I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
THAM LUẬN TỈNH THÁI BÌNH
 

I- Kết quả công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất, dân sinh

1- Diễn biến hạn nguồn nước trong vụ xuân:

- Độ mặn vùng cửa sông thuộc tỉnh Thái Bình tương đương cùng kỳ năm 2005 và xuất hiện từ con nước thứ sáu, sớm hơn hai năm 2004 và năm 2005.

- Mực nước sông Hồng, sông Trà Lý, sông Luộc giai đoạn đổ ải tập trung xuống thấp, thời gian mở được các cống lấy nguồn nước vào hệ thống ngắn, nhiều cống tưới chủ lực triền sông Hồng như Nguyệt Lâm, triền sông Trà Lý như Thái Phúc bị mặn xâm nhập không mở được. Do đó nguồn nước cho các trạm bơm tưới khó khăn, hàng loạt trạm không hoạt động được, trong đó điển hình là 33 TB lấy nước từ sông Lão Khê, sông Thái Sư (huyện Hưng Hà), 10 TB (huyện Kiến xương), 5 TB vùng cao huyện Vũ Thư...

2- Biện pháp xử lý khắc phục:

+ Công tác chuẩn bị được chủ động tiến hành sớm: Ngành Nông nghiệp & PTNT đã tham mu cho UBND tỉnh tập trung chỉ đạo chiến dịch làm thủy lợi Đông Xuân năm 2005-2006, thu hút đông đảo các lực lượng cán bộ, học sinh tham gia lao động XHCN tạo khí thế mới về xã hội hóa công tác thủy lợi. Tổng khối lượng đào đắp: 4.188.237 m3 , trong đó hòan thành 100% kế hoạch nạo vét sa bồi 86.877 m3, nạo vét sông trục dẫn 1.543.460 m3, tu bổ sửa chữa các trạm bơm, cống đập sẵn sàng phục vụ đổ ải.

+ Xây dựng phuơng án Điều tiết nước chống hạn và xâm nhập mặn đối với 2 hệ thống thủy nông Bắc và Nam tỉnh.

+ Tranh thủ giờ triều cường mở cống lấy nước và bơm tát.

+ Điều hành đổ ải sớm trong kỳ triều cường cao tháng 1 khi mực nước cao, chấp nhận thời gian dưỡng ải kéo dài chủ động tránh đổ ải tập trung vào lúc mực nước nguồn xuống thấp.

+ Sử dụng các trạm bơm tiếp nguồn cho những trạm bơm ở vùng cao nh: TB Minh Tân (Hng Hà), tiếp nguồn cho vùng ven biển không có đủ nguồn nước do bị mặn xâm nhập nh TB Thái Học, Hệ; dùng trạm bơm Thống Nhất (Tiền Hải) tưới cho vùng tự chảy hàng năm nhng năm 2006 mực nước thấp không tự chảy được...

+ Điều tiết hợp lý nguồn nước giữa các vùng, hạn chế thời gian mực nước thấp ở vùng cao, phòng mặn xâm nhập ở vùng ven biển, đảm bảo đổ ải hết diện tích trong thời vụ gieo cấy tốt nhất.

3- Kết quả:

a. Công tác thuỷ nông phục vụ sản xuất:

- Phục vụ tưới tiêu cho tổng diện tích gieo trồng 96.753 ha, trong đó diện tích lúa 82.159 ha, màu xuân 15.313 ha. Năng suất vụ xuân bình quân toàn tỉnh đạt trên 70 tạ/ha.

- Cấp nguồn nước cho các nhu cầu sản xuất công nghiệp và làng nghề trên địa bàn toàn tỉnh.

- Tiêu thau nước hai hệ thống sông Tiên Hng và sông Kiến Giang thoát nước thải từ các khu công nghiệp, nước thải sinh hoạt, duy trì chất lượng nước phục vụ cấp nước cho hệ thống các nhà máy nước sinh hoạt ở các thị trấn, thị tứ...

- Xây dựng và triển khai đề án công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất vụ mùa và vụ đông năm 2006. Hoàn thành xong công tác kiểm tra công trình thuỷ nông phòng chống lũ, bão, úng.

- Điều tiết hệ thống thuỷ nông phục vụ cấy 20.000 ha trà lúa mùa sớm trong tháng 6 để tạo quỹ đất trồng cây vụ đông chủ yếu là Ngô, đậu tương.

b. Công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuỷ nông:

- Xây dựng phương án thuỷ lợi phí theo NĐ143 và miễn giảm thuỷ lợi phí cho nông dân báo cáo UBND tỉnh đệ trình Hội đồng nhân dân tỉnh khoá XIV kỳ họp thứ 6 (19/7 – 21/7/2006).

- Xây dựng Đề án phân cấp quản lý công trình thuỷ lợi cho cơ sở đang trình UBND tỉnh phê duyệt.

- Tổ chức sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp thuỷ nông từ 10 công ty trực thuộc Sở Nông nghiệp & PTNT sát nhập thành 2 Công ty KTTL Bắc, Nam tỉnh đã hoàn thành và đi vào hoạt động từ tháng 5/2006.

- Kiểm tra các vi phạm công trình thuỷ lợi: hầu hết các vi phạm đối với phạm vi bảo vệ sông trục, số thống kê toàn tỉnh có 2.817 hộ làm nhà, lều quán vi phạm lưu không sông trục (đa số vi phạm từ nhiều năm trước đây, số phát sinh mới không có), làm bãi vật liệu, xây lò vôi, lò gạch 273 điểm, ngoài ra tình trạng thả bèo, đăng đó vó bè còn phổ biến...đã chỉ đạo xử lý điểm nóng tại xã Hoà Bình huyện Kiến xương ngăn chặn kịp thời vi phạm. Tham mu cho UBND tỉnh ra chỉ thị số 11/2006/ CT-UBND phòng chống úng vụ mùa chỉ đạo UBND các huyện thực hiện công tác giải phóng dòng chảy.

c- Công tác tu bổ đê điều và phòng chống lụt bão.

- Tu bổ đê điều thường xuyên thực hiện vốn 10.042 triệu đồng đã hoàn thành 7/9 hạng mục với khối lượng đào đắp 131.421 m3 đạt 100% kế hoạch. Có 2 hạng mục không thực hiện được do kinh phí giải phóng mặt bằng quá lớn (gấp 3 lần kinh phí đầu tư) là: đắp cơ và gia cố mặt đê Hữu Luộc (K2 + 200 – K3+100) huyện Hng Hà và đê Hữu Hoá huyện Quỳnh Phụ.

Cứng hoá mặt đê thực hiện khối lượng đất đắp 2.080 m3 và 1.915 m3 gạch, đá các loại. Xây dựng mới 8 điếm canh đê. Cải tạo nâng cấp đê kè sông Trà Lý (thành phố Thái Bình) giai đoạn II đã thực hiện được 26% kế hoạch.

- Duy tu bảo dưỡng đê đã hoàn thành đắp tầng phản áp chống sủi với 4 hạng mục, khối lượng thực hiện 64.164 m3 đất đắp đạt 100% kế hoạch, đắp cơ đê trồng tre đê Hồng Hà I và đê Hữu Luộc thực hiện 26.193 m3 đất và trồng 2.210 khóm tre chắn sóng.

- Triển khai công tác phòng chống lụt bão tới các cấp, các ngành theo sự phân công của BCHPCLB tỉnh. Các huyện, thành phố đã phối hợp với 2 công ty KTTL Bắc, Nam Thái Bình tổ chức kiểm tra, đánh gía chất lượng đê, kè, cống trước mùa lũ bão. Các cấp, các ngành, các địa phương đã triển khai tập huấn cho cán bộ và các lực lượng tham gia PCLB năm 2006.

 II- Những khó khăn tồn tại:

1- Vụ xuân năm 2006, cơ cấu các giống lúa có chuyển biến trà xuân sớm 21,15%, xuân muộn 78,85% song vẫn cha đạt chỉ tiêu kế hoạch. Diện tích phía bắc tỉnh chủ yếu đổ ải trong tháng 1, một số vùng chủ động tránh khó khăn do mực nước nguồn xuống thấp đã đổ ải sớm nên thời gian dưỡng ải kéo dài tốn tiền điện, nước. Tuy vậy cũng góp phần giảm bớt căng thẳng về nguồn nước giai đoạn đổ ải tập trung.

Vụ xuân 2007 Thái Bình phấn đấu chuyển đổi cơ cấu đạt 100% trà xuân muộn, đổ ải làm đất cấy chủ yếu trong tháng 2 vào lúc thuỷ triều thấp, lại vào đúng thời điểm các tỉnh trong lưu vực đều tập trung đổ ải. Nếu nguồn nước khó khăn nh vụ xuân năm 2006 chắc chắn phải có sự can thiệp xả hồ Hoà Bình ở mức cao hơn năm 2006 mới đảm bảo tiến độ đổ ải theo thời vụ cấy lúa xuân cho các tỉnh trong lưu vực trong đó có Thái Bình.

2- Chương trình phát triển vụ đông thành vụ chính của Thái Bình những năm tới cần đầu tư kiên cố hệ thống kênh tưới rất lớn, song với mức đầu tư như những năm qua không đáp ứng yêu cầu.

3- Thực trạng hệ thống sông trục dẫn nước của Thái Bình rất nông, hẹp do nhiều năm không được nạo vét là nguyên nhân chính làm cho nguồn nước tưới chung cả 3 vụ trong năm không đảm bảo nhất là các thời điểm quan trọng như: đổ ải vụ xuân, giai đoạn hạ thấp mực nước sông trục phòng úng, tưới cây vụ đông. Mặt khác hệ thống sông trục nông nên khả năng trữ nước đệm và tiêu thoát nước kém, hạn chế khai thác năng lực tiêu tự chảy vùng triều.

4- Yêu cầu đầu tư cải tạo, nâng cấp các cống dưới đê đã xuống cấp hiện nay ngoài đảm bảo an toàn chống lũ còn đặt ra những nhiệm vụ kết hợp để khai thác lấy nước tự chảy ở mức nước cao trong vụ mùa, khai thác khả năng tranh thủ mực nước chân triều để tiêu tự chảy của các cống tưới cũng nh tranh thủ lấy nước tưới của các cống tiêu...

5- Hệ thống các trạm bơm tiêu qua đê chủ yếu của Thái Bình được xây dựng 25- 30 năm đã xuống cấp, phần thuỷ công nh bể xả trạm bơm Tịnh Xuyên ( 34 máy 1000 m3/giờ ) đã bị h hỏng nặng chỉ bơm được dưới báo động 1 không còn tác dụng chống úng vụ mùa khi có lũ, các trạm bơm Nguyên Tiến Đoài (21 * 1000 m3/h); Đông Tây Sơn (20 * 1000 m3/h), Hậu thượng (20* 1000 m3/h), Tân Phúc Bình (18*1000m3/h)... do xây dựng lâu cả phần thuỷ công và máy bơm hiệu quả hoạt động thấp nhất là không bơm chống úng được ở mức nước lũ thiết kế... Vấn đề tiêu úng bằng động lực hiện nay không đáp ứng yêu cầu quy hoạch đã đặt ra.

6- Vấn đề quản lý xả thải vào hệ thống công trình thuỷ lợi hiện nay còn những bất cập như sau:

-          Tình trạng vi phạm xả thải vào công trình thuỷ lợi phổ biến: có 111 dự án xả nước thải công nghiệp vào sông Bạch, sông Pa Ri, 12 dự án xả vào sông Tiên Hng cha được cấp phép.

-          Chưa có quy hoạch xả thải nên cha quy định tiêu chuẩn xả thải ra công trình thuỷ lợi làm căn cứ cấp phép.

-          Chi cục quản lý nước & CTTL là đơn vị quản lý nhà nước được Sở Nông nghiệp & PTNT giao nhiệm vụ thẩm định hồ sơ cấp phép xả thải và kiểm tra giám sát việc xả thải vào hệ thống CTTL nhng lại không được trang bị trang thiết bị kiểm tra xả thải khó khăn thực hiện nhiệm vụ...

-          Trong pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi có nêu nguồn thu của doanh nghiệp KTTL gồm thuỷ lợi phí, tiền nước, phí xả thải song thực tế phí xả thải ở địa phương do Sở tài nguyên môi trường quản, cha quy định trích cho duy tu hệ thống tiêu nước thải của doanh nghiệp thuỷ nông.

III- Kiến nghị

1- Ban quản lý QHLV sông Hồng xây dựng phương án điều tiết nguồn nước sông Hồng đáp ứng yêu cầu tưới vụ xuân, đặc biệt giai đoạn đổ ải và thời kỳ tưới cây vụ đông của các tỉnh trong lưu vực.

2- Đề nghị BQLLVSH phối hợp ngành điện nghiên cứu xây dựng phương án điều tiết nước trong vụ mùa phòng lũ xả trước hồ Hoà Bình phù hợp, hạn chế xả cao nhất là vào thời gian có bão đi vào khu vực đồng bằng sông Hồng giảm nguy cơ ảnh hưởng đê điều.

3- Phối hợp với Bộ Tài nguyên & MT về cung cấp thông tin dự báo KTTV chuyên ngành, vấn đề quản lý nước xả thải.

4- Tăng cường thông tin giữa các tỉnh trong lưu vực thông qua trang điện tử của Ban QLQHLVSH để phối hợp cũng nh cung cấp thông tin kịp thời để Ban có phương án điều tiết phù hợp, tăng cường công tác phối hợp, hỗ trợ các địa phương sát yêu cầu.

5- Đề nghị Ban QLQHLVSH kiến nghị với Bộ Nông nghiệp & PTNT thành lập thành tra chuyên ngành của Cục Thuỷ Lợi để thực hiện thanh tra xử lý các vi phạm phạm vi bảo vệ công trình thuỷ lợi, vi phạm xả thải vào HTCTTL có nguy cơ ngày một phổ biến vi phạm mức độ nghiêm trọng hơn đang làm giảm rõ rệt hiệu quả phục vụ của công trình thuỷ nông.

6- Đề xuất ưu tiên đầu tư trong lưu vực:

-          Hỗ trợ đầu tư xây dựng mạng quan trắc phục vụ công tác chỉ đạo của từng tỉnh giao cho các Chi cục thuỷ lợi quản lý và nối mạng qua trang Web cuả Ban để điều hành chung.

-          Nạo vét hệ thống sông trục.

-          Tu bổ, nâng cấp hệ thống cống dưới đê, trạm bơm tưới tiêu đầu mối.

-          Kiên cố kênh mương./.

 

 

 

 

 

 

 

 
CÁC TIN KHÁC
  BÁO CÁO THAM LUẬN TỈNH NINH BÌNH
  BÁO CÁO THAM LUẬN CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  THAM LUAN TỈNH THÁI NGUYÊN
  THAM LUẬN CỦA TỈNH HẢI DƯƠNG TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2006
  THAM LUẬN CỦA TỈNH BẮC KẠN TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2006

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn