I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THUỶ LỢI ỨNG DỤNG VÀO HÀ NAM PHỤC VỤ CHO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN VÀ CÁC NGÀNH KINH TẾ QUỐC DÂN ( Đặng Xuân Khánh – Chi cục trưởng Chi cục Thuỷ lợi Sở NN và PTNT tỉnh Hà Nam)
 

ACHIEVEMENTS OF APPLICATION OF WATER RESOURCES SCIENCE AND TECHNOLOGY IN HA NAM PROVINCE SERVING AGRICULTURAL AND RURAL DEVELOPMENT AND OTHER ECONOMIC SECTORS

Ha Nam is one of the provinces in the Red River Delta. It possesses a natural surface of 85,164 ha including 52,050 ha of agricultural lands of which 36,500 to 37,000 ha of paddy. Thanks to development of water resources science and technology as well as important investments by the Government, Ha Nam has relatively large hydraulic systems that have helped to increases the cropping intensity from 1 crop a year in 1960s to 2 crops a year since 1975. Suitable irrigation and drainage measures have contributed to raise paddy yields from 3.5 to 4 tons per ha per year in 1980s to present 10 to 12 tons per ha per year. Application of water resources science and technology has not only contributed to agricultural and rural development but also to the economic development, livelihood improvement, and social and political stability in the region in general.

Là một tỉnh đồng bằng chiêm trũng thuộc lưu vực sông Hồng, Hà Nam có tổng diện tích tự nhiên 85.164 ha, diện tích đất nông nghiệp 52.050 ha; trong đó diện tích đất trồng lúa hàng năm từ 36.500 đến 37.000 ha. Nhờ sự phát triển của khoa học công nghệ trong công tác thủy lợi với đầu tư xây dựng của Nhà nước, Hà Nam có hạ tầng cơ sở hệ thống công trình thủy lợi tương đối quy mô và sớm nên từ chỗ cấy một vụ trong những năm 60, nông dân Hà Nam đã có thể cấy 2 vụ vào năm 1975. Những biện pháp tưới tiêu hợp lý đã góp phần đưa năng suất lúa từ 3,5-4,0 tấn/ha/năm những năm 1980 đến nay đã đạt 10-12 tấn/ha/năm, cảnh chiêm khê mùa thối không còn. Đặc biệt là từ những năm 1985 trở lại đây cùng với sự phát triển KHCN trong mọi lĩnh vực, việc áp dụng KHCN vào lĩnh vực thủy lợi không những góp phần đưa năng suất cây trồng lên cao, mà còn đẩy nhanh sự phát triển kinh tế của các ngành kinh tế khác góp phần tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, và ổn định chính trị xã hội trong khu vực. Kết quả áp dụng KHCN thuỷ lợi vào từng mảng lĩnh vực cụ thể như sau:

1- Trong công tác quy hoạch: Trong những năm 70 do khoa học kỹ thuật còn hạn chế về nhiều mặt, quy hoạch còn mang tính chất manh mún theo từng vùng, theo khu vực và chủ yếu là quy hoạch phục vụ sản xuất nông nghiệp. Hầu hết các vùng quy hoạch có hệ số tưới, tiêu thấp (tưới 0,81l/s/ha, tiêu 2,91 l/s/ha). Việc quy hoạch mang tính chất thủ công dựa vào kinh nghiệm kết hợp với tính toán lý thuyết có sai số lớn dẫn đến tình trạng đa số công trình xây dựng phát huy hiệu quả thấp.

Từ năm 1986 trở lại đây công tác quy hoạch thủy lợi đã mang tính chiến lược của từng lưu vực sông. Quy hoạch lưu vực đã gắn kết và phù hợp với quy hoạch phát triển của từng vùng, miền… Các phương tiện hiện đại (ảnh hàng không, máy móc đo đạc hiện đại độ chính xác cao) được áp dụng trong khảo sát phục vụ quy hoạch tổng thể. Trong tính toán, kinh nghiệm thực tế được kết hợp với áp dụng các mô hình công cụ hiện đại trong nước và trên thế giới. Nhờ đó, chất lượng quy hoạch hiện nay đã được nâng lên rõ rệt, đã có sự kế thừa và phát triển các quy hoạch đã có cho phù hợp với quy hoạch chung trong lưu vực, nhờ đó hiệu quả công trình cũng được nâng lên.

2- Trong công tác thiết kế và thi công: Việc áp dụng các tiến bộ KHCN vào thiết kế và thi công các công trình thủy lợi ngày càng phổ biến. Máy vi tính, phần mềm tin học để thiết kế đang được trung tâm tư vấn NN&PTNT áp dụng rộng rãi thay thế các bản vẽ thủ công trước đây. Việc áp dụng công nghệ mới, lựa chọn các phương án tối ưu cũng ngày càng hoàn thiện ví dụ như việc thay thế các máy bơm trục ngang, trục xiên sang máy bơm hướng trục đứng dễ vận hành hiệu quả cao thích ứng với điều kiện địa hình có chênh lệch mực nước bể hút và bể xả lớn: như trạm bơm Quế 1, Quế 2, TB Giáp Ba huyện Kim Bảng, TB Đồng Du, TB An Đổ huyện Bình Lục…

Máy móc thay thế sức người đã từng bước được áp dụng trong thi công như đóng cọc bằng búa máy, máy nén thủy lực để ép cọc xử lý móng, máy ủi, đầm, xúc và chuyển vật liệu hoàn toàn bằng cơ giới đã được áp dụng cho công trình đường sơ tán Khả Phong Tam Trúc, máy xúc, tàu hút bùn để nạo vét kênh mương Như Trác, Long Xuyên – Lý Nhân, S17-Bình Lục, hệ thống giếng kim để xử lý cát đùn, cát chảy trong thi công hố móng công trình đã áp dụng cho trạm bơm Nhân Hoà huyện Lý Nhân.

Nhiều vật liệu mới đã được nghiên cứu, áp dụng phục vụ kiên cố hoá kênh mương, hay thay thế các vật liệu cũ làm tăng tuổi thọ công trình.

Công tác quản lý chất lượng công trình đã được trang bị dụng cụ, áp dụng khoa học công nghệ như máy siêu âm trong bê tông cốt thép, súng bắn cường độ bê tông, lấy mẫu xác định dung trọng đất đắp, phân tích 17 chỉ tiêu cơ lý của đất đã thực hiện tại các đơn vị trong tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát nâng cao chất lượng công trình.

3. Trong công tác quản lý khai thác: Tỉnh Hà Nam có ba công ty khai thác công trình thuỷ lợi là: Nam Hà Nam, Kim Bảng và Duy Tiên. Kể từ năm 1985 đến nay, đặc biệt từ 1995 đến nay các công ty KTCTTL đã ngày càng được hiện đại hoá, hệ thống thông tin liên lạc đã được trang bị đến cụm, các trạm bơm để phục vụ công tác điều hành nhanh chóng, chính xác. Các hệ thống cống đầu mối cũng hầu hết được điện khí hoá máy đóng mở. Chương trình điều hành đã và đang được ứng dụng phần mềm tin học, quản lý dữ liệu hồ sơ trong máy vi tính. Qua thực tế kết hợp tính toán các công ty KTCTTL đã ngày càng hoàn thiện quy trình vận hành hệ thống một cách khoa học có phân vùng tưới, tiêu riêng biệt, kết hợp điều tiết hỗ trợ chung trong hệ thống, đảm bảo chủ động tưới tiêu trong mọi điều kiện thời tiết.

Cho đến nay toàn tỉnh đã kiên cố hoá được 324km kênh tưới trên tổng số gần 2000km kênh các loại. Một số trạm bơm lớn như TB Hữu Bị đã được trang bị máy vớt rác tự động, đảm bảo an toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của trạm bơm.

Việc điều tiết hồ Hoà Bình, Thác Bà một cách hợp lý, khoa học nâng cao đầu nước vào các tháng mùa kiệt đặc biệt đầu vụ đông xuân 2003-2004 và 2004-2005 vừa qua đã tạo điều kiện thuận lợi về nước tưới cho các địa phương hạ du đồng bằng sông Hồng gieo cấy kịp thời vụ và phục vụ dân sinh là một thắng lợi lớn trong công tác thủy lợi.

II. Những định hướng trong giai đoạn tiếp theo

- Tiếp tục rà soát quy hoạch, nâng cao hệ số tưới, tiêu phục vụ đa mục tiêu, đa ngành. Có quy hoạch chi tiết, xây dựng mô hình tưới, tiêu nước liên hoàn phục vụ đa canh, chuyển đổi cây trồng, xây dựng cánh đồng 50 triệu/ha

- Hoàn thiện hệ thống kênh mương theo chương trình kiên cố hoá kênh mương tiến tới xây dựng hệ thống phân phối và điều tiết nước tự động.

- Xây dựng hoàn chỉnh phần mềm công tác điều hành tưới tiêu trên mạng máy vi tính, xây dựng bản đồ kỹ thuật số trong công tác quản lý.

- Áp dụng các biện pháp tưới, theo nhu cầu nước của từng loại cây trồng, phục vụ tốt việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng.

- Xây dựng các mô hình nông dân tham gia quản lý nước tiến tới giao các công trình nhỏ cho cá nhân hoặc các HTX dịch vụ quản lý khai thác tiến tới việc cổ phần hoá các doanh nghiệp KTCTTL.

III. Kiến nghị

Trong giai đoạn tới công tác quy hoạch thủy lợi phải gắn kết chặt chẽ hơn nữa với quy hoạch phát triển tổng thể của các ngành kinh tế quốc dân phù hợp với hiện tại và tương lai. Đặc biệt vai trò của khoa học công nghệ được áp dụng vào thực tế nhiều hơn nữa để phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trông vật nuôi phù hợp với mục tiêu của công cuộc CNH, HĐH phát triển nông nghiệp nông thôn. Để đạt được điều đó, UBND tỉnh Hà Nam có một số kiến nghị như sau:

- Đề nghị Nhà Nước cấp ngân sách hàng năm sớm để xây dựng hoàn thiện công trình theo quy hoạch đã được phê duyệt như cống Tắc Giang, trạm bơm Kinh Thanh II, Lạc Tràng II đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh kinh tế.

- Đề nghị Bộ NNPTNT đầu tư kinh phí xây dựng mô hình điểm hệ thống phân phối nước tự động, cụ thể là kiên cố hoá hệ thống kênh cấp 2 trong tỉnh như: kênh C1, C2, C9… hệ thống Như Trác và đầu tư hệ thộng thiết bị phân phối nước tự động ở các cống đầu mối kênh cấp II hệ thống Như Trác từ đó nhân ra diên rộng.

- Hỗ trợ thiết bị cho các công ty KTCTTL xây dựng hệ thống điều hành tưới tiêu trên máy vi tính để nâng cao hiệu quả điều hành hệ thống.

- Tổ chức hội thảo khoa học hàng năm để phổ biến, cập nhật công nghệ mới trong lĩnh vực thiết kế, thi công, quản lý KTCTTL cho các đơn vị địa phương./.

 
CÁC TIN KHÁC
  CÔNG NGHỆ, KỸ THUẬT TƯỚI TIẾT KIỆM NƯỚC CHO NHỮNG VÙNG KHAN HIẾM NƯỚC Ở VIỆT NAM
  ỨNG DỤNG MÔ HÌNH THUỶ LỰC 2 CHIỀU TRONG QUY HOẠCH QUẢN LÝ VÙNG NGẬP LŨ - GIẢM NHẸ THIÊN TAI
  ỨNG DỤNG MÔ HÌNH THUỶ ĐỘNG LỰC HỌC MIKE 11 PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUY HOẠCH VÀ QUẢN LÝ NGUỒN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG HỒNG
  CÔNG TÁC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

 

 
TIN VẮN
 
HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn