I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
BÁO CÁO CỦA TỈNH BẮC GIANG TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT NĂM 2006
 

Bắc Giang là một tỉnh miền núi phía Bắc, tổng diện tích tự nhiên: 3.822km2 ( trong đó diện tích canh tác là : 81.308 ha, diện tích trồng lúa, màu: 73.756 ha), nằm trong lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình, chịu ảnh hưởng chi phối về phòng chống bão lụt, cung cấp nước tưới tiêu, giao thông thuỷ và môi trường sinh thái của 03 con sông đó là: sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam.

            Với đặc điểm tự nhiên như vậy, kinh tế của tỉnh Bắc Giang tỷ trọng nông, lâm nghiệp chiếm gần 50% giá trị tổng sản phẩm. Vì vậy công tác thuỷ lợi đóng một vai trò quan trọng. Thực tế nhiều năm qua cũng như năm 2006, trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, thuỷ lợi đã phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, tiêu thoát nước cho khu công nghiệp, thành phố và cấp nước sinh hoạt phục vụ đời sống người dân trên địa bàn, đặc biệt là đối với người dân miền núi, góp phần đáng kể vào việc tăng giá trị sản phẩm và cải thiện nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

 

  1. Kết quả công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân năm 2006

         Vụ Đông xuân năm 2005 - 2006 thời tiết diễn biến phức tạp và lại lặp đi lặp lại tình trạng hạn hán như vụ Đông xuân năm 2004 - 2005 đã gây nhiều khó khăn trong sản xuất và sinh hoạt đời sống của người dân trên địa bàn tỉnh. Lượng mưa năm 2005 thấp hơn trung bình nhiều năm, phân bổ không đều nhất là các huyện miền núi. Vì vậy dung tích các hồ chứa chỉ đạt ~ 50%. Như hồ Cấm Sơn chỉ đạt 50,3%, hồ Khuôn Thần - Lục Ngạn đạt 24,6%. Nhiều hồ nhỏ mực nước thấp hơn thiết kế từ 1÷ 3m.

        Các sông suối vào mùa khô năm 2006 nhìn chung mực nước đều ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm từ 0,3 - 0,5m. Mực nước thượng đập Thác Huống Sông Cầu thấp hơn thiết kế 0,95m. Với tình hình nguồn nước như vậy, chúng tôi xác đinh vụ Đông xuân năm 2005 - 2006 Bắc Giang sẽ thiếu nước nghiêm trọng, đặc biệt ở 4 huyện miền núi cao là: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, và vùng cuối kênh của hai hệ thống Sông Cầu và Cầu Sơn.

       Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Giang ngày từ cuối năm 2005 đã chỉ đạo các Công ty KTCTTL thực hiện tu bổ công trình, nạo vét kênh mương, bể hút, thực hiện tưới tiết kiệm nước. Đồng thời xây dựng kế hoạch chống hạn cụ thể cho từng vùng, dự trù kinh phí chống hạn với Tỉnh và đề nghị Trung ương hỗ trợ.

        Ngoài các biện pháp trên, các Công ty KTCTTL và các huyện ngoài hệ thống đã dùng nhiều biện pháp như bơm nước sông theo con nước, lắp đặt nhiều trạm bơm dã chiến. Đặc biệt hệ thống sông Cầu còn phải mua nước bổ sung từ hồ Núi Cốc - Thái Nguyên để tưới.

        Bên cạnh những biện pháp công trình, Sở Nông nghiệp và PTNT đã phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng tuyên truyền vận động nhân dân tham gia chống hạn và chuyển đổi cây trồng theo kế hoạch của Sở đã thống nhất với các huyện.

         Do có sự chủ động chống hạn từ tỉnh đến các địa phương đơn vị và được sự trợ cấp của trung ương với nguồn kinh phí 1 tỷ đồng, kết quả thực hiện tưới tiêu phục vụ sản xuất trong năm 2006 của các Công ty KTCTTL thuộc hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình đạt được như sau:

        - Vụ Chiêm xuân mặc dù hạn song vẫn đảm bảo tưới tiêu cho 27.613ha, đạt 98% kế hoạch

        - Vụ mùa diện tích tưới tiêu đạt 26.510ha, đạt 98,5% kế hoạch.

Như vậy diện tích tưới tiêu từ các công trình thuỷ lợi của tỉnh Bắc Giang đạt 60 ÷ 65% tổng diện tích yêu cầu toàn tỉnh.

Ngoài nhiệm vụ tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp các vụ chính trong năm, hệ thống công trình thuỷ lợi Bắc Giang còn thực hiện tiêu úng cho khu công nghiệp tập trung của tỉnh, nội thị thành phố Bắc Giang và các khu dân cư, đóng góp một phần đáng kể việc cải thiện đời sống người dân trong vùng.

 

  1. Tình hình thiên tai và các biện pháp khắc phục:

2.1 Tình hình lũ lụt, hạn, úng:

2.1.1 Tình hình lũ lụt:

Bắc Giang nằm trong lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình chịu ảnh hưởng lũ của 3 con sông là: sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam. Từ năm 2000 đến năm 2006 tình hình lũ trên các triền sông này ở mức độ trung bình. Trong mỗi năm mùa lũ chỉ có từ 1 đến 3 đợt lũ, đỉnh lũ cao nhất vượt báo động 3 là 30cm đến 85cm. Tuy lũ ở mức độ trung bình, song hệ thống đê điều ở Bắc Giang do nền yếu, mặt cắt nhỏ, cao độ thấp, thân đê có nhiều ẩn hoạ nên vẫn xảy ra các sự cố như sạt mái đê phía đồng, mạch đùn, mạch sủi những nơi thâm trùng, nước tràn qua đê ở một số đoạn thấp, hoạc một số cống dưới đê đã xây dựng quá lâu thường xảy ra sự cố. Đặc biệt mùa lũ năm 2005 và mùa lũ năm 2006 trên cả 3 sông đều có sự cố sạt trượt mái đê phía sông gây nguy hiểm cho đê như trên sông Cầu, thượng nguồn sông Thương. Đặc biệt trên sông Lục Nam, năm 2005 sạt lở đã lấn vào khu dân cư và đường quốc lộ 31, hạ lưu sông Thương đến tháng 11 là tháng hết mùa bão lụt ở phía Bắc mà bờ sông vẫn bị sạt lở đe doạ nơi ở và sinh sống của dân cư.

Với nhiệm vụ PCLB bảo vệ đê điều hồ đập ở Bắc Giang hàng năm đều được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo. Chính vì vậy, những sự cố xảy ra đều được giải quyết khắc phục, hạn chế tới thấp nhất thiệt hại về người và của nhân dân.

2.1.2 Tình hình úng, hạn:

Là một tỉnh miền núi phía Bắc có lượng mưa trung bình nhiều năm thấp, ở mức 1300 ÷ 1500 mm. Song lượng mưa lại phân bổ không đồng đều, từ tháng 10 năm trước đến tháng 6 năm sau lượng mưa chỉ đạt xấp xỉ 35% lượng mưa trung bình hàng năm, còn lượng mưa chiếm gần 70% tập trung vào ba tháng 7,8,9. Vì vậy, úng, hạn thường xuyên xảy ra trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.

Theo số liệu thống kê những năm gần đây, từ năm 2001 đến năm 2006, năm nào vụ Đông xuân cũng gặp hạn, nhất là các huyện miền núi và úng vào vụ mùa của các huyện vùng trũng nằm ven sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam.

*/ Biện pháp phòng chống hạn, úng của địa phương:

-          Công tác chống hạn:

      + Đã thực hiện các biện pháp cơ bản là: Kiểm tra đánh giá nguồn nước ở các sông, suối, ao, hồ …ở từng vùng lưu vực sông và vùng các hệ thống thuỷ lợi đảm trách, trên cơ sở đó có kế hoạch tưới phục vụ sản xuất và đời sống hợp lý.

+ Xây dựng kế hoạch chống hạn cụ thể cho từng vùng, đối với vùng tự chảy lấy nước ở các đập dâng trên sông phải bố trí lịch tưới nước hợp lý theo nguồn nước dự báo.

+ Đối với vùng tự chảy bằng hồ đập ngoài việc điều tiết nước hợp lý, cân đối không đủ nước phải chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Còn vùng thiếu nước nghiêm trọng thì dự trữ nước sinh hoạt cho dân sinh.

+ Đối với vùng tưới bằng động lực lấy nước từ sông vào phải chủ động theo cơn thuỷ triều và thực hiện chôn, trữ nước ở các ao, hồ, kênh tiêu.

+ Ngoài các biện pháp cụ thể phục vụ tưới đối với 3 vùng để đảm bảo chống hạn tốt, Bắc Giang luôn chủ động thành lập ban chỉ đạo chống hạn ở các cấp chính quyền từ tỉnh đến cơ sở để huy động sức mạnh tổng hợp toàn dân. Chính vì vậy mọi công việc chuẩn bị trước khi vào vụ tưới như nạo vét kênh mương, tu sửa máy bơm, xây dựng phương án trạm bơm dã chiến…đều được tiến hành đồng bộ.

Với thực trạng tình hình hạn, công trình thuỷ lợi hiện có và sự chủ động trong chỉ đạo của công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân, trong mấy năm qua ở Bắc Giang trong những vụ hạn hán đều khắc phục có hiệu quả.

*/ Từ kết quả trong nhiều năm qua và nhất là vụ Đông xuân năm 2006, chúng tôi có thể rút ra được một số kinh nghiệm sau đây:

- Chủ động phòng chống hạn, kết hợp chặt chẽ giữa chuyên môn kỹ thuật với phong trào quần chúng thì năm nào cũng khắc phục được hậu quả, đảm bảo nước  cho sản xuất, cho sinh hoạt

- Công tác chống úng: Như đặc điểm tình hình phân bố lượng mưa trong năm, trên địa bàn tỉnh Bắc Giang chiếm 70% lượng mưa cả năm vào ba tháng 7,8,9, vì vậy các vùng thấp nằm rải rác ven sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, năm nào cũng bị úng diện tích chiếm tới 15 -20% diện tích sản xuất vụ mùa. Để đảm bảo cho số diện tích này không bị mất trắng và ảnh hưởng giảm năng xuất, biện pháp chống úng là: Phải chủ động bơm tiêu nước đệm, sửa chữa máy bơm, tu bổ nạo vét công trình, khơi thông dòng chảy, phân vùng tiêu hợp lý, phân ca, kíp bơm hợp lý kịp thời, đúng thời điểm.

Vì vậy cũng như công tác chống hạn, việc chống úng của Bắc Giang mấy năm qua và năm 2006 này đã khắc phục tốt cho sản xuất và không làm ảnh hưởng tới đời sống dân sinh.

 

3.       Các vấn đề phát sinh trong lưu vực, những khó khăn tồn tại và kiến nghị của địa phương đối với Ban Quản lý quy hoạch lưu vực sông QLQH lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình:

*/ Những vấn đề phát sinh:

      + Nhu cầu dùng nước có sự thay đổi lớn cả về lượng lẫn về chất, cả trong sản xuất lẫn phục vụ đời sống.

+ Nhiều vùng sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp làm khu công nghiệp đã làm phá vỡ hệ thống kênh mương lẫn thay đổi công trình đầu mối nhất là những vùng tiêu.

+ Nguồn nước trên sông Thương và sông Cầu bị ô nhiễm.

+ Một số địa phương phát triển nuôi tôm không theo quy hoạch làm cản trở dòng chảy, làm ảnh hưởng tới tiêu thoát nước ở một số trục tiêu thoát nước của hệ thống.

+ Hiện tượng khai thác nước ngầm không theo quy định diễn ra trong diện rộng.

*/ Những khó khăn trong lưu vực:

+ Nguồn nước thiếu, công trình xuống cấp, nền tài chính của các Công ty KTCTTL mất cân đối mỗi ngày một lớn.

+ Công trình thuỷ lợi bị xâm phạm, cán bộ thuỷ lợi ở cấp huyện và cơ sở thiếu nghiêm trọng.

*/ Những kiến nghị đề xuất của địa phương:

Từ những phát sinh và khó khăn tồn tại trên của địa phương, chúng tôi xin kiến nghị với Ban Quản lý quy hoạch lưu vực sông Hồng - sông Thái bình một số vấn đề sau:

+ Do nhu cầu dùng nước đa dạng và nhiều, cần có sự tính toán cân bằng nước lại cho từng hệ thống công trình thuỷ lợi cụ thể để đưa ra giải pháp công trình và phi công trình cho hợp lý.

+ Ban Quản lý quy hoạch lưu vực sông đề nghị với Nhà nước có những quy đinh cụ thể chặt chẽ đối với những doanh nghiệp và cơ sở sản xuất thải nước ra lưu vực sông.

+ Đề nghị Ban Quản lý quy hoạch lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình và đặc biệt là Tiều ban quản lý lưu vực sông Cầu có sự can thiệp để tỉnh Thái Nguyên điều chỉnh giá nước của hồ Núi Cốc bán cho hệ thống sông Cầu sao cho hợp lý. (Hiện nay giá nước cao hơn giá thu TLP cho 1 ha ngay trên huyện Phú Bình - Thái Nguyên).

+ Đề nghị trong những năm tới Nhà nước cần có sự đầu tư thoả đáng để cải tạo nâng cấp hệ thống công trình thuỷ lợi.

+ Tiếp tục duy trì công trình kiên cố hoá kênh mương và sớm triển khai chương trình an toàn đập.

 
CÁC TIN KHÁC
  BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC THUỶ LỢI, TÌNH HÌNH THIÊN TAI VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC NĂM 2006 CỦA TỈNH YÊN BÁI
  THAM LUẬN CỦA HÀ NỘI
  THAM LUẬN CỦA TỈNH TUYÊN QUANG
  BÁO CÁO THAM LUẬN CỦA TỈNH NAM ĐỊNH
  THAM LUẬN TỈNH LẠNG SƠN

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn