp. Chính sách mở cửa và phát triển kinh tế định hướng thị trường trong thời gian qua đã làm thay đổi cơ bản tư duy và hành động của các ngành kinh tế trong khu vực, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản. Đây là hai ngành kinh tế gắn rất chặt với sự nghiệp phát triển nông thôn và xóa đói giảm nghèo cho các cộng đồng dân cư trong vùng. Các ngành kinh tế trong vùng đã chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng hàng hóa, coi trọng giá trị hơn sản lượng. Chính vì vậy, tiềm năng của vùng được “đánh thức”, và đồng bằng sông Hồng đã trở thành một vùng kinh tế động lực, phát huy vai trò ảnh hưởng rộng ra cả nước. Trong đố không thể không nhắc đến Nghị quyết 09CP-NQ của Chính phủ ngày 15 tháng 06 năm 2000 về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, cho phép chuyển đổi một số diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang loại hình sản xuất khác có hiệu quả cao hơn, đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của nuôi trồng thuỷ sản. Thực tế chuyển đổi cơ cấu trong 5 năm qua đã khảng định một thực tế là: các ngành kinh tế trong vùng đều phát triển theo hướng hàng hoá, tốc độ tăng trưởng nhanh trong khi vẫn bảo đảm an toàn lương thực.

Bài viết này chỉ giới thiệu một số hoạt động phát triển thuỷ sản trong vùng đồng bằng sông Hồng, công tác qui hoạch của ngành thuỷ sản trong vùng và một số nhu cầu liên quan đến tài nguyên nước trong lưu vực.

1.         Tiềm năng phát triển thủy sản ruộng trũng vùng đồng bằng sông Hồng       

Trong vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), diện tích đất úng trũng khoảng trên 200.000 ha, chiếm khoảng 37% diện tích đất cấy lúa mùa. Trong đó có khoảng 79.450 ha là các khu ruộng trũng có tiềm năng nuôi trồng thuỷ sản, chiếm khoảng 38% tổng diện tích đất úng trũng trong vùng. Trong tổng diện tích tiềm năng ruộng trũng đối với nuôi trồng thuỷ sản nói trên có khoảng 61.000 ha có khả năng nuôi trồng thủy sản.

Các tỉnh có nhiều diện tích ruộng trũng có khả năng chuyển sang nuôi trồng thủy sản là: Hà Tây (10.560ha), Thái Bình (7.000ha), Hưng Yên (6.450ha), Vĩnh Phúc (6.300ha), Nam Định (5.600ha), Ninh Bình (5.500ha), Bắc Ninh (5000ha), Hải Phòng (4.875ha), Hà Nam (4.000ha), Hải Dương (3000ha) và Hà Nội (2.776ha).

Thực tế chuyển đổi các khu ruộng kém hiệu quả và tận dụng các khu ruộng trũng sang nuôi thuỷ sản cho thấy đại đa số (80%) hộ nông dân ủng hộ việc chuyển đổi do hiệu quả kinh tế đích thực của nuôi thuỷ sản (bảng 1).

Bảng 1:  Kết quả điều tra thu nhập của các hộ nông dân vùng ĐBSH

                                                             Đơn vị: triệu đồng/người/tháng

Loại hình sản xuất

Tổng thu nhập

Từ nuôi thuỷ sản

Từ trồng lúa

Vừa nuôi thuỷ sản vừa trồng lúa

0,62

0,52

0,10

Chỉ trồng lúa

0,04

0,00

0,04

Ngoài hiệu quả kinh tế, người dân đều nhận thấy phát triển nuôi trồng thuỷ sản sẽ giúp cải thiện sinh kế cho gia đình họ và bảo đảm ổn định cuộc sống lâu dài. Số ít cho rằng nuôi thuỷ san mặc dù hiệu quả kinh tế thấy rõ nhưng chưa phải là kế sinh nhai lâu dài vì “tính rủi ro” của hoạt động này cả về mặt thị trường lẫn môi trường: thiếu hệ thống cấp và tiêu thoát nước thải, các đối tượng nuôi vẫn mang tính truyền thống, chưa có đối tượng chủ lực cho xuất khẩu, thiếu vốn...Đây chính là những cảnh báo dù của thiểu số nhưng lại có y nghĩa quan trọng cho nhà qui hoạch và hoạch định chính sách.

Ngoài các khu ruộng trũng, phần còn lại của ĐBSH và lưu vực thuộc các tỉnh miền núi còn nhiều tiềm năng cho thuỷ sản nhưng chưa được khai thác, như: sông, suối, ao đầm, hồ, hồ chứa,...Trong khi nhu cầu sử dụng sản phẩm thuỷ sản nội vùng sẽ khá lớn và ngày càng tăng do phát triển nhanh các khu công nghiệp và đô thị lớn trong vùng, các khu du lịch và vui chơi giải trí; do mức sống của người dân tăng lên; do thay đổi thói quen sử dụng thực phẩm từ thịt sang sản phẩm thủy sản; đặc biệt do nằm gần các thị trường có nhu cầu thuỷ sản cao như Trung Quốc, Hồng Kông, Ma Cao, Lào, Đài Loan, Nhật Bản...

2.         Tình hình phát triển thuỷ sản vùng ĐBSH

Có thể nói thời gian qua hoạt động thuỷ sản trên lưu vực sông Hồng-Thái Bình diễn ra chủ yếu ở vùng ĐBSH và vùng cửa sông ven biển (nước lợ), các hoạt động tương tự ở miền núi rất ít mặc dù thủy sản dưới mọi hình thức vẫn là một “nghề từ lâu đời” của số ít hộ nông dân, gắn liền với nghề nông. Mục đích chính vẫn là để tự cải thiện bữa ăn hàng ngày cho gia đình và thị trường tại chỗ (xóm thôn, thôn bản...). Tuy nhiên, giá trị sản xuất nông-lâm-ngư trong vùng ĐBSH vẫn tăng nhanh, thí dụ từ  13.400 tỷ đồng năm 1990 lên 24.000 tỷ đồng năm 2001, chiếm khoảng 24% giá trị nông nghiệp toàn quốc. Những năm gần đây, xu hướng này đã diễn ra với tốc độ cao hơn và nhanh hơn.

Mức thu nhập của người dân từ nông thuỷ sản ở vùng ĐBSH đạt mức trung bình so với các vùng khác của cả nước. Thống kê chỉ ra rằng thu nhập bình quân theo đầu người ở vùng này thời kỳ 2001-2002 khoảng 353.000 đồng/tháng, cao hơn bình quân cả nước (324.000 đ/tháng). Song đóng góp từ nông-lâm-thuỷ sản cho tổng thu nhập của hộ gia đình (25%) thì tương đối thấp so với các vùng khác và cả nước (hình 1).

Về mặt lịch sử, nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt vùng này phát triển cùng với hoạt động sản xuất nông nghiệp từ lâu đời. Năm 1990, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt vào khoảng 51.440 ha trong các loại hình thuỷ vực khác nhau như ao đầm, hồ chứa và đồng lúa. Tổng sản lượng nuôi đạt 38.350 tấn. Đến năm 2003, tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản vùng ĐBSH khoảng 66.900 ha, bao gồm nuôi đồng lúa, ao hồ nhỏ, kênh thuỷ lợi, hồ chứa và thùng đấu. Diện tích nuôi trồng này tập trung vào 5 tỉnh là: Nam Định, Hải Dương, Hà Tây, Thái Bình và Vĩnh Phúc (bảng 2). Tổng sản lượng nuôi nước ngọt năm 2003 khoảng 124.250 tấn, đứng đầu là Hải Dương với tổng sản lượng 15.500 tấn, Nam Định-10.950 tấn, Bắc Ninh-9.200 tấn.

Hình 1: Thu nhập bình quân đầu người trên giai đoạn 2001-02

           Năng suất nuôi cá ruộng trũng bình quân theo phương thức xen canh lúa-cá là 0,2-0,3 tấn/ha/năm; luân canh lúa-thuỷ sản là 0,6-1,2 tấn/ha/năm và nuôi chuyên canh là 3,6 tấn/ha/năm. Năng suất bình quân nuôi thuỷ sản trên khu ruộng trũng toàn vùng theo các phương thức là 2,67tấn/ha/năm.

Riêng tổng sản lượng nuôi thuỷ sản nước lợ ven biển vùng ĐBSH là trên 37.000 tấn, tập trung chủ yếu ở Hải Phòng và Quảng Ninh, gần đây thêm Nam Định. Trong đó tôm nước lợ là 7.200 tấn, nhuyễn thể-14.000 tấn, cua ghẹ-2.100 ha và rong câu đạt 13.700 tấn rong mặn. Năng xuất nuôi nước lợ bình quân chung cho toàn vùng khoảng 1,64 tấn /ha.

Bảng 2: Diện tích nuôi thuỷ sản nước ngọt vùng ĐBSH

                      ĐV: 1.000 ha

TT

Tỉnh

1986

1995

2000

2001

2002

2003

1

Hà Nội

6.1

2.6

3.4

3.4

3.5

3.2

2

Hải Phòng

4.5

10.5

11.5

6.9

3.7

5.1

3

Vĩnh Phúc

9

1.9

3.6

3.9

5.7

4.4

4

Hà Tây

́

8.1

7.2

7.4

7.1

12.6

5

Bắc Ninh

7.1

2.9

2.5

2.7

3.8

4.5

6

Hải Dương

7.5

2.8

6.7

7.3

7.1

8.1

7

Hưng Yên

́

2

3.1

3.6

3.8

3.8

8

Hà Nam

́

3.8

3.9

3.7

4.3

5

9

Nam Định

́

9.5

5.7

8.2

8.2

7.3

10

Thái Bình

3

1.8

8.5

7

6.2

6.2

11

Ninh Bình

9

3.6

1.4

3.9

3.1

4.8

́

Tổng số

46.2

49.5

57.5

58

56.5

65.0

 

Về chuyển đổi ruộng xấu, trũng sang nuôi thủy sản ở vùng ĐBSH cũng tăng nhanh: năm 2001 chuyển đổi được khoảng 2.000ha, năm 2002-3.640ha, và năm 2003-5000ha. Như vậy, tổng diện tích trồng lúa/nông nghiệp kém hiệu quả đưa sang nuôi trồng thủy sản đến năm 2003 đạt 10.650ha (chiếm 17% tổng diện tích có khả năng nuôi thuỷ sản của vùng), trong đó: Hải Dương-1.860 ha, Vĩnh Phúc-1.560ha, Hà Tây-1.130 ha, Bắc Ninh-1.100ha, Thái Bình-884ha, Hà Nội-870ha, Ninh Bình-750ha, Hưng Yên-665ha, Hải Phòng-380ha, và Nam Định-380ha. Trên diện tích chuyển đổi ở vùng ven biển chủ yếu để nuôi tôm sú, nuôi cua, vài nơi thử nuôi tôm he chân trắng; còn trong nội đồngchủ yếu chuyển sang nuôi cá rôphi, nuôi kiểu VAC với những loài truyền thống, nuôi cá xen canh với lúa...Đến năm 2004, tình hình chuyển đổi rất mạnh, cả vùng ven biển và nội đồng, hiệu quả kinh tế so với trồng lúa cao hơn rõ rệt (3 lần trong nội đồng và 5 lần ở ven biển). Tuy nhiên, đến năm 2005 tốc độ chuyển đổi chững lại do dịch bệnh, môi trường nuôi không thuận, đôi khi cả do thời tiết nắng nóng kéo dài...

Hệ thống ao nuôi đơn giản, đật đắp lấy tại chỗ trong quá trình đào ao, nền đất yếu làm thất thoát nước trong ao nuôi trong mùa khô và thường bị ngập lũ hoặc vỡ bờ bao. Diện tích mặt nước cho các hình thức nuôi khác nhau, như: đối với nuôi xen lúa-cá thì tỷ lệ diện tích đất cho nuôi trồng (các mương rãnh/mặt nước thoáng) là 10-20% tổng diện tích vùng khoanh bờ, phần còn lại để cấy lúa. Độ sâu các ao nuôi trên các khu ruộng trũng dao động bình quân là 1,2-0,7m, còn mực nước trong ao thường duy trì 0.7-1m. Trong khi nuôi ruộng thì độ sâu mặt nước chỉ khoảng 0,4-0,06m. Trong quá trình nuôi, người dân ít chú y đến cải tạo ao đầm, gây mầu nước, chủ yếu “tận dụng” sự hào phóng vốn có của tự nhiên trong hệ thống ao đầm.

Do đất chật người đông, nên trong vùng ĐBSH mỗi khẩu được giao khoán diện tích đất canh tác bình quân 1-2 sào bắc bộ và khoảng 5-10 sào/hộ. Nếu chuyển đổi sang nuôi thủy sản thì không thể đến 50% diện tích trên, trong khi có gia đình không muốn chuyển đổi. Điều này dẫn đến tình trạng qui mô các vùng nuôi còn nhỏ lẻ, phân tán do bình quân đất cho nuôi trồng so với đất nông nghiệp rất ít so với vùng đồng bằng sông Cửu Long. Cho nên, các hộ dân đã phải tiến hành “dồn điền đổi thửa” cho nhau để tạo ra các vùng nuôi tập trung (diện tích dao động 2-5ha), nhưng chưa đầu tư cho hệ thống cấp nước cho nuôi và thoát nước thải từ nuôi trồng. Hiện nay, các địa phương thường tận dụng hệ thống thuỷ nông để phục vụ nuôi thủy sản, chú trọng đầu tư thuỷ lợi cho thuỷ sản đúng mức để giảm thiểu các rủi ro về môi trường và kéo dài “tuổi thọ” của ao đầm nuôi, trong khi đây lại là các vùng úng trũng. 

3.         Một vài đề xuất liên quan tới quản lý qui hoạch lưu vực

Trong thời gian tới, ngành Thuỷ sản chủ trương:

-            Khai thác tiềm năng phát triển thủy sản của vùng ĐBSH, đặc biệt là các tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc; phát triển nuôi trồng thuỷ sản trong các khu ruộng trũng và tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu lúa-thuỷ sản theo hướng hình thành các vùng nuôi thuỷ sản hàng hoá tập trung.

-            Khai thác thuỷ sản trong các sông hồ tự nhiên, triển khai các hình thức nuôi thuỷ sản lồng bè với mật độ nuôi thích hợp với năng lực tải của môi trường.

-            Phát triển thủy sản trong các hồ chứa, các khu vực sông suối thuận lợi ở miền núi theo cơ chế phối hợp liên ngành trong khâu quản lí để bảo đảm chất lượng môi trường nuôi, đặc biệt môi trường các hồ chứa. Phát triển thủy sản hồ chứa kết hợp với phát triển du lịch sinh thái trong các khu vực này (nuôi trồng, đánh bắt, câu cá giải trí...).

Đến năm 2010, ngành Thuỷ sản dự kiến đưa 30.000ha ruộng trũng vùng ĐBSH vào nuôi thủy sản, trong đó có 2.400ha nuôi nước lợ và 27.600ha nuôi nước ngọt. Tổng sản lượng nuôi dự kiến là 77.260 tấn (nước lợ 4.620 tấn nuôi nước lợ và 72.640 tấn nuôi nước ngọt. Giá trị kim ngạch xuất khẩu là 46 triệu USD, giá trị sản xuất khoảng 1.300 tỷ đồng.

Để thực hiện qui hoạch thủy sản các khu ruộng trũng tập trung, vai trò thuỷ lợi rất quan trọng. Đối với toàn lưu vực, đề nghị thủy lợi tận dụng các kênh tự nhiên như sông suối, và các nhánh nối với hệ thống thủy nông. Yêu cầu đối với thủy lợi trong nuôi trồng thủy sản là tập trung sử lí các vùng nuôi thủy sản tập trung, chú trọng đầu tiên là tách hệ thống cấp thoát nước vào ra đầm nuôi, cũng như hệ thống xử lí nước thải từ hoạt động nuôi trồng.

Các tỉnh trong lưu vực cũng đang xúc tiến qui hoạch/rà soát qui hoạch phát triển thủy sản ở địa phương. Họ đều mong muốn  có được qui hoạch sử dụng hợp lí tài nguyên nước và các thủy vực liên quan đến thủy sản với tư cách là những “thông tin đầu vào” cho các qui hoạch của tỉnh.

Cuối cùng, trên cơ sở qui hoạch tổng hợp tài nguyên nước lưu vực, sẽ tiến hành qui hoạch tổng thể hệ thống “thuỷ ngư” cấp vùng để giúp ngành thủy sản qui hoạch phát triển thuỷ sản lưu vực sông Hồng-Thái Bình đến năm 2020. Rõ ràng, Ban quản lí qui hoạch lưu vực sông đóng vai trò điều phối và tư vấn hết sức quan trọng để đạt tới phát triển liên ngành và tổng hợp trong phạm vi lưu vực.  

 

PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi,

Viện trưởng Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản Bộ Thuỷ sản

 

                 

 

 

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn