I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
QUY HOẠCH PHÒNG CHỐNG LŨ CHI TIẾT CỦA TỪNG TUYẾN SÔNG CÓ ĐÊ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020
 

Viện Quy hoạch thuỷ lợi là đơn vị tư vấn được giao lập dự án từ tháng 10/2007. Ngày 10/12/2009 UBND thành phố Hà Nội đã báo cáo trước HĐND và biểu quyết thông qua “Quy hoạch phòng, chống lũ chi tiết của từng tuyến sông có đê trên địa bàn thành phố Hà Nội mở rộng đến năm 2020”. Nghiên cứu gồm các nội dung chính như sau:

I.    Phạm vi nghiên cứu

Vùng nghiên cứu là toàn bộ diện tích thành phố Hà Nội có diện tích tự nhiên 334.470 ha và dân số hiện tại là 6.232.940 người, bao gồm địa giới hành chính của 29 quận, huyện, thị là Hoàn Kiếm, Đống Đa, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Tây Hồ, Cầu Giấy, Hoàng Mai, Long Biên, Thanh Xuân, Hà Đông, Đông Anh, Từ Liêm, Sóc Sơn, Gia Lâm, Thanh Trì, Ba Vì, Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa, Mê Linh và Sơn Tây.

Các tuyến sông có đê trên địa bàn thành phố Hà Nội được nghiên cứu trong quy hoạch gồm sông Đà, sông Hồng, sông Đuống, sông Cầu, sông Cà Lồ, sông Tích, sông Bùi, sông Đáy và sông Mỹ Hà.

II. Mục tiêu và nhiệm vụ của quy hoạch

1. Xác định lưu lượng, mực nước lũ thiết kế tại các điểm chuẩn của từng tuyến sông có đê trên địa bàn thành phố Hà Nội, đảm bảo tiêu chuẩn phòng chống lũ của hệ thống sông Hồng, bảo vệ an toàn cho Thủ đô Hà Nội.

2. Xác định chỉ giới thoát lũ đối với từng tuyến sông có đê; xác định các giải pháp kỹ thuật của quy hoạch phòng chống lũ; đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch theo thứ tự ưu tiên của từng giai đoạn.

3. Đánh giá khả năng phân lũ từ sông Đà vào sông Tích qua Lương Phú, hiệu quả khu chậm lũ Quảng Oai. Đánh giá khả năng phân lũ của hệ thống công trình phân lũ sông Đáy và đưa ra các giải pháp phòng chống lũ khi có phân lũ từ sông Hồng vào sông Đáy.

4. Nghiên cứu của quy hoạch là cơ sở để lập quy hoạch đê điều, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và các quy hoạch khác liên quan của các ngành, các địa phương trên địa bàn thành phố Hà Nội.

III. Kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu đã xác định được một số mục tiêu sau:

1.         Mức bảo đảm phòng, chống lũ cho các tuyến sông có đê

- Sông Hồng: Giai đoạn 2007-2010 mức đảm bảo chống lũ có lưu lượng tần suất 0,4% tại Sơn Tây trên sông Hồng và 0,67% trên sông Đuống.

- Sông Hồng: Giai đoạn 2011-2015 mức đảm bảo chống lũ có lưu lượng tần suất 0,2% tại Sơn Tây trên sông Hồng và 0,33% trên sông Đuống.

- Sông Cầu mức đảm bảo phòng chống lũ 1%.

- Sông Cà Lồ mức đảm bảo phòng chống lũ 2%.

- Sông Tích, sông Bùi mức đảm bảo phòng chống lũ 2%.

- Sông Mỹ Hà mức đảm bảo phòng chống lũ 5%.

- Sông Đáy đảm bảo phân lũ với lưu lượng max 2.000 m3/s.

2.         Lũ thiết kế của tuyến sông có đê cho từng giai đoạn quy hoạch

Trên cơ sở mức đảm bảo phòng chống lũ các tuyến sông đã nêu (tần suất phòng, chống lũ có tính đến các biện pháp công trình phòng lũ như hồ chứa, phân chậm lũ, đê, thoát lũ của hệ thống sông theo quy hoạch phòng lũ) đã tính toán mô hình thuỷ lực toàn hệ thống sông với sự tham gia của các hồ điều tiết lũ cho hạ du. Kết quả về mực nước, lưu lượng lũ thiết kế cho tuyến đê như sau:

TT

Tên sông

Vị trí

Mực nước

(m)

Lưu lượng

 (m3/s)

1

Sông Đà

Khánh Thượng

21,09

15.319

Lương Phú

20,24

15.467

Trung Hà

18,82

15.475

2

Sông Hồng

Sơn Tây

16,00

27.978

Liên Mạc

14,25

27.635

Hà Nội

13,40

20.300

Quang Lãng

9,08

20.748

3

Sông Đuống

Thượng Cát

12,64

6.863

Cầu Phù Đổng

12,11

7.372

4

Sông Cà Lồ

Mạnh Tân

9,69

892

Lương Phúc

9,41

928

5

Sông Cầu

Kè Tân Hưng

9,60

1.937

Ngã ba Cầu- Cà Lồ

9,41

1.962

6

sông Đáy

Đập Đáy

9,96

2.043

Mai Lĩnh

8,48

2.096

Ba Thá

6,83

2.340

7

Sông Tích

Vật Lại

12,55

427

Văn Miếu

11,33

448

9

Sông Bùi

Tân Trượng

9,33

580

Yên Duyệt

8,38

576

10

Sông Mỹ Hà

Cầu Dậm

5,74

280

3.         Xác định tuyến thoát lũ sông đảm bảo chỉ tiêu thiết kế

Quy hoạch đã xác định tuyến thoát lũ (chỉ giới thoát lũ) sông đảm bảo chỉ tiêu thiết kế. Phần đất bãi nằm ngoài chỉ giới thoát lũ cho phép xây dựng, nhưng phải được sự thoả thuận của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền. Phần đất bãi từ chỉ giới thoát lũ ra đến mép sông là vùng nằm trong chỉ giới thoát lũ, trong chỉ giới thoát lũ sẽ là vùng chống lấn chiếm và dân cư phải di dời để đảm bảo khả năng thoát lũ. Giữa chỉ giới thoát lũ và chỉ giới xây dựng phải có vùng đệm là khoảng cách lưu không với hành lang cây xanh và giao thông ven sông bề rộng 50 m.

- Trong phạm vi dự án, thành phố Hà Nội có các sông chảy qua gồm sông Hồng (118 km), sông Đà (35 km), sông Đuống (22 km), sông Cầu (11 km), sông Cà Lồ (42 km), sông Đáy (80 km), sông Tích (69 km), sông Bùi (20 km)sông Mỹ Hà (12,7 km). Kết quả dự án đã đưa ra chỉ giới thoát lũ trên bản đồ tỷ lệ 1/50.000 và toạ độ các điểm chỉ giới theo hệ VN2000. Từ kết quả này có thể triển khai trên hiện trường sau khi Quy hoạch được thành phố phê duyệt.

- Bằng giải pháp cải tạo nạo vét hạ thấp bãi (để tăng diện tích thoát lũ) trên sông Hồng theo chỉ giới thoát lũ thì mực nước lũ tại trạm thủy văn Hà Nội là 13,27 m so với trường hợp không nạo vét bãi 13,7 m (hạ được 0,43 m) và thấp hơn mực nước thiết kế đê tại Hà Nội 13,4 m (giảm 0,13 m). Mực nước lũ lớn nhất tại Sơn Tây từ 16,0 m giảm còn 15,91 m (hạ được 0,09 m). Mực nước lũ lớn nhất tại trạm thuỷ văn Thượng Cát trên sông Đuống từ 13,04 m giảm còn 12,86 m (hạ được 0,18 m). Mực nước lũ lớn nhất tại Hưng Yên từ 8,84 m tăng lên 8,86 m (tăng 0,02 m), giá trị gia tăng này không đáng kể trong khi hạ mực nước lũ tại Hà Nội và Thượng Cát.

- Về khả năng thoát lũ sông Hồng sau quy hoạch, lưu lượng lớn nhất thoát qua Sơn Tây tăng thêm 49 m3/s, qua Hà Nội tăng thêm 380 m3/s, qua Hưng Yên tăng thêm 448 m3/s. Phân lũ sang sông Đuống giảm 243 m3/s, điều này rất có giá trị vì đã giảm áp lực lũ cho tuyến đê của hệ thống sông Thái Bình.

4.  Quan điểm quy hoạch chống lũ đối với lưu vực sông Đáy

a.         Công trình phân lũ sông Đáy

Hệ thống công trình phân lũ sông Đáy đã được xây dựng và đưa vào sử dụng hơn 70 năm qua. Nhiệm vụ của hệ thống là phân lũ sông Hồng vào sông Đáy để bảo vệ an toàn cho thủ đô Hà Nội khi mực nước lũ sông Hồng có khả năng vượt mức lũ 13,4 m. Hiện nay và trong tương lai khi thượng du có các hồ chứa cắt lũ (Hoà Bình, Thác Bà, Tuyên Quang và sau 2010 là Sơn La) với lũ thiết kế 250, 500 năm chúng ta vẫn có thể giữ mức nước Hà Nội dưới cao trình 13,4 m. Tuy nhiên do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, nền nhiệt độ, lượng mưa, nước biển dâng đều gia tăng theo kịch bản mà Bộ TNMT đã ban hành năm 2009. Việc phân lũ sông Đáy sẽ vẫn phải giữ làm “cầu chì” để phòng khi có sự cố công trình hồ chứa cắt lũ hoặc lũ vượt mức thiết kế.

Kiến nghị phương án phân lũ sông Hồng vào sông Đáy tối đa 2.000 m3/s. Với lũ 500 năm có hồ chứa cắt lũ + phân lũ vào sông Đáy sẽ giữ mực nước tại Hà Nội ở mức 13,1 m; với lũ 700 năm có hồ chứa cắt lũ + phân lũ vào sông Đáy sẽ giữ mực nước tại Hà Nội 13,4 m. Hệ thống công trình phân lũ sông Đáy sẽ được cải tạo lại, việc cải tạo và nạo vét sông Đáy vừa có tác dụng thoát lũ, chuyển nước về mùa kiệt khoảng 100 m3/s, cải tạo môi trường sinh thái ven sông, phục vụ giao thông đường thuỷ trong khu vực.

b.        Đối với lưu vực sông Tích, Bùi và sông Mỹ Hà

- Đối với sông Tích, sông Bùi và Mỹ Hà: Cải tạo nâng cấp hệ thống đê điều và phòng chống lũ để chống lũ nội tại với lưu lượng tần suất 2%.

- Bỏ phân lũ sông Đà qua Lương Phú vào sông Tích vì hiệu quả chống lũ thấp, lại gây thiệt hại dân sinh, kinh tế cho các vùng thuộc huyện Ba Vì, Sơn Tây, Thạch Thất. Mặt khác hiện nay và trong tương lai đến năm 2010 trên sông Đà có hồ Hoà Bình, Sơn La cắt lũ, điều đó sẽ giảm áp lực lũ trên sông Đà và việc phân lũ vào Lương Phú không cần thiết. Thay vào đó phía đầu Lương Phú sẽ xây dựng cống lấy nước mùa kiệt tiếp nước vào sông Tích với lưu lượng tối thiểu 40 m3/s, đủ đáp ứng yêu cầu cấp nước cho nông nghiệp, công nghiệp, khu dân cư tập trung và môi trường sinh thái.

- Bỏ các khu chậm lũ Vân Cốc, Chương Mỹ, Mỹ Đức và Quảng Oai. Bảo vệ diện tích bãi sông Đáy từ Đập Đáy đến Ba Thá bằng giải pháp lăn đê đã nêu ở trên. Với giải pháp này chúng ta sẽ bảo vệ được 36.547 ha đất tự nhiên của Chương Mỹ, Mỹ Đức. Tạo 10.800 ha quỹ đất cho việc phát triển đô thị vùng Vân Cốc và bãi sông Đáy kể từ hạ lưu Đập Đáy đến cầu Mai Lĩnh.

- Với lũ rừng ngang: Nâng cấp 2 hồ chứa Đồng Sương và Văn Sơn để gom lũ rừng ngang thuộc huyện Chương Mỹ. Xây dựng 2 tuyến kênh thoát lũ rừng ngang từ hạ lưu tràn xả lũ của hồ Đồng Sương và Văn Sơn gom nước đến sông Bùi. Mở rộng sông Bùi để tăng khả năng thoát lũ rừng ngang và lũ phía Hoà Bình đổ về. Khoanh vùng đê bao bảo vệ với những vùng đất thấp trũng chống lũ sớm hoặc lũ nhỏ, chấp nhận tràn khi vượt lũ thiết kế.

5.         Kinh phí thực hiện quy hoạch

Tổng kinh phí thực hiện Quy hoạch 99.724 tỷ đồng. Nguồn vốn từ ngân sách trung ương, ngân sách thành phố và các nguồn vốn huy động khác.

Giải pháp huy động vốn: Ưu tiên bố trí vốn ngân sách hàng năm; có cơ chế đặc thù để khai thác các nguồn vốn từ các dự án khác; huy động vốn từ các nguồn tài trợ, hỗ trợ, chương trình hợp tác như ODA, JICA, ADB, WB...

IV. Tổ chức thực hiện

UBND thành phố Hà Nội quản lý việc thực hiện quy hoạch trên phạm vi địa bàn thành phố; chỉ đạo, tổ chức xây dựng kế hoạch, cơ chế chính sách đặc thù, ban hành các Quyết định cụ thể, cân đối bố trí vốn đầu tư để triển khai thực hiện quy hoạch; chỉ đạo, tổ chức công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư khi di chuyển các hộ dân, giải tỏa các công trình trong chỉ giới thoát lũ theo qui định của Pháp luật.

Lộ trình tổ chức thực hiện Quy hoạch ưu tiên triển khai cắm mốc chỉ giới thoát lũ, thực hiện di dân tái định cư, tiếp theo là các giải pháp kỹ thuật đảm bảo thoát lũ, an toàn đê điều. Trước mắt năm 2010 thí điểm tổ chức thực hiện Quy hoạch trên một đoạn sông cụ thể, trên cơ sở đó rút kinh nghiệm, tổ chức triển khai trên toàn địa bàn.

V. Kết luận

- Sau quy hoạch đã xác định được chỉ giới thoát lũ trên tất cả các tuyến sông có đê trên địa bàn thành phố, và có thể triển khai ra thực tế theo tọa độ VN2000.

- Quy hoạch là cơ sở khoa học để xây dựng các quy hoạch chuyên ngành khác như quy hoạch đê điều, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chỉnh trang đô thị...

 

ThS. Vũ Hồng Châu

Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi

 
CÁC TIN KHÁC
  RÀ SOÁT QUY HOẠCH PHÒNG CHỐNG LŨ VÀ ĐÊ ĐIỀU SÔNG ĐÁY
  QUY HOẠCH THỦY LỢI HỆ THỐNG BẮC HƯNG HẢI
  QUY HOẠCH TÍNH TOÁN TOÀN DIỆN CHO THUỶ LỢI
  QUY HOẠCH THUỶ LỢI TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2006-2015 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020
  KẾT QUẢ QUY HOẠCH THUỶ LỢI VÙNG VEN BIỂN BẮC BỘ PHỤC VỤ CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU CÂY TRỒNG

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn