I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
THAM LUAN TỈNH THÁI NGUYÊN
 

CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG LƯU VỰC SÔNG CẦU

Năm 2006 là năm đầu của kế hoạch 5 năm 2006~2010, cũng là năm kế tiếp của kỳ kế hoạch 5 năm 2001~2005. Đến tháng 6/2006 tỉnh Thái Nguyên đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra trong năm 2005 và 6 tháng đầu năm 2006 trong đó ngành Nông nghiệp & PTNT đã đạt được những thành tích nổi bật đáng kể:

- Đánh giá kết quả công tác thủy lợi phục vụ sản xuất và đời sống của địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2006: Năm 2006 Ngành Nông nghiệp & PTNT Thái Nguyên được UBND tỉnh giao các chỉ tiêu kế hoạch chính: Sản lượng lương thực có hạt: 385.000 tấn, diện tích chè trồng mới, phục hồi: 600 ha, sản lượng chè búp tươi 110.400 tấn, trồng mới rừng tập trung 2.550 ha, trong đó trồng rừng phòng hộ 1.300 ha, trồng rừng sản xuất 1.250 ha; sản xuất 45.600 tấn thịt; 4000 tấn thuỷ sản; Các chương trình Mục tiêu Quốc gia: Định canh định cư, Nước sạch và VSMT nông thôn, các Dự án ODA sử dụng nguồn vốn vay của các tổ chức Quốc tế... Năm 2006 cũng là năm tiếp tục thực hiện những chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển nông thôn theo hướng CNH – HĐH đã và đang phát huy, tạo động lực mới thúc đẩy sản xuất nông lâm nghiệp và phát triển nông thôn.

            Trong 6 tháng đầu năm 2006, sản xuất nông lâm nghiệp của tỉnh gặp nhiều bất lợi, hạn đầu vụ kéo dài trên diện rộng các hồ, đập nhỏ do xã quản lý khai thác đã phải tháo cạn tận đáy nên không còn nước tưới dưỡng làm ảnh hưởng tiến độ gieo cấy và sinh trưởng của cây trồng, trồng rừng chậm so với kế hoạch.

1. Sản xuất nông nghiệp

Ngay từ đầu vụ mưa năm 2005 sở đã chỉ đạo công ty Khai thác Thủy lợi của tỉnh và các huyện xây dựng ngay kế hoạch tích trữ nước các hồ chứa lớn do tỉnh quản lý, đặc biệt đối với các hồ áo nhỏ để có đủ nước phục vụ cho sản xuất Nông – Lâm – Ngư nghiệp. Kết quả phục vụ được thể hiện trên các mặt nổi bật như sau:

Trồng trọt:

Tổng diện tích gieo trồng cây nông nghiệp vụ đông xuân 2005 - 2006 là 63.205,5 ha, trong đó: diện tích trồng cây hàng năm 63.032 ha, chiếm 99,73% tổng diện tích, đạt 98% kế hoạch và bằng 100,07% so với cùng kỳ. Trong đó:

- Sản xuất lương thực: Diện tích gieo cấy lúa xuân 28.596 ha, đạt 101,2% so KH, bằng 101,10% so cùng kỳ, diện tích ngô 12.319 ha, đạt 94,5% so KH. Mặc dù thời tiết khô hạn kéo dài, lượng mưa thấp hơn so với mọi năm, nhưng diện tích gieo cấy lúa xuân vượt 1,2% kế hoạch giao và tăng 1,1% cùng kỳ. Theo báo cáo của Cục Thống kê tỉnh, sản lượng lương thực cây có hạt vụ đông xuân (2005-2006) ước thực hiện 180.749 tấn, đạt 97,3% so KH vụ và đạt 47% so kế hoạch cả năm. Trong đó: sản lượng lúa 137.320 tấn, đạt 99,8% so KH vụ, bằng 99,95% cùng kỳ; sản lượng ngô 43.429 tấn, đạt 95,8% so KH, bằng 95% cùng kỳ.

- Các cây trồng hàng năm khác: khoai lang trồng 7.848 ha, sản lượng 47.194 tấn; diện tích sắn đã trồng 3.935 ha; rau các loại 5.448 ha, sản lượng đạt 6.407 tấn; cây công nghiệp hàng năm 5.924 ha, trong đó đỗ tương 1.918 ha, sản lượng 2.315 tấn, lạc 3.406 ha, sản lượng 3.890 tấn, thuốc lá 584 ha, sản lượng 669 tấn; cây thanh hao hoa vàng 450 ha; diện tích hoa các loại đạt 15 ha.

- Cây công nghiệp lâu năm:

+ Cây chè: Đã chuẩn bị 162 vườn ươm chè giống với 1.270 vạn hom giống chè các loại phục vụ trồng chè vào tháng 8, tháng 9/2006. Các địa phương đang tập trung chăm sóc diện tích chè đã trồng năm 2005, chăm sóc vườn ươm chè giống mới và chuẩn bị đất trồng chè năm 2006. Đã thâm canh có nước tưới chủ động được 2.750 ha, cải tạo 165 ha, trồng mới 173,5 ha.

 Sản xuất Thuỷ sản:

Những tháng đầu năm 2006 thời tiết rét đậm, đã ảnh hưởng đến sản xuất và lưu giữ giống qua đông, giữa vụ hạn hán kéo dài gây ảnh hưởng đến mùa vụ nuôi thả cá và sản xuất cá giống. Qua 6 tháng đầu năm, sản lượng thuỷ sản đạt ước 2.250 tấn, đạt 56,3% KH năm, tổng giá trị sản lượng đạt 33.750 triệu đồng.

Về sản xuất con giống, các trạm trại của Trung tâm Thuỷ sản đã sản xuất được 80 triệu con cá bột, trên 3 triệu con cá hương. Tiếp tục đầu tư nâng cấp trại cá giống Cù Vân lấy nước chủ động từ hồ Phượng Hoàng dẫn về trại giống, đến nay đã thi công giai đoạn II đạt 30% kế hoạch khối lượng (giai đoạn I đã thi công đạt 90% khối lượng).

Toàn tỉnh Thái Nguyên có trên hai ngàn công trình thủy lợi, bao gồm các loại: 270 hồ chứa nước; 97 đập dâng kiên cố; 218 trạm bơm điện; 35 trạm bơm dầu; 1 trạm bơm tiêu úng ; 47 km đê điều và hàng ngàn công trình phai đập tạm.

Vụ Đông Xuân năm nay, các công trình thủy lợi đã đảm bảo tưới chắc chắn cho 25.000 ha lúa; 11.000ha rau màu; 4.500ha ngô đông; tạo nguồn nước tưới cho trên 2.500 ha chè;... Không có một diện tích lúa nước nào phải chuyển đổi sang cây trồng cạn.

Hầu hết các công trình thủy lợi của tỉnh đều được khai thác đa mục tiêu: tưới; thuỷ sản; du lịch; cấp nước. Tiêu biểu nhất là công trình thủy lợi Núi Cốc, ngoài cấp nước cho sản xuất nông nghiệp của tỉnh, cấp nước thô cho nhà máy nước Tích Lương để cung cấp nước sinh hoạt cho thành phố Thái nguyên, thị xã Sông Công, còn tiếp nước cho hệ thống nông giang sông Cầu, khai thác thuỷ sản, và cũng là một điểm du lịch hấp dẫn của các du khách trong, ngoài nước. Chúng tôi cũng đã nghiên cứu khai thác đầu tư một nhà máy thuỷ điện sau đập, sắp tới đây khả năng có thể khai thác được khoảng 2 MW.

Tuy nhiên hầu hết các công trình thủy lợi của tỉnh Thái Nguyên đã xuống cấp nghiêm trọng, nếu không được kịp thời đầu tư tu bổ sữa chữa, thì không thể phục vụ được.

Tình trạng xuống cấp của các công trình thủy lợi của tỉnh Thái Nguyên một phần do đặc điểm chung của các công trình thủy lợi là luôn luôn tiếp xúc với nước, bị tác động trực tiếp phá hoại của dòng nước, nhất là mưa lũ, lũ quét; còn vì công trình đã được xây dựng quá lâu: Trên 60% xây dựng từ những thập kỷ 60~70 của thế kỷ 20, mà hàng năm hầu như chưa được tu bổ. Những năm gần đây, tuy đã được quan tâm nhưng vì điều kiện khó khăn của ngân sách tỉnh nên hàng năm kinh phí đầu tư chẳng được là bao (bình quân 5 năm, mỗi năm chỉ được đầu tư không quá 1 tỷ đồng!...).

Bên cạnh đó công tác Quản lý Khai thác công trình cũng còn nhiều vấn đề tồn tại chưa giải quyết được như: Chưa có một chương trình, dự án đầu tư nào mang tính khoa học hiện đại cho công tác quản lý khai thác; cho việc đào tạo cán bộ cũng như cho các trang thiết bị cần thiết cho công tác này.

Tuy nhiên việc phục vụ vẫn cứ phải phục vụ hết mình (!): Nhiều công trình hồ chứa đập đã bị thẩm lậu, cống đã bị xói mang vẫn cứ phải tích nước để phục vụ sản xuất, như hồ Ghềnh Chè (thị xã Sông Công); hồ Tân Kim huyện (Phú Bình); đập Đồng Chốc (huyện Đồng Hỷ), hồ Cây Hồng (huyện Võ Nhai)....

Để khắc phục tình trạng này, cuối năm 2005 công ty Quản lý khai thác công trình thủy lợi của tỉnh đã tiến hành điều tra rà soát toàn bộ hệ thống công trình Thủy lợi của tỉnh. Song từ việc "biết thế" đến việc "làm thật" cũng còn là một khoảng cách xa vời!.....

Có lẽ vấn đề xuống cấp các công trình thủy lợi không chỉ ở tỉnh Thái Nguyên; công tác đầu tư cho việc chống xuống cấp các công trình cũng là một vấn đề bức xúc của mọi tỉnh. Các công trình Thủy lợi hiện đại, kiên cố vững chãi đến mấy cũng chỉ là những đống bê tông, đống đất trơ trọi, vô dụng mà thôi. Đó là vấn đề nguồn nước của công trình; mà nguồn nước của công trình thủy lợi chính là nguồn nước của lưu vực.

Trong khuôn khổ dự án Lưu vực sông Hồng-Thái Bình, chúng ta đã bàn nhiều vấn đề, rất nhiều giải pháp, nhưng tưu chung lại đó cũng chính là việc làm thế nào để bảo vệ được nguồn nước, giải pháp nào để nguồn nước trong lưu vực được dồi dào, làm thế nào cho chất lượng nguồn nước trong lưu vực được tốt, làm thế nào để có sự cộng đồng trách nhiệm, có sự chia sẻ, bổ sung nguồn nước trong lưu vực với tinh thần tương thân tương ái cao.

Chúng tôi hoàn toàn nhất trí cao với các kết luận của các kì họp, Hội thảo do Ban Quản lý lưu vực sông Hồng-Thái Bình đã chủ trì cùng các chủ trương chính sách cũng như các Chương trình hành đông mà chúng ta đã khởi thảo. Và chúng ta cũng đã làm, đã thực hiện, đã phát huy hiệu quả của dự án đó.

Chúng tôi hy vọng từ nay tiểu Ban QLQH lưu vực sông Cầu nằm trong hệ thống Ban QLQH lưu vực sông Hồng – Thái Bình đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT quyết định thành lập một ngày không xa dự án của chúng ta sẽ là một mối liên kết thống nhất giữa các tỉnh trong lưu vực, có kế hoạch đầu tư, khai thác tốt đẹp, đạt được mục tiêu và hiệu quả đề ra.

Tỉnh Thái Nguyên chúng tôi đã nhất trí cao và đã gửi danh sách lãnh đạo tỉnh và các ngành tham gia vào Ban Quản lý Quy hoạch tiểu lưu vực sông Cầu cũng như có được trụ sở làm việc của Ban Quản lý Quy hoạch tiểu lưu vực sông Cầu tại thành phố Thái Nguyên.

Các công trình thủy lợi của tỉnh đã xuống cấp nghiêm trọng. Do vậy, vấn đề đầu tư cho công tác tu bổ sửa chữa, kiên cố hoá đồng bộ các hệ thống thủy lợi của Thái Nguyên là việc làm rất quan trọng và cấp thiết, nó chẳng những phục vụ đời sống dân sinh kinh tế của tỉnh Thái Nguyên mà còn là một giải pháp hữu hiệu trong việc duy trì và bảo vệ nguồn nước trong lưu vực. Tỉnh Thái Nguyên rất mong trong khuôn khổ giai đoạn III của dựa án lưu vực sông Hồng - Thái Bình, sẽ trợ giúp đầu tư cho tỉnh Thái Nguyên một số dự án cấp thiết như:

1-Tu bổ nâng cấp hồ Ghềnh Chè; xây dựng hệ thống trạm bơm điện Việt Cường, Hoá Thượng; đầu tư kiên cố Kênh tiếp nước từ hồ Núi Cốc chuyển nước cho Nông giang sông Cầu (cấp nước cho Bắc Giang).

2- Cụm công trình thủy lợi Đại Từ gồm nâng cấp và làm mới 6 hồ chứa, 3 trạm bơm điện.

3- Cụm công trình thủy lợi Võ Nhai: hồ Quán Chẽ, hồ Bình Long, đập Suối Bùn và hồ Cây Hồng

4- Cụm công trình Tây Phổ Yên: Nâng cấp sửa chữa hồ Suối Nước tưới 330 ha, làm mới hồ Nước Hai chống lũ quét và tưới 450 ha.

5- Xây dựng và nâng cấp hoàn chỉnh hệ thông đê, kè và chống sói lở bờ sông thuộc sông Cầu và sông Công.

 6- Đặc biệt là hồ chứa nước Văn Lăng trên sông Cầu - tỉnh Thái nguyên sẽ giải quyết đạt hiệu quả cao nhất về chống lũ lụt cho hạ lưu sông Cầu, phát điện khoảng 16 MW, góp phần điều tiết nguồn nước bị thiếu về mùa kiệt của sông Cầu cho hạ lưu.

Ngoài công tác đầu tư xây dựng cơ bản ra chung tôi đề nghị Bộ Nông nghiệp và PTNT quan tâm đào bồi dưỡng cán bộ và người hưởng lợi từ công trình thủy lợi về công tác quản lý, khai thác công trình và ý thức bảo vệ nguồn nước về trữ lượng và chất lượng trong lưu vực.

Giúp đỡ xây dựng quy trình vận hành và khai thác hồ chứa nước Núi Cốc, đông thời đề nghị Bộ nông nghiệp và PTNT uỷ quyền cho tỉnh được cấp phép khai thác vật liệu xây dựng trong lòng hồ Núi Cốc.

SỞ NÔNG NGHIỆP & PTNT THÁI NGUYÊN

Đinh Khắc Tĩnh

Phó giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT Thái Nguyên

Thành viên Ban QLQH lưu vực sông Hồng – Thái Bình

 
CÁC TIN KHÁC
  THAM LUẬN CỦA TỈNH HẢI DƯƠNG TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2006
  THAM LUẬN CỦA TỈNH BẮC KẠN TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2006
  SỰ PHỐI HỢP QUẢN LÝ TỔNG HỢP LƯU VỰC SÔNG VỚI CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT, ĐỜI SỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG
  BÁO CÁO CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG LỤT BÃO 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2006
  CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG HẠN PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2006

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn