I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
BÁO CÁO THAM LUẬN TỈNH NINH BÌNH
 

1/ Tình hình và đặc điểm:           

 Ninh Bình là một tỉnh nằm ở phía Nam đồng bằng Châu thổ Sông Hồng với diện tích 1420,76km2, Phía Bắc và Đông Bắc giáp Tỉnh Nam Định và Hà Nam; Phía Tây Nam giáp Tỉnh Thanh Hoá ; Phía Tây giáp Tỉnh Hoà Bình ; Phía Nam giáp Biển. Diện tích có khả năng nông nghiệp là 67.125 ha. Dân số: 897.812 người, thành thị: 121. 458 người ; Nông thôn: 776.354 người, chia thành 6 huyện và 2 thị xã, Lương thực bình quân đầu người 507 kg/người, Nhiều năm qua cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, chuyển dịch cơ cấu công nông, lâm nghiệp công tác thuỷ lợi đã được quan tâm đầu tư tạo nên một hệ thống công trình thuỷ lợi to lớn. Về địa hình tỉnh Ninh Bình có địa hình khá phức tạp (Miền núi, bán sơn địa, chiêm trũng và đồng bằng ven biển), chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu Bắc bộ và Khu bốn. Mạng lưới sông ngòi chằng chịt, đan xen với chế độ thuỷ triều phức tạp bao gồm tổ hợp các dạng lũ lớn: lũ sông Hoàng long từ Hoà Bình đổ về, lũ nội địa sông Đáy, lũ sông Hồng qua sông Đào Nam Định chuyển sang, thuỷ triều biển. Do vị trí địa lý nên Ninh Bình chịu ảnh hưởng của các loại thời tiết, khí hậu, sản xuất nông nghiệp gắp nhiều khó khăn, công tác phòng chống thiên tại rất phức tạp. Tuy nhiên trong năm 2005 Ninh Bình cũng đã đạt được kết quả nhất định.

2/ Kết quả công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất và đời sống trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2006:

Sáu tháng đầu năm 2006 đồng bằng sông Hồng nói chung, tỉnh Ninh Bình nói riêng thời tiết diễn biến phức tạp cụ thể:

+ Thời tiết khô hạn kéo dài, vụ chiêm xuân năm 2006 thời tiết khô hanh, lượng bốc hơi lớn, độ mặn tương đối cao.

+ Lượng mưa trong vụ chiêm xuân đạt từ 200 mm đến 400mm thấp hơn và sấp sỉ trung bình nhiều năm, lượng mưa đầu vụ rất thấp hơn nhiều trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm 2005, lượng mưa chủ yếu tập trung vào tháng 5.

+ Mực nước trên các triền sông thấp hơn trung bình nhiều năm, mực nước trung bình tháng trên sông Hoàng long tại bến Đế thấp hơn TBNN từ 0,3 cm ¸ 20 cm, trên sông Đáy tại Ninh Bình thấp hơn TBNN từ (10 ¸ 20) cm, thấp hơn cùng kỳ năm 2005 từ (01 ¸ 02) cm. Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2006 mực nước trên sông Hoàng Long tại bến Đế cao hơn mực nước cùng kỳ năm 2005 từ (04 ¸ 14) cm, trên sông Đáy tại Ninh Bình từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2006 mực nước trung bình tháng cao hơn TBNN từ (01 ¸ 05) cm, cao hơn cùng kỳ năm 2005 từ (02 ¸ 14) cm.

+ Độ mặn tại các cống lấy nước tưới của vùng triều tương đối cao. Trên sông Đáy tại cống Phát diệm là 20o/oo, Tại Yên Thái độ mặn là 10,7o/oo, trên sông Vạc tại cống Tân Hưng là 9,6o/oo.

Nhưng do nắm bắt được diễn biến thời tiết tỉnh đã chỉ đạo các địa phương lập phương án tưới cho vụ chiêm xuân nên đã chủ động và đạt được kết quả đáng kể cụ thể: Diện tích lúa được tưới là: 40.949ha/40.949 ha gieo cấy.

3/ Tình hình thiên tai và biện pháp khắc phục:

Sáu tháng đầu năm 2006 tại tỉnh Ninh Bình chịu ảnh hưởng thời tiết khô hạn, làm cho hàng chục nghìn ha đất bị thiếu nước. Nhưng do nắm bắt được tình hình thời tiết nên Tỉnh đã chỉ đạo các dịa phương và các ngành tập trung chống hạn nên đẫ đạt được kết quả tốt, không bị mất mùa do hạn hán.

Biện pháp khắc phục của địa phương:

+ Xây dựng biện pháp chống hạn cho từng vùng, từng địa phương để có biện pháp chỉ đạo cụ thể.

+ Đối với vùng triều: tranh thủ lấy nước những lúc triều cường và độ mặn cho phép, lấy đủ nước làm đất và trữ vào kênh mương, ao, đầm tạo nguồn để dùng biện pháp bơm tát.

+ Vùng bơm điện: Những thời điểm mực nước sông cao tranh thủ và tận dụng tối đa số máy bơm để bơm tưới và bơm trữ váo kênh mương tạo nguồn cho việc bơm tát.

+ Vùng hồ chứa: lập phương án lấy nước tưới và nước phục vụ cho sinh hoạt, tiết kiệm triệt để nước các hồ.

+ Phát động phong trào làm thuỷ lợi nội đồng, nhất là tập trung nạo vét các cửa cống tưới, âu, và các kênh dẫn nước vào trạm bơm để tạo nguồn tưới.

+ Thường xuyên kiểm tra công trình, sửa chữa kịp thời khi có sự cố, nhất là kiểm tra việc lấy nước tưới của các hồ chứa và độ mặn trên các sông để chỉ đạo việc lấy nước tưới.

Kết quả công tác thuỷ lợi 6 tháng đầu năm 2006 như sau:

+ Công tác tưới cho vụ chiêm 2005-2006: Diện tích lúa được tưới là: 40.949ha/ 40.949 ha gieo cấy.

+ Công tác thuỷ lợi nội đồng: Đào đắp được 1.100.000m3 đất, trong đó có 30.000 m3 nạo vét các cửa lấy nước ( Cửa cống, Âu, kênh dẫn váo trạm bơm, bể hút).

+ Công tác phòng chống lụt bão:

-          Xây dựng phương án phòng chống lụt bão năm 2006 và các phương án trọng điểm.

-          Tu bổ các tuyến đê cấp III: Đến 30/5/2006 đắp đê được 44.266/44.266 m3 đạt 100% kế hoạch giao.

-          Công tác duy bảo dưỡng thường xuyên: Tổ chức thi công được 22/22 hạng mục với khối lượng 39.905m3 đất đá và 2.647 cụm tre.

-          Công tác tu bổ đê nội Tỉnh: Đắp được 79.000/79.000m3 đê cấp IV, cấp V và gia cố 8.963/8.963 mks (mét khoan sâu) đạt 100% kế hoạch.

4/ Các vấn đề phát sinh trong lưu vực, những khó khăn, kiến nghị của địa phương:

a/ Nhu cầu sử dụng nước tỉnh Ninh Bình:

- Để đảm bảo cho diện tích 42000 ha trồng lúa và 12000 ha trồng màu, cây ăn quả hàng năm cần khoảng 480 triệu m3 nước/năm

-          Nhu cầu cho mục đích sinh hoạt khoảng 24 triệu m3/năm

-          Nhu cầu sử dụng nước cho công nghiệp một số năm tới trung bình khoảng 630 triệu m3/năm

Tổng nhu cầu nước sử dụng hàng năm khoảng 1,1 tỷ m3

b/ Cân đối nguồn nước:

Do sự phát triển đô thị và công nghiệp:

- Mùa kiệt: Cân đối nguồn nước đối với Ninh bình còn thiếu đặc biệt là mùa kiệt nổi bật là hạn nặng vào vụ chiêm xuân 2004, chiêm xuân 2005

- Mùa lũ: từ tháng 5 đến tháng 10 chịu ảnh hưởng của phân lũ Sông Hồng qua sông Đáy và lũ Sông Hoàng Long, Sông Tống Thanh hóa gây ngập lụt nhất là các năm 1978, 1985, 1994, 1996, 2000.

c. Công tác thuỷ lợi phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi:

Thực hiện chủ trương công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn của Đảng và nhà nước, căn cứ vào định hướng quy hoạch vùng sản xuất hàng hoá bố trí hợp lý giống cây trồng, mùa vụ giống vật nuôi, đưa nhanh tiến bộ khoa học vào sản xuất nhằm tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá có giá trị kinh tế cao tạo ra 3 vùng kinh tế tập trung:

- Vùng kinh tế ven biển:

+ Chuyển diện tích trồng lúa, trồng cói sang nuôi trồng thuỷ sản như tôm sú, của đến 2010 phấn đấu 2200 ha (kể cả lấn biển). Đã có quy hoạch thuỷ lợi và dự án đầu tư của Bộ Nông nghiệp & PTNT cho 1345 ha với kinh phí khoảng: 155 tỷ đồng.

 + Chuyển diện tích trồng lúa sang chuyên canh cói lên 1500 ha.

- Vùng cây nguyên liệu tập trung: Diện tích khoảng 6000 ha tập trung tại huyện Nho Quan, thị xã Tam Điệp là vùng đất thoải, thổ nhưỡng tốt nhưng thiếu nước chủ yếu tập trung trồng dứa và mía. Vùng Đồng Giao - Thị xã Tam Điệp dự kiến khoảng 3200ha hiện nay Bộ Nông nghiệp & PTNT đã cho lập dự án khai thác nước để tưới và Bộ dự kiến đầu tư dự án mẫu với diện tích tưới 120 ha ước tính kinh phí khoảng 13 tỷ đồng.

- Vùng nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt: Chuyển dịch diện tích thấp trũng, vụ mùa năng suất thấp bấp bênh ở các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Yên Mô, Hoa lư sang nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt như tôm càng xanh, cá chim trắng, rô phi đơn tính …. với tổng diện tích khoảng 8000 ha.

Trước yêu cầu chuyển đổi về cơ cấu cây trồng vật nuôi nhưng hiện nay cơ sở hạ tầng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu.

d/ Tình hình phát triển đô thị và khu công nghiệp:

            - Tốc độ phát triển đô thị tỉnh Ninh Bình đang phát triển khá nhanh năm 2004 thị xã đã có diện tích 4840 ha và dự kiến đến năm 2007 đưa thị xã Ninh bình lên thành phố.

- Trên địa bàn tỉnh hiện nay đang xây dựng 2 khu công nghiệp Gián Khẩu: 110 ha và khu công nghiệp Ninh phúc: Trên 300 ha đang kêu gọi các nhà đầu tư. Việc phát triển đô thị và các khu công nghiệp cũng sẽ đặt ra vấn đề môi trường trong đó có môi trường nước trong tương lai gần.

e/ Vấn đề hành lang thoát lũ của sông Đáy:

Hành lang thoát lũ của các tuyến sông là vấn đề hết sức nhậy cảm nhưng nếu không đảm bảo hành lang thoát lũ thì tương lai có thể gây hậu quả khó lường. Một số nơi nhân dân vì lợi ích cục bộ đã lấn chiếm bãi sông làm nhà cửa lều lán, bến đò, bãi vật liêu, làm cản trở dòng chảy thoát lũ gây xâm hại, sạt lở bãi sông, sạt lở đê phái bờ đối diện. Các cơ quan chức năng quản lý đê điều đã tích cực ngăn chặn, giải tỏa các vi phạm trên nhưng nhân dân vẫn chưa chấp hành triệt để.

f/ Các vấn đề đặt ra cho công tác thuỷ lợi:

Qua tình hình thời tiết các năm qua và 6 tháng năm 2006 các vấn đề cần được quan tâm giải quyết là:

+ Củng cố, nâng cấp các tuyến đê nhất là tuyến đê biển.

+ Công tác tiêu úng: Hệ số tiêu úng tại Ninh Bình cần được tính toán lại cho phù hợp đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất của địa phương.

+ Sửa chữa, nâng cấp các công trình đầu mối đã xuống cấp và không phù hợp để đảm bảo yêu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp.

+ Xây dựng các hệ thống công trình tưới cho cây trồng cạn.

+ Cần phải xây dựng một số công trình ngăn mặn: Âu Cầu Hội, Âu Kim đài…

+ Quy hoạch thủy lợi của tỉnh Ninh Bình được lập từ lâu, hiện tại các ngành kinh tế đã phát rất cao nhất là sản xuất nông nghiệp đã chuyển đối mạnh mẽ về cơ cấu cây trồng, do vậy hệ thống công trình thuỷ lợi hiện tại trong tỉnh không đáp ứng được yêu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp, các ngành kinh tế và phục vụ đời sông của nhân dân. Công tác thuỷ lợi cần phải được nghiên cứu quy hoạch lại cho phù hợp.

Ninh Bình là một tỉnh thuần nông, mức thu nhập thấp nguồn vốn đầu tư cho xây dựng mới, sửa chữa nâng cấp công trình thuỷ lợi còn hạn hẹp. Mặt khác các công trình hiện đang bị xuống cấp nghiêm trọng không đáp ứng được yêu cầu phòng chống bão lũ và phục vụ sản xuất nông nghiệp. Đây là một khó khăn rất lớn trong phát triển kinh tế của địa phương.

Đề nghị Ban Quản lý QH lưu vực sông Hồng - Thái Bình nghiên cứu giúp đỡ địa phương quy hoạch chi tiết hệ thống công trình thuỷ lợi, lập một số dự đầu tư để kêu gọi vốn đầu tư quốc tế.

5/ Những yêu cầu phối hợp đa ngành và liên tỉnh trong phát triển lưu vực:

Công tác thuỷ lợi là công tác rất lớn trong phát triển kinh tế xã hội của một Quốc gai, ảnh hưởng đến nhiều ngành, nhiều cấp và đến người dân do vậy sự phối hợp giữa các ngành, các địa phương cần được nâng cao hơn nữa. Các địa phương các ngành quan tâm hơn nữa đến công tác thuỷ lợi, tạo điều kiện thuận lợi để ngành xây dựng được nhiều cơ sở vật chất kỹ thuật và quản lý khai thác tốt nâng cao hiệu quả các công trình xây dựng, phục vụ ngày một tốt hơn cho sản xuất, đời sống của nhân dân.

Các tỉnh trong lưu vực thường xuyên trao đổi kinh nghiệm về quy hoạch, xây dựng và quản lý hệ thống công trình thuỷ lợi và phòng chống thiên tai.

6/ Đề xuất ưu tiên đầu tư trong lưu vực:

Đầu tư xây dựng và nâng cấp các tuyến đê biển, các công trình ngăn mặn, các hồ chứa, các cống, âu có nhiệm vụ tạo nguồn tưới và ngăn lũ.

Sở Nông nghiệp & PTNT Ninh Bình

 
CÁC TIN KHÁC
  BÁO CÁO THAM LUẬN CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  THAM LUAN TỈNH THÁI NGUYÊN
  THAM LUẬN CỦA TỈNH HẢI DƯƠNG TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2006
  THAM LUẬN CỦA TỈNH BẮC KẠN TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2006
  SỰ PHỐI HỢP QUẢN LÝ TỔNG HỢP LƯU VỰC SÔNG VỚI CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT, ĐỜI SỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn