I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
SỰ PHỐI HỢP QUẢN LÝ TỔNG HỢP LƯU VỰC SÔNG VỚI CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT, ĐỜI SỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG
 

1/ Đặc điểm chung công trình thuỷ lợi tỉnh Bắc Giang:

            Bắc Giang là một tỉnh miền núi phía Bắc có diện tích tự nhiên tương đối lớn được chia thành 2 vùng địa hình: vùng miền núi và vùng trung du; có mạng lưới sông ngòi phong phú, nằm trong lưu vực sông Hồng – sông Thái Bình với 3 con sông lớn chảy qua sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam và nhiều sông suối nhỏ như sông Sỏi, sông Thảo… đã tạo ra nguồn tài nguyên nước khá lớn và có chất lượng tương đối tốt.

Về nguồn nước: Nguồn nước mặt với tổng trữ lượng cả 3 con sông (sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam) là 7,46 tỷ m3 nước thể đáp ứng yêu cầu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống dân sinh. Nguồn nước ngầm với trữ lượng khai thác tiềm năng 924.612 m3/ ngày là tương đối lớn, tạo nhiều thuận lợi cho việc cung cấp nước sạch cho nhiều khu vực mà nguồn nước mặt hạn chế.

            Với đặc điểm địa hình, sông suối và nguồn nước nêu trên Bắc Giang được chia thành 5 vùng thuỷ lợi là:

            - Vùng sông Cầu: Nằm trong khu vực tả sông Cầu và hữu sông Thương nguồn nước chính lấy từ sông Cầu và sông Thương phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh cho các huyện Hiệp Hoà, Việt Yên, Tân Yên, một phần thành phố Bắc Giang tỉnh Bắc Giang, một phần của huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên, tiêu nước ra sông Cầu và sông Thương trong đó có tiêu cho 2 khu công nghiệp lớn là khu Đình Trám và khu Quang Châu tỉnh Bắc Giang.

            - Vùng Cấm Sơn – Cầu Sơn: Nằm trong khu vực tả sông Thương và hữu sông Lục Nam; nguồn nước chính lấy từ hồ chứa Cấm Sơn và sông Thương phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh cho các huyện Lạng Giang và một phần của huyện Lục Nam, huyện Yên Dũng, thành phố Bắc Giang, tiêu nước ra sông thương và sông Lục Nam trong đó có phần tiêu nội thị thành phố Bắc Giang.

            - Vùng Nam Yên Dũng: Là vùng trũng nằm khu vực tả sông Cầu và hữu sông Thương; nguồn nước tưới chính được bơm từ sông Cầu và sông Thương, tiêu nước ra sông Cầu và sông Thương trong đó có phần tiêu cho khu công nghiệp Song Khê - Nội Hoàng của tỉnh.

            - Vùng sông Sỏi: Đây là vùng núi của huyện Yên Thế; nguồn nước chính là các hồ đập nhỏ phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh của huyện Yên Thế và một phần vùng cao của huyện Tân Yên. Đây là vùng hiện thiếu nước trầm trọng chưa được đầu tư xây dựng hệ thống thuỷ lợi.

            - Vùng sông Lục Nam: Đây là vùng núi của các huyện Sơn Động, Lục Ngạn và một phần của huyện Lục Nam (tả sông Lục Nam), nguồn nước chính ở vùng này hiện nay cơ bản là các hồ chứa vừa và nhỏ phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh của người dân trong vùng.

            *Tổng hợp trên 5 vùng thuỷ lợi của tỉnh Bắc Giang hiện nay có 360 công trình; tưới cho 77.847 ha theo thiết kế (thực tưới được 42.294 ha bằng 54%), hiện nay đã tiêu được 360.856 ha bằng 94% còn 24.214 ha chưa được tiêu, hiện nay diện tích này đang được chuyển đổi một phần sang nuôi trồng thuỷ sản.

            2/ Biện pháp chống hạn và kết quả công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất và đời sống trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 6 tháng đầu năm 2006:

- Do lượng mưa không đều trong lưu vực các hồ chứa thuỷ lợi, do vậy phần lớn lượng nước dự trữ của các hồ chứa trong tỉnh thấp. Thời điểm mở nước tưới vụ chiêm xuân mực nước hai hồ chứa lớn là: Cấm Sơn 61,0/66,5(tk) đạt 50,3% dung tích thiết kế, hồ Khuôn Thần huyện Lục Ngạn mực nước 42,3/51,0 đạt 24,6% dung tích thiết kế, một số hồ khác thấp hơn dung tích thiết kế từ 1–3m.

- Các suối nhỏ nhìn chung cạn kiệt, mực nước Sông Thương, Sông Cầu, Sông Lục Nam đều thấp hơn trung bình nhiều năm, Sông Thương tại Bắc Giang 0,9m, Sông Lục Nam tại Đồi Ngô là: 0,82m thấp hơn trung bình nhiều năm từ 0,3- 0,5m. Mực nước thượng lưu đập Thác Huống (Thái Nguyên) 19,9/20,85 thấp hơn thiết kế 0,95m.

- Như vậy vụ chiêm xuân 2006 phần lớn các hồ chứa tỉnh Bắc Giang thiếu nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp, đặc biệt thiếu nước nghiêm trọng ở khu vực các huyện miền núi tưới bằng các hồ đập nhỏ do lượng nước trữ được trong hồ thấp gồm các Công ty KTCTTL Yên Thế, Công ty KTCTTL Lục Ngạn, huyện Sơn Động. Khó khăn về bơm tưới do mực nước sông thấp như Công ty KTCTTL Nam Yên Dũng và các khu vực tưới bằng trạm bơm của Công ty KTCTTL Cầu Sơn, Sông Cầu.

* Để khắc phục việc thiếu nguồn nước. UBND tỉnh Bắc Giang, Sở Nông nghiệp & PTNT chỉ đạo UBND các huyện, thành phố các Công ty KTCTTL thực hiện tốt công tác tu bổ công trình nạo, vét kênh mương. Các huyện triển khai nạo vét kênh nội đồng và sửa chữa các công trình thuỷ lợi nhỏ thuộc địa phương quản lý. Các công ty KTCTTL thực hiện nạo vét kênh chính, kênh liên xã, bể hút, kênh dẫn các trạm bơm, sửa chửa tốt máy bơm tưới. Công việc được hoàn thành trước khi phục vụ tưới chiêm xuân 2006.

- Công ty KTCTTL Sông Cầu do nhiệm vụ phục vụ tưới trên địa bàn rộng, nguồn nước thượng nguồn đập Thác Huống thấp, thiếu nước ngay trong thời gian đổ ải, Công ty đã phải mua bổ sung 15 triệu m3 nước từ hồ Núi Cốc Thái Nguyên. Công ty KTCTTL Cầu Sơn phải mua nước thải từ trạm bơm 420 Phân Đạm để tưới cho vùng cao thuộc thành phố Bắc Giang, bồ sung nguồn cho vùng cuối kênh giữa tưới cho các xã khu vực Bắc Yên Dũng.

Cuối tháng 4 đầu tháng 5/2006; trong thời gian này thời tiết ít mưa nắng hạn kéo dài nhiều hồ chứa nhỏ hết nước tưới, hồ chứa Cấm Sơn cũng đã phải tháo đến xấp xỉ mực nước chết là: 51,33m (mực nước chết 51m). Diện tích lúa bị hạn vào thời điểm cao nhất toàn tỉnh là 8.614 ha (trong đó mất trắng là 484 ha thuộc các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, tập trung ở vùng không có công công trình tưới).

Trong công tác chỉ đạo chống hạn cuối vụ Sở đã chỉ đạo các Công ty KTCTTL phối hợp các huyện tập trung mọi biện pháp để khai thác nguồn nước, huy động máy bơm dầu, lập các trạm bơm dã chiến, tận dụng các trạm bơm điện cục bộ địa phương để bơm phần nước còn lại dưới mực nước chết của các hồ chứa nhỏ, hồ ao của địa phương, hợp đồng bơm tiếp nước các trạm bơm cục bộ để bổ sung nước khu vực cuối kênh, tăng cường nạo vét kênh mương khơi thông dòng chảy, thực hiện các biện pháp tưới luân phiên hợp lý tiết kiệm nước.

Từ trung tuần tháng 5/2006 trung khu vực đã có mưa rải rác một số vùng hạn đã được giải quyết và đến cuối tháng 5/2006 công tác tưới chống hạn vụ chiêm xuân cơ bản đã hoàn thành.

* Diện tích thực hiện tưới chung cho toàn tỉnh

- Diện tích lúa: 53.208ha

Trong đó:

+Tự chảy: 37.900 ha.

+Bơm Điện: 12.308 ha.

+Biện pháp khác: 3.000 ha.

- Diện tích mầu: 20.471 ha.

* Điện năng tiêu thụ toàn vụ: 3.896.000 Kwh.

Trong đó:

- Công suất dùng cho đổ ải: 1.043.806 Kwh.

-          Công Suất dùng cho tưới dưỡng: 2.852.194 Kwh.

* Kết quả đạt được trong vụ chiêm xuân là: Theo tính toán của Cục thống kê tỉnh năng suất lúa bình quân toàn tỉnh đạt 51,5 tấn/ha, đạt 95,4% KH và bằng 99,4% so với cùng kỳ. Sản lượng lúa ước đạt 271.925 tấn đạt 100,7% KH và bằng 101% so với cùng kỳ, đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn tỉnh và ổn định đời sống nhân dân trong vùng.

3/ Các vấn đề phát sinh, khó khăn tồn tại, kiến nghị của địa phương đối với Ban QLQH lưu vực sông Hồng – sông Thái Bình:

            Trong nhiều năm qua được sự quan tâm đầu tư của trung ương và bằng nguồn vốn của địa phương, các công trình thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã được xây dựng bổ sung, cải tạo nâng cấp phần nào đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh. Song trong quá trình quản lý khai thác và bảo vệ nguồn nước trên địa bàn tỉnh Bắc Giang còn những tồn tại và phát sinh cần được sự quan tâm phối hợp trong công tác quản lý tổng hợp lưu vực sông với ngành NN & PTNT Bắc Giang để giải quyết các vấn đề như:

            - Nhu cầu dùng nước trong sản xuất và trong đời sống dân sinh của người dân ngày càng tăng và đa dạng.

            - Nguồn nước tưới cung cấp cho hệ thống thuỷ nông sông Cầu thiếu không đảm bảo phục vụ sản xuất vụ chiêm xuân.

            - Những năm gần đây lượng mưa phân bố trên địa bàn tỉnh Bắc Giang không đều và lại giảm dần chỉ bằng 70 – 80% lượng mưa trung bình nhiều năm (1400 mm – 1500mm) làm nghèo dòng chảy. Đây là nguyên nhân dẫn đến thiếu nước của hệ thống thuỷ lợi của tỉnh Bắc Giang.

            - Hệ thống hồ đập vừa và nhỏ miền núi đã được xây dựng từ lâu do thiếu kinh phí nên không được tu bổ sửa chữa thường xuyên hiện đã bị xuống cấp, không đảm bảo tích nước theo thiết kế vì thế các huyện miền núi của Bắc Giang thường xuyên bị hạn hán.

            - Bắc Giang là một tỉnh hiện nay có diện tích cây ăn quả lớn song chưa được đầu tư nghiên cứu xây dựng công trình tưới để nâng cao năng xuất cây trồng.

            * Từ những phát sinh và khó khăn tồn tại trong quản lý tài nguyên nước của Bắc Giang như hiện nay, xin kiến nghị với Bộ và Ban quản lý quy hoạch lưu vực sông Hồng – sông Thái Bình:

            - Do nhu cầu dùng nước ngày càng nhiều và đa dạng đề nghị các Cục, Vụ, Viện nhất là Viện Quy hoạch thuỷ lợi phối hợp với các Sở tính toán cụ thể cân bằng nước của các hệ thống, cân bằng nước lưu vực sông để đưa ra các giải pháp công trình và phi công trình hợp lý.

            - Đầu tư nguồn vốn để sửa chữa nâng cấp các hồ chứa vừa và nhỏ, kiên cố hoá hệ thống kênh dẫn hiện đã bị xuống cấp, để thực hiện tưới tiết kiệm nước đáp ứng nhu cầu dùng nước trong sản xuất và trong đời sống dân sinh.

            - Cần có các biện pháp đồng bộ giải quyết nước thải, chất thải rắn của các khu đô thị, khu công nghiệp tập trung và các làng nghề nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước.

            - Tăng cường công tác đào tạo cán bộ, đầu tư cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý, tập huấn nâng cao quản lý dịch vụ tưới tuyến cơ sở (quản lý tưới có sự tham gia của người dân).

4/ Sự phối hợp đa ngành và liên tỉnh trong phát triển lưu vực:

             Thực tế cho thấy sự phối hợp này đã có từ lâu trong việc phân vùng thủy lợi, điều chỉnh quy hoạch thuỷ lợi tỉnh Bắc Giang qua các giai đoạn và gần đây nhất là điều chỉnh quy hoạch thuỷ lợi giai đoạn 2005 – 2020 do Viện quy hoạch thuỷ Lợi Bộ Nông nghiệp & PTNT phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT cùng các Sở, ban ngành của tỉnh xây dựng đã được UBND tỉnh Bắc Giang phê duyệt.

            Ngay sau khi có Luật tài nguyên nước ra đời Bộ Nông nghiệp và PTNT triển khai dự án QLQH lưu vực sông Hồng – sông Thái Bình sự phối hợp giữa quản lý tổng hợp lưu vực sông với các địa phương nhất là tỉnh Bắc Giang chúng tôi thấy rất rõ nét và mang lại hiệu quả thiết thực đó là:

            - Công tác đánh giá nguồn nước, chất lượng nước và tình hình quản lý khai thác nguồn nước trong toàn lưu vực sông Hồng – sông Thái Bình đã chỉ ra. Đối với Bắc Giang hiện nay lưu lượng về mùa kiệt của sông Cầu thiếu không đảm bảo phục vụ cho sản xuất vụ chiêm xuân từ đó đã có sự chỉ đạo của Cục Thuỷ lợi hàng năm vào mùa kiệt Thái nguyên phải điều tiết nước hồ Núi Cốc cho hệ thống thuỷ nông Sông Cầu từ 10 – 15 triệu m3 nước phục vụ sản xuất vụ chiêm xuân. Nay chất lượng nước sông cầu bị ô nhiễm và dòng chảy sông Cầu đang bị cạn kiệt dần, từ đó Bộ đã phối hợp với các tỉnh bàn biện pháp giải quyết và khắc phục. Hiện Bộ Nông nghiệp & PTNT đã có Quyết định thành lập Tiểu ban quản lý quy hoạch lưu vực sông Cầu thuộc Ban QLQH lưu vực sông Hồng – sông Thái Bình để giải quyết những vấn đề liên quan đến 6 tỉnh trong lưu vực sông. Các địa phương cũng đã phối hợp với các cơ quan quản lý lưu vực sông đưa ra các giả pháp trồng rừng phòng hộ đầu nguồn, xây dựng hồ hệ thống hồ điều hoà đầu nguồn, cải tạo nâng cấp các công trình thuỷ lợi và xây dựng quy trình tưới tiêu khoa học tiết kiệm nước, kiểm soát chất lượng nước thải, chất thải từ các khu công nghiệp, khu đô thị và các làng nghề…. Những vấn đề này đã mang hiệu quả thiết thực đối với nhiệm vụ thuỷ lợi mà Bộ Nông nghiệp & PTNT, UBND tỉnh Bắc Giang giao cho ngành Nông nghiệp & PTNT trên hệ thống thuỷ nông sông Cầu là đảm bảo nước tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp và đời sông dân sinh kể cả thời gian lưu lượng tại đập Thác Huống chỉ còn 6m3/s bằng 1/2 lưu lượng thiết kế.

 Cũng từ phối kết hợp đa ngành và liên tỉnh trong phát triển lưu vực mà Bắc Giang đã được Bộ cho triển khai một số dự án quan trọng đó là cải tạo, nâng cấp hiện đại hoá hệ thống thuỷ nông Cấm Sơn – Cầu Sơn bằng nguồn vốn WB3, cải tạo nâng cấp hệ thống thuỷ nông Nam Yên Dũng bằng nguồn vốn ADB3, đầu tư xây dựng mới chùm hồ Hàm Rồng – Lục Ngạn bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ. Song song với nguồn vốn đầu tư của Trung ương, hàng năm ngân sách tỉnh Bắc Giang cũng đã giành một phần kinh phí hạn hẹp để sửa chữa và làm mới các công trình thuỷ lợi dựa trên những tài liệu quy hoạch cơ bản của lưu vực sông.

            Về phòng chống lụt bão trên những tài liệu quy hoạch cơ bản của lưu vực sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam. Hàng năm tỉnh đã chủ động xây dựng các phương án phòng chống lụt bão trên địa bàn.

            Đặc biệt trong công tác quản lý khai thác tài nguyên nước đến nay ngành Nông nghiệp & PTNT Bắc Giang đã có đầy đủ những cơ sở pháp lý và khoa học để làm tham mưu cho tỉnh và chỉ đạo cơ sở thực hiện triển khai nhiệm vụ của ngành là phục vụ sản xuất nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt cho nhân dân, cho công nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế xã hội tại địa phương.           

             5/ Đề xuất ưu tiên đầu tư trong lưu vực:

            Để công tác thuỷ lợi của tỉnh Bắc Giang trong những năm tới phát huy hiệu quả phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống dân sinh

Bộ và Tỉnh đề nghị Chính phủ đầu tư xây dựng mới một số hồ chứa miền núi bằng nguồn vốn trái phiếu đó là hồ Suối Mỡ, hồ Sông Sỏi…

Đầu tư nguồn vốn để sửa chữa nâng cấp các hồ chứa vừa và nhỏ miền núi các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Yên Thế, kiên cố hoá hệ thống kênh dẫn hiện đã bị xuống cấp, tiết kiệm nước tưới đáp ứng nhu cầu dùng nước trong sản xuất và đời sống dân sinh.

Đầu tư sửa chữa, cải tạo nâng cấp hệ thống thuỷ lợi Sông Cầu bằng nguồn vốn ADB và các trạm bơm tưới tiêu van sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam hiện các trạm bơm này đã quá cũ nát không đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu theo lưu vực.

Đầu tư cải tạo nâng cấp hệ thống đê sông đảm bảo an toàn phòng chống lũ bão giảm nhẹ thiên tai trên địa bàn tỉnh.

Hệ thống thuỷ nông Sông Cầu tỉnh Bắc Giang; hiện vụ chiêm xuân thường thiếu nước tưới về lâu dài chắc chắn mức độ thiếu nước sẽ nghiêm trọng hơn. Đề nghị Bộ Nông nghiệp & PTNT, Ban Quản lý quy hoạch lưu vực sông Hồng – sông Thái Bình sớm nghiên cứu xem xét xây dựng các hồ chứa phía thượng lưu đập Thác Huống thuộc 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn (trong đó có 02 hồ lớn là hồ Văn Lăng huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên, hồ Nậm Cắt TX Bắc Kạn tỉnh Bắc Kạn) để cắt lũ cho vùng hạ du và điều tiết bổ sung nước tưới cho khu vực vùng hạ du khi thiếu nước.

 

Nguyễn Văn Tác

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT

 

 
CÁC TIN KHÁC
  BÁO CÁO CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG LỤT BÃO 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2006
  CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG HẠN PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2006
  KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG CỦA TIỂU BAN QLQH LƯU VỰC SÔNG CẦU
  MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG CỦA TIỂU BAN QLQHLV SÔNG ĐÁY
  SƠ KẾT CÔNG TÁC 6 THÁNG ĐẦU NĂM VÀ KẾ HOẠCH THỰC HIỆN 6 THÁNG CUỐI NĂM 2006

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn