I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
THAM LUẬN CỦA TỈNH HẢI DƯƠNG TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2006
 

I- Đánh giá kết quả công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất và đời sống trên điạ bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2006:

1.1- Diễn biến thời tiết khí hậu thuỷ văn 6 tháng đầu năm 2006

            Năm 2006 là năm có thời tiết khí hậu, thuỷ văn biến động phức tạp gây ảnh hưởng cho sản xuất nông nghiệp.

Thời tiết khí tượng thuỷ văn vụ chiêm xuân diễn biến không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Trong thời kỳ đổ ải làm đất gieo cấy, nguồn nước trên các sông giảm mạnh, hạ lưu sông Hồng mực nước xuống thấp, thiếu hụt một cách nghiêm trọng so với TBNN. Tại Xuân Quan từ tháng 1 đến tháng 4 mực nước đều nhỏ hơn TBNN từ 0,45m ¸ 0,87m, đặc biệt có ngày xuống thấp còn +1,28 thấp hơn thiết kế 57cm, tại Bá Thuỷ +0,85¸+1,5; Neo +0,8¸+1,4. Khu vực thuỷ triều, đỉnh triều các sông ở mức thấp so với TBNN. Thời kỳ tưới dưỡng mực nước trên các sông trục vẫn ở mức thấp hơn so với TBNN từ 0,3-0,5m.

1. 2- Điều hành tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp:

1.2.1. Điều hành tưới

- Vụ chiêm xuân 2006, thời tiết nắng và rất khô hanh, không có mưa. Tỉnh Hải Dương đã xẩy ra thiếu nước, hạn ở một số địa phương, tuy nhiên do được cảnh báo trước, đồng thời có sự chuẩn bị chu đáo. Để chủ động cung cấp nước tưới phục vụ sản xuất. Sở Nông nghiệp và PTNT đã chỉ đạo các địa phương và doanh nghiệp thuỷ nông thống nhất với Công ty KTCTTL Bắc Hưng Hải tận dụng triệt để các con nước thuỷ triều, chủ động mở tất cả các cống dưới đê lấy nước sông ngoài, kể cả lấy nước ngược từ Cầu Xe, An Thổ, âu thuyền Cầu Cất và mở cống Xuân Quan tích trữ nước vào toàn bộ hệ thống kênh dẫn sông trục từ ngay đầu tháng 1 năm 2006 và bơm đổ ải sớm hơn các năm bình thường 5 ngày (ngày 5/1/2006) giảm bớt sự căng thẳng tập trung về thiếu nguồn nước.

Trong công tác đổ ải, tưới dưỡng phục vụ sản xuất nông nghiệp. Sở Nông nghiệp và PTNT đã phối hợp với UBND các huyện, TP chỉ đạo Công ty KTCTTL tỉnh và các địa phương hoàn thành khối lượng làm thuỷ lợi đông xuân, ưu tiên tập trung nhân lực, phương tiện hoàn thành việc nạo vét các cửa cống, hố hút, kênh dẫn, khơi thông dòng chảy để dẫn nước đổ ải thuận lợi. Đối với các TB tưới ải thực hiện phương châm "yêu cầu gieo cấy đến đâu tập trung đưa nước tới đó" nhằm tiếp kiệm điện, nước, tránh đổ ải tràn lan gây thất thoát nước. Đồng thời chỉ đạo các huyện khu vực thuỷ triều, tận dụng triệt để các con nước thuỷ triều để tranh thủ lấy nước đổ ải. Lấy sớm một con trước trữ vào sông trục. Kiểm tra, kiểm soát mặn tại các cống hạ lưu sông Kinh Môn, Kinh Thầy, Thái Bình, sông Luộc để không lấy nước nhiễm mặn vào đồng. Đảm bảo chất lượng nước đưa vào đồng ruộng, thông báo kịp thời để nông dân trữ nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất, trong quá trình cấp nước tưới tận dụng tối đa khả năng đưa nước tự chảy, làm đất gieo cấy đến đâu, đưa nước tới đó, tiết kiện nước, tiết kiệm điện.

Mặc dù thời tiết thuỷ văn vụ chiêm xuân 2006 có nhiều bất lợi đối với sản xuất nông nghiệp nhưng được sự quan tâm lãnh đạo sát sao của các cấp, các ngành cùng với sự cố gắng tích cực của cán bộ, công nhân viên trong toàn ngành Nông nghiệp nên đã chủ động phục vụ kịp thời SXNN đạt được kết quả tốt, không để hạn hán xảy ra, không có diện tích chuyển đổi cây trồng ngoài kế hoạch do thiếu nước tưới, góp phần đưa năng suất cây trồng của tỉnh Hải Dương lên cao.

1.2.2 / Kết quả phục vụ tưới 6 tháng đầu năm 2006

 Tổng toàn tỉnh vụ chiêm xuân tưới đạt 66.353 ha. Nhờ việc tưới tiêu chủ động cùng với các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp khác đã tạo điều kiện cho lúa, các cây trồng khác của tỉnh nhà đều đạt năng suất cao.

1.2.3 / Những tồn tại cần khắc phục:

            Từ thực tế phục vụ tưới tiêu năm 2006 còn bộc lộ một số tồn tại đó là:

            - Còn một số tuyến kênh tiêu, kênh dẫn còn bị bồi lắng chưa đảm bảo mặt cắt, còn nhiều vật cản chưa giải toả triệt để gây cản trở dòng chảy đặc biệt là nạn bèo tây, công trình thuỷ lợi còn bị vi phạm, lấn chiếm nhiều.

            - Một số bờ vùng nội đồng, vùng tiêu nước núi Chí Linh, Kinh Môn còn thấp, một số bờ vùng ngăn tiêu chưa đủ độ cao, khép kín.

            - Bờ vùng Bắc Hưng Hải một số đoạn thuộc Cẩm Giàng, Bình Giang, Gia Lộc Tứ Kỳ, Thanh Miện chưa đủ độ cao thiết kế +3.50, mặt cắt còn mảnh, yếu, nhiều ao hồ sát chân đê (cả phía ngoài sông lẫn trong đồng) có nguy cơ xảy ra sự cố sạt, sụt, tràn khi gặp mưa bão lớn, nước sông trục dâng cao từ +2,8 trở lên.

            - Kênh tiêu và bờ vùng chắn nước núi TB An Bài huyện Chí Linh chưa được xây dựng, mặc dù đầu mối TB An Bài đã xây dựng xong và vận hành chống úng, nên hiệu quả tiêu của TB An Bài thấp, tiền điện tiêu úng lớn.

Những tồn tại nêu trên cần được xem xét cụ thể của từng huyện, nghiêm túc rút kinh nghiệm khắc phục khó khăn để chỉ đạo thực hiện tốt công tác thuỷ lợi đông xuân 2006-2007.               

II. Tình hình thiên tai (hạn, úng, lũ lụt..) trong năm 2006 và các năm trước đây, các biện pháp khắc phục thiên tai của địa phương:

1. Về hạn: Trong những năm trước đây, diễn biến thời tiết khí tượng thuỷ văn không có nhiều biến động phức tạp, yêu cầu dùng chưa ở mức độ cao như hiện nay nên tình hình hạn của Hải Dương diễn ra không phức tạp, Hải Dương cơ bản đã đảm bảo đủ công suất bơm bằng động lực tưới cho khu vực phải tưới bằng động lực, hệ số tưới đã đạt tương đối cao, bình quân đạt 1,53 l/s/ha. Ở các huyện vùng triều cơ bản đủ nước tưới từ hệ thống tự chảy, và bơm động lực; tuy nhiên ở huyện Chí Linh, vùng lấy nước tưới tự chảy từ hồ đập nhiều năm có khó khăn về nguồn nước tưới do hồ bị bồi lắng nhiều, nguồn sinh thuỷ ít.

- Năm 2006, diễn biến thời tiết khí tượng thuỷ văn có nhiều phức tạp, mực nước sông Hồng tại cống Xuân Quan đã có ngày xuống thấp +1.28 so với thiết kế +1.85 gây khó khăn cho tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh kinh tế, đã xảy ra hạn hán ở một số nơi trong tỉnh như Chí Linh, Cẩm Giàng, Thanh Miện do mực nước ở các sông trục xuống quá thấp, lượng mưa đạt rất thấp so với cùng kỳ nhiều năm. Vụ chiêm năm 2006 một số vùng của Hải Dương đã bị thiếu nước không có nguồn cung cấp để gieo cấy không đúng thời vụ bị giảm năng suất, chủ yếu ở Chí Linh.

*Biện pháp khắc phục:

- Kiên quyết tập trung chỉ đạo và thực hiện hoàn thành kế hoạch làm thủy lợi Đông xuân theo kế hoạch tỉnh giao. ưu tiên cho công tác nạo vét các trục dẫn, kênh dẫn, cửa cống, hố hút. Đồng thời khẩn trương rà soát lại hiện trạng hệ thống các công trình thủy lợi, nếu chưa đảm bảo yêu cầu cung cấp, chuyển tải nước cần xây dựng phương án tu sửa, nạo vét cụ thể trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để triển khai. Trong quá trình triển khai làm thủy lợi đông xuân cần kiên quyết giải tỏa các vi phạm CTTL, các bè bèo vật cản gây ách tắc dòng chảy, đảm bảo thông thoáng dòng chảy.

- Xây dựng phương án chống hạn cụ thể của từng địa phương, từng vùng. Chuẩn bị đầy đủ điều kiện, phương tiện vật tư, sửa chữa hoàn thiện MMTB để sẵn sàng chống hạn khi có tình huống xảy ra. Xác định cụ thể những vùng có khó khăn về nguồn nước để có phương án chuyển đối cơ cấu cây trồng cho phù hợp.

- Tập trung chỉ đạo chặt chẽ việc đổ ải, tưới dưỡng.Theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết khí tượng thủy văn, nguồn nước điều hành phân phối nước hợp lý, linh hoạt, cụ thể đối với từng diện tích cụ thể theo phương châm "yêu cầu làm đất đến đâu, đưa nước đến đó" nhằm tiết kiệm nước. Chủ động lấy nước sớm từ 5 đến 7 ngày, tận dụng triệt để nước thuỷ triều để tưới.

            - Phối hợp với Công ty KTCTTL BHH điều hành hợp lý mực nước trong các sông trục để chủ động tận dụng nguồn nước cung cấp nước cho các khu vực, bàn bạc thống nhất xử lý các tình huống ngoài quy trình thiết kế vận hành của hệ thống.

Với phương châm chỉ đạo và điều hành như trên vụ chiêm xuân 2006 Hải Dương cơ bản đã chủ động được nguồn nước đảm bảo phục vụ sản xuất nông nghiệp đạt năng suất cao khoảng 65 tạ /ha.

2. Về úng:

Đây là một vấn đề nan giải của Hải Dương, hiện nay do hệ thống công trình thuỷ lợi phục vụ tiêu úng ở cả khu vực tiêu tự chảy và khu vực tiêu úng bằng động lực đều còn thiếu công trình, công trình chưa đồng bộ, thiếu công suất, MMTB cũ rão, lạc hậu. Đến nay toàn tỉnh có diện tích tiêu thiết kế có công trình: 141.638 ha/150.932 ha cần tiêu, trong đó tiêu tự chảy: 49.283 ha, tiêu bằng bơm điện: 92.355 ha. So với diện tích cần tiêu động lực thì hàng năm tỉnh Hải Dương còn gần 9.000 ha chưa chủ động về tiêu chủ yếu vùng tự chảy tập trung vào vùng Phí Xá (Thanh Miện), Cầu Xộp (Bình Giang), Khu Tam Lưu (Kinh Môn), An Kim Hải (Kim Thành), sông Đò Cậy, Cẩm Đông (Cẩm Giàng). Vùng đã có công trình hệ số tiêu thiết kế còn thấp trung bình đạt 4,2 l/s/ha so với thiết kế là 5,0 l/s/ha.

Đợt mưa cuối tháng 7/2004 với lượng mưa 5 ngày từ 350-502 mm đã làm úng 46.000 ha, mất trắng hơn16.000 ha, hệ thống bờ vùng BHH bị tràn, sạt, trượt hơn 15 km, 240 cống bị sự cố.

Đầu tháng 7/2006 vừa qua Hải Dương bị ảnh hưởng cơn bão số 2 gây mưa vừa từ 150-210 mm từ ngày 30/6 đến 3/7/2006 vào thời điểm lúa vừa mới cấy. Do chủ động gạn tháo phòng úng và tích cực chống úng, diện tích úng khoảng 6.200 ha đã được khắc phục kịp thời.

* Hệ thống tiêu bằng động lực: Hệ thống công trình tiêu động lực hầu hết đều được xây dựng từ những năm 1960 - 1970, hiện tại máy móc thiết bị cũ rão, lạc hậu công trình xuống cấp. Đặc biệt hệ thống các trạm bơm và kênh dẫn nước qua nhiều năm khai thác đã hư hỏng, bồi lắng, vỡ lở, ách tắc gây lãng phí điện, nước, diện tích chiếm đất của hệ thống công trình lớn, tốn nhiều công tu bổ và chi phí quản lý vận hành, nhưng hiệu quả phục vụ kém.

* Hệ thống tiêu tự chảy: Đối với vùng tiêu tự chảy tập trung nhiều ở huyện Kim Thành, Kinh Môn, Thanh Miện, Bình Giang, Cẩm Giàng, Gia Lộc, Chí Linh. Do mực nước cửa tiêu có xu hướng dâng cao, khả năng tự chảy rất kém, ví dụ: trận mưa cuối tháng 7 năm 2003 lượng mưa mới có 180 mm, mà hệ thống An Kim Hải phải tiêu mất 9 ngày. Đây là vùng sản xuất nông nghiệp còn bấp bênh, dù có chuyển đổi sang trồng cây lâu năm, nuôi trồng thuỷ sản vẫn phải bố trí hệ thống tiêu động lực. Theo tính toán quy hoạch năm 1993 thì hiện nay còn hơn 9.000 ha cần phải xây dựng trạm bơm tiêu mới. (Chưa kể việc cải tạo nâng cấp các trạm bơm cũ).

*Biện pháp khắc phục:

- Đánh giá, rà soát lại quy hoạch thuỷ lợi toàn tỉnh, xây dựng quy hoạch tổng thể hệ thống CTTL cho phù hợp định hướng phát triển kinh tế, xã hội giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài.

- Củng cố hệ thống bờ bao, cụ thể là phải tính toán nâng cấp hệ thống bờ vùng BHH, An Kim Hải, hệ thống bờ vùng của các hệ thống lớn. Cải tạo, nâng cấp một số TB đã quá cũ, thiếu công suất. Xây dựng một số TB tiêu úng mới phù hợp với quy hoạch trước mắt cũng như lâu dài. Sửa chữa xây dựng một số hệ thống cống điều tiết tiêu của các hệ thống. Xây dựng các trạm bơm tiêu mới cho vùng không tiêu tự chảy được: TB Chi Ngãi, TB Đồn Điền, TB Hùng Thắng, TB Quảng Đạt, TB Phí Xá, TB khu Tam Lưu…Xây dựng trạm bơm tiêu Cầu Xe, An Thổ.

III. Các vấn đề liên quan đến nhu cầu dùng nước của địa phương, sản xuất nông nghiệp và thực tế công tác chuyển đổi cơ cấu sản xuất cây trồng vật nuôi của tỉnh, hướng phát triển trong các năm tới, tình hình phát triển đô thị và công nghiệp:

 Hiện nay nhu cầu dùng nước để sản xuất nông nghiệp và dân sinh kinh tế của Hải Dương đã có nhiều biến đổi lớn. Cơ cấu cây trồng , mùa vụ đã thay đổi, diện tích cấy lúa đã có xu hướng giảm, cây màu, cây công nghiệp và các giống cây có thu nhập cao, ngắn ngày và diện tích nuôi trồng thuỷ sản đang có xu hương tăng nhanh. Từ đối tượng phục vụ thay đổi do đó nhu cầu dùng nước cũng có nhiều thay đổi, và biện pháp để phục vụ cũng thay đổi theo. Công suất máy móc thiết bị, hệ thống công trình thuỷ lợi được xây dựng từ những năm 1970-1975 đến nay đã có nhiều điểm không còn phù hợp, đặt ra nhiều thách thức cho công tác quy hoạch, quản lý khai thác hệ thống CTTL, từ sự chỉ đạo vĩ mô đến quản lý khai thác, điều hành hệ thống CTTL. Đối với dân sinh kinh tế, hiện nay yêu cầu chất lượng cuộc sống ngày càng đòi hỏi cao hơn, nhu cầu cung cấp nước và hạn chế tác hại của thiên tai do nước gây ra cũng yêu cầu cao hơn. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế cả nước, Hải Dương cũng đang phát triển rất mạnh các khu công nghiệp, khu đô thị như Nam Cường, Đại An, Nam Sách… nên yêu cầu cung cấp nước, tiêu thoát nước ngày càng trở lên bức xúc. Đến nay, Hải Dương chuyển đổi từ cấy lúa sang trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, nuôi trồng thuỷ sản từ 4.000-5.000 ha. Hàng chục khu CN, cum CN, khu đô thị mới đã và đang hình thành và đi vào hoạt động với diện tích hơn 4.000 ha. Đến năm 2010 sẽ tiếp tục chuyển đổi thêm 5.000 ha lúa sang khu công nghiệp,đô thị, nuôi trồng thuỷ sản và các mục đích khác.

* Tình hình ô nhiễm nguồn nước, nguyên nhân, ảnh hưởng:

Nguồn nước mặt của tỉnh Hải Dương hiện đang có nguy cơ bị ô nhiễm nặng. Các nhà máy chế biến nông sản, thực phẩm, các khu công nghiệp chế biến hiện đang xả nước bẩn, nước bị ô nhiễm nặng vào các dòng sông, kênh mương, đặc biệt là các sông, kênh ven các đô thị, TP. Các bệnh viện, trạm y tế cũng xả các vật phẩm, chất thải ra các sông trục, theo số liệu báo cáo của ngành Y tế nồng độ ô nhiễm đặc biết các vi khuẩn gây bệnh do các chất thải của các trung tâm y tế, các khu công nghiệp vào nguồn nước đều vượt mức cho phép. Đây là một vấn đề đã trở lên bức xúc và gay gắt hiện chưa kiểm soát được, ảnh hưởng trực tiếp đến vệ sinh môi trường và phát triển sản xuất nông nghiệp của tỉnh.

* Công tác thuỷ lợi phục vụ chuyển đổi cơ cấu sản xuất cây trồng, vật nuôi, những kết quả đạt được, những khó khăn tồn tại, các kiến nghị và hướng giải quyết:

Đối tượng phục vụ của ngành thuỷ lợi Hải Dương là sản xuất nông nghiệp và dân sinh kinh tế. để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tế diễn ra, trong những năm qua thuỷ lợi Hải Dương đã từng bước đáp ứng yêu cầu của sự phát triển của nền kinh tế, yêu cầu của đời sống dân sinh. Trước yêu cầu đòi hỏi của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ chủ yếu là sản xuất trồng lúa sang cơ cấu giảm dần từ 67.000 ha hiện nay đi đến ổn định đến 2010 còn 62.000 ha trồng lúa còn lại chuyển sang trồng màu, các cây công nghiệp ngắn ngày, các cây có năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao, nuôi trồng thuỷ sản hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất canh tác sang hình thành các khu công nghiệp, khu đô thị, đường giao thông…, khu chăn nuôi gia cầm, gia súc tập trung để phù hợp với yêu cầu phát triển KT-XH của tỉnh. Đây là một vấn đề lớn đặt ra cho công tác quản lý, quy hoạch tổng thể của hệ thống các công trình thuỷ lợi.

Hệ thống công trình thuỷ lợi Hải Dương đã đáp ứng được một số yêu cầu của việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất cây trồng: Cơ bản đã chủ động cung cấp đủ nước tưới cho các khu chuyển đổi sang trồng cây ăn quả, trồng màu, hoa, cây công nghiệp, nuôi cá hoặc cá loại thuỷ sản khác như baba, ếch, cá, tôm…. Đã chủ động tiêu thoát với mức đảm bảo thấp tần suất p = 20% cho các khu vực chuyển đổi mạnh như vải ở huyện Thanh Hà, hoa hồng ở Gia Lộc, dưa hấu, cây ngắn ngày ở huyện Kim Thành… Một số khu công nghiệp như Đại An, Nam Sách, khu đô thị phía đông thành phố Hải Dương đã được chủ động trong tiêu thoát úng song vẫn còn nhiều khu công nghiệp đô thị chưa giải quyết được vấn đề tiêu úng như khu công nghiệp tầu thuỷ Lai Vu, khu đô thị phía tây thành phố Hải Dương

Tuy nhiên, do các công trình tiêu úng, tưới đều được xây dựng đã lâu,tình hình khí tượng thuỷ văn thay đổi trong điều kiện nền kinh tế còn kém phát triển, cơ cấu sản xuất cây trồng còn lạc hậu đồng thời hệ thống công trình thuỷ lợi hiện tại đã quá cũ rão, lạc hậu, thiếu đồng bộ, thiếu công suất, thiếu công trình nên hiện tại hệ thống công trình thuỷ lợi Hải Dương cũng còn có nhiều vấn đề cần phải được đánh giá lại, được bổ sung quy hoạch, đầu tư mới có thể đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế và dân sinh trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài.

Việc quản lý, khai thác còn có nhiều tồn tại về mô hình quản lý, quy mô quản lý, mối quan hệ giữa đơn vị chuyên ngành và chính quyền điạ phương. Sự phối hợp về đóng góp đầu tư, quản lý giữa nhà nước và nhân dân cũng còn có hạn chế. Chưa tạo ra được sân chơi bình đẳng trong quản lý khai thác các công trình thuỷ lợi giữa các thành phần kinh tế trong việc miễn giảm thuỷ lợi phí, cấp bù tiền điện bơm tiêu, bơm tưới vượt định mức...

Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cũng chưa có quy hoạch dài hơi mà vẫn còn mang tính trước mắt, sự phối hợp giữa các ngành chưa thật sự chặt chẽ nên vẫn còn có những mâu thuẫn không đáng có.

*Những kiến nghị và hướng giải quyết:

            Hiện nay sở đã ký hợp đồng kinh tế với Viện quy hoạch thuỷ lợi lập dự án quy hoạch thuỷ lợi tỉnh Hải Dương đến năm 2010 định hướng đến năm 2020, đến tháng 8/2007 sẽ hoàn thành báo cáo trình cấp có thẩm quyền phê duyệt làm cơ sở cho kế hoạch đầu tư xây dựng cải tạo nâng cấp hệ thống thuỷ lợi cho giai đoạn tới.

-          Sở đang soạn thảo quy định về bảo vệ CTTL dự kiến đến tháng 8/2006 sẽ thông qua UBND tỉnh phê duyệt làm cơ sở cho việc bảo vệ CTTL.

-          Đang xây dựng đề án thí điểm phân cấp CTTL 1 xã cho xã quản lý ở 3 huyện Thanh Hà, Bình Giang, Cẩm Giàng trình tỉnh để tổng kết nhân ra diện rộng trong thời gian tới.

-          Đầu tư thích đáng cho công tác thuỷ lợi về cả con người, cơ sở vật chất, xây dựng công trình cần thiết trên cơ sở có thứ tự ưu tiên.

-          Hoạch định chính sách đầu tư, quản lý, khai thác bảo vệ công trình thuỷ lợi đầy đủ.

VI. Các vấn phát sinh trong lưu vực, khó khăn tồn tại và các kiến nghị của địa phương thuộc lưu vực với Ban QLQH lưu vực sông Hồng – Thái Bình, với các địa phương khác trong lưu vực:

-          Xây dựng Quy hoạch tổng thể của hệ thống BHH tiến độ còn chậm hoàn thành theo kế hoạch Bộ giao gây khó khăn cho công tác quy hoạch của tỉnh Hải Dương. Hiện nay tỉnh Hải dương đang tập trung chỉ đạo xây dựng quy hoạch thuỷ lợi 5 huyện vùng triều xong trong năm 2006

-          Vấn đề xả nước thải vào hệ thống CTTL: chức năng quản lý lưu vực sông còn chưa rõ ràng, cụ thể

-          Vấn đề điều tiết nước trên hệ thống sông Hồng, Thái Bình sau khi có thuỷ điện Hoà Bình, Sơn La cần phải được xem xét để tính toán quy hoạch cho hệ thống thuỷ văn của các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.

-          Cần có quy trình vận hành hồ Hoà Bình trong mùa kiệt để các địa phương chủ động trong kế hoạch chống hạn hàng năm, tránh tình trạng bị động như hiện nay.

-          Đề nghị Bộ, cục Thuỷ lợi, Ban quản lý lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình cho tỉnh Hải Dương được tham gia ban quản lý lưu vực sông Cầu vì đoạn sông Thương chảy qua Hải Dương là 15 km (từ sông Lục Nam đến Phả Lại); Toàn bộ ảnh hưởng ô nhiễm nước của sông Cầu ảnh hưởng đầu tiên, trực tiếp đến sản xuất, đời sống của Hải Dương. Vấn đề này tôi đã trực tiếp đề nghị nhiều lần nhưng chưa được công nhận.

            Sở Nông nghiệp và PTNT Hải Dương

                                                                                               

 
CÁC TIN KHÁC
  THAM LUẬN CỦA TỈNH BẮC KẠN TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2006
  SỰ PHỐI HỢP QUẢN LÝ TỔNG HỢP LƯU VỰC SÔNG VỚI CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT, ĐỜI SỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG
  BÁO CÁO CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG LỤT BÃO 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2006
  CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG HẠN PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2006
  KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG CỦA TIỂU BAN QLQH LƯU VỰC SÔNG CẦU

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn