I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
BÁO CÁO CỦA TỈNH LẠNG SƠN TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT NĂM 2006
 

I.   Đánh giá  kết quả công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất và đời sống của địa bàn tỉnh trong năm 2006

1. Kết quả ra quân làm thuỷ lợi:

            Các huyện, thành phố đã tổ chức phong trào" Đầu xuân ra quân làm thuỷ lợi " và được sự hưởng ứng, nhiệt tình tham gia của nhân dân các dân tộc trong toàn tỉnh nên đã đạt được những kết quả đáng phấn khởi.

- Tổng số xã ra quân :          190 xã      - bằng   96% so với cùng thời kỳ

- Tổng số công         :   113.076  công   - bằng   87% so với cùng thời kỳ

- Đất đào đắp           :      20.220 m3     - bằng   79% so với cùng thời kỳ

- Xây lát các loại       :      51.235 m3     - bằng 123% so với cùng thời kỳ

- Chiều dài nạo vét    :    356.182       - bằng   55% so với cùng thời kỳ

- D.T phát dọn          :      74.341  m2      - bằng 107% so với cùng thời kỳ

- Khai thác cát         :       1.198   m3      - bằng   60% so với cùng thời kỳ

- Khai thác đá sỏi     :       2.286   m3      - bằng   19% so với cùng thời kỳ

Các huyện có phong trào ra quân làm thuỷ lợi khá như huyện Tràng Định, Cao Lộc, Hữu Lũng, Bắc Sơn

Có được kết quả như trên là nhờ sự quan tâm của Đảng, chính quyền các cấp, đã làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân đã tạo ra phong trào nhân dân làm thuỷ lợi tương đối rộng khắp. Nhưng phong trào ra quân làm thuỷ lợi chưa trở thành phong trào tự giác và rộng khắp trên toàn tỉnh, cá biệt một số nơi nhân dân còn tâm lý trông chờ ỷ lại vào Nhà nước chưa hưởng ứng tham gia.

2. Công tác phục vụ sản xuất đông xuân 2005 - 2006:

 Có sự chỉ đạo của Sở Nông nghiệp và PTNT ngay từ cuối năm 2005, các Trạm QLKT-CTTL đã có kế hoạch gửi nước ở các hồ chứa, tiến hành kiểm tra, duy tu bảo dưỡng máy móc thiết bị, sửa chữa các công trình bị hư hỏng đẩy nhanh tiến độ kiên cố hoá kênh mương các công trình thuỷ lợi. Nhờ làm tốt công tác chuẩn bị kết hợp với việc sử dụng nước hợp lý, tiết kiệm nên kết quả tưới phục vụ sản xuất đông xuân 2005 - 2006 đạt được như sau:

+ Tổng diện tích vụ xuân được tưới: 20.359 ha đạt 90% KH bằng 101,5% so với cùng kỳ

Trong đó:

-          Lúa xuân: 11.949 ha,      đạt   93% KH và bằng   88% so với cùng kỳ

-          Thuốc lá: 3.102 ha,        đạt 145% KH và bằng 176% so với cùng kỳ

-          Ngô xuân: 1.231 ha,       đạt   40% KH và bằng   36% so với cùng kỳ

-          Khoai tây: 1.756 ha,       đạt   69% KH và bằng   73% so với cùng kỳ

-          Dưa các loại: 895ha,      đạt 102% KH và bằng 111% so với cùng kỳ

-          Đậu đỗ: 234ha,              đạt   76% KH và bằng   70% so với cùng kỳ

-          Rau các loại: 1919ha,     đạt 264% KH và bằng 113% so với cùng kỳ

3. Phục vụ sản xuất vụ mùa bị hạn:

a)       Diện tích lúa mùa bị hạn:

        Giữa vụ và cuối vụ mùa lượng mưa giảm và phân bổ không đều, đến hết tháng 10/2006 lượng mưa bình quân toàn tỉnh mới đạt 1265 mm, bằng 87,3% so với trung bình nhiều năm. Do vậy, đã gây hạn nặng ở một số nơi trong tỉnh, nhất là vào dịp cuối tháng 9 và tháng 10 hầu như không mưa, hoặc mưa rất nhỏ làm cho diện tích lúa mùa bị hạn ở những chân ruộng cao hoặc ở những nơi không có công trình thuỷ lợi, theo báo cáo của các huyện thành phố diện tích hạn như sau:

  Tổng diện tích lúa bị hạn:                      2.808ha

            Trong đó:

            Hạn trong công trình thuỷ lợi:               346ha

            Hạn ngoài công trình thuỷ lợi:             2402ha

            Diện tích bị hạn giảm năng suất:         2356ha

            Diện tích hạn mất trắng:                       393ha

b)      Kết quả tưới lúa mùa: Tổng số diện tích được tưới: 22.662ha, so với kế hoạch đạt 87,7%, so với cùng kỳ bằng: 94,6%

Trong đó:

-          Tưới tự chảy: 12.577ha

-          Bơm điện: 990ha

-          Biện pháp khác: 9.095ha

Thực tiễn cho thấy hiệu quả phục vụ chống hạn của các công trình thuỷ lợi rất rõ rệt và đem lại kết quả cao ở những nơi có sự chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền huyện, xã và các đơn vị quản lý khai thác thuỷ nông, ngược lại nếu thiếu sự kết hợp giữa chính quyền địa phương với các đơn vị quản lý, sử dụng nước lãng phí thì hiệu quả tưới sẽ bị giảm.

    I.  Tình hình thiên tai và các biện pháp khắc phục của địa phương

Ngay từ đầu năm 2006 tỉnh đã ra quyết định kiện toàn Ban chỉ huy PCLB tỉnh. Tổng kết công tác PCLB năm 2005, đồng thời triển khai công tác PCLB năm 2006 đến các cơ sở.

Ban chỉ huy PCLB thường xuyên và tổ chức kiểm tra các khu dân cư, các địa bàn trọng yếu để bổ sung cho phương án PCLB của cơ sở nhằm chủ động đối phó kịp thời với mọi tình huống thiên tai xảy ra; kịp thời di dời dân ra khỏi vùng có nguy cơ xảy ra lũ quét và trượt lở đất.

  1. Tình hình lụt bão thiên tai năm 2006: Năm 2006, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn do ảnh hưởng của mưa, bão nên đã xuất hiện lũ quét ảnh hưởng tới các huyện: Văn Lãng, Tràng Định, Bình Gia, Chi Lăng, TP Lạng Sơn và Bắc Sơn và đã gây thiệt hại nặng về người và tài sản của nhân dân. Cụ thể như sau:

-          Người chết                                : 2 người

-          Người bị thương                        : 21 người

-          Nhà đổ, hư hỏng                        : 59 cái

-          Nhà bị ngập nước                      : 710 nhà

-          Nhà bị cuốn trôi                          : 2 nhà

-          Diện tích hoa màu bị thiệt hại      : 497 ha

-          Diện tích lúa xuân bị hại              : 881 ha

-          Đường giao thông bị sạt lở         : 70.740 ha

-          Cột điện bị đổ                            : 55 cột

-          Cột điện thoại bị đổ                    : 54 cột

-          Công trình thuỷ lợi bị hư hỏng: 7 công trình

     Tổng giá trị thiệt hại về vật chất là: 31.533 triệu đồng

  1. Kết quả thu phí phòng chống lụt bão: Tính đến hết ngày 15/11/2006 toàn tỉnh mới thu được: 242.462.000 đồng, đạt 50,5% kế hoạch
  2. Kết quả khắc phục: Sau khi thiên tai xảy ra, Ban chỉ huy PCLB và TKCN tỉnh đã phối hợp với các ngành kiểm tra đánh giá thiệt hại, đồng thời phối hợp với chính quyền địa phương bị thiên tai có giải pháp khắc phục hậu quả, nhằm ổn định sản xuất và đời sống của nhân dân. Các ngành đã chỉ đạo, đôn đốc các đơn vị trong ngành sửa chữa các công trình: giao thông, thuỷ lợi, trường học, cơ sở y tế, điện…trong thời gian ngắn nhất đảm bảo phục vụ cho sản xuất và đời sống trên địa bàn.

III- Các vấn đề phát sinh trong lưu vực, những khó khăn tồn tại và các kiến nghị của địa phương đối với BQLQH lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình.

1-       Lưu vực sông thuộc hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình

Toàn tỉnh Lạng Sơn có 03 hệ thống sông chảy qua: Sông Kỳ Cùng (hệ thống sông Tây Giang), sông Thương, sông Lục Nam (hệ thống sông Thái Bình), sông Phố Cũ, sông Đồng Quy (hệ thống sông ngắn Quảng Ninh). Trong đó, thuộc hệ thống sông Hồng - sông Thái bình có hệ thống sông Thương, sông Lục Nam.

- Sông Thương: Bắt nguồn từ dãy núi Na-Pa-Phước cao 600m, gần ga Bản Thí, tỉnh Lạng Sơn, thượng lưu sông Thương từ nguồn tới Chi Lăng có thung lũng rất hẹp, độ rộng trung bình 6km, độ cao trung bình 276m, độ dốc lưu vực 12,5%­ 0, chiều dài sông 14÷15km, trung lưu từ Chi Lăng đến Bố Hạ thung lũng mở rộng độ dốc đáy chỉ còn 2,3÷0,85% 0, núi đã vôi phân bố xa bờ sông và bắt đầu có sông nhánh ra nhập: sông Hoá, sông Trung. Trong mùa cạn 02 sông này vẫn sâu tới 5÷6m do có đập dâng Cầu Sơn.

- Sông Hoá: Bắt nguồn từ vùng núi Khuổi Ma tỉnh Bắc Giang, chảy theo hướng Đông Bắc, trên sông đã có đập Cấm Sơn giữ nước phát điện và tưới, diện tích lưu vực 385km2.

- Sông Trung: Bắt nguồn từ vùng núi Thái Nguyên đổ vào sông Thương tại Na Hoa, sông chảy trong vùng núi đá vôi nên thung lũng hẹp, diện tích lưu vực đến trạm thuỷ văn Hữu Lũng là 1.220km2.

- Sông Lục Nam: Nằm phía Đông Nam tỉnh Lạng Sơn bắt nguồn từ vùng núi Kham-Sau-Chom cao 700m thuộc huyện Đình Lập, tổng diện tích lưu vực là 3.070km2, trong đó thuộc Lạng Sơn là 612km2, chiếm 20,9%.

2.Các vấn đề phát sinh trong lưu vực, những khó khăn tồn tại và các kiến nghị của địa phương.

- Hiện nay diện tích rừng phòng hộ trên địa bàn toàn tỉnh 300.487ha; Diện tích có rừng 333.670ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên 222.365ha chất lượng rừng tự nhiên chủ yếu là rừng tạp, diện tích rừng trồng 111.305ha. Chất lượng rừng trồng phát triển tốt. Để đảm bảo cho diện tích rừng phòng hộ được đảm bảo chất lượng tốt yêu cầu đặt ra là phải tăng mức khoán bảo vệ rừng, hiện nay là 50.000đồng/ha/năm, đang đề nghị tăng lên 100.000 đồng/ha/năm, trong những năm tiếp theo mức khoán bảo vệ rừng cần phải nâng cao hơn nữa. Nơi quy hoạch là rừng phòng hộ nhưng chưa có rừng cần tăng cường đầu tư bằng các nguồn vốn để trồng rừng, đặc biệt là trồng các giống cây bản địa (tán rộng, bộ rễ sâu)

- Về lưu vực của hệ thống sông thuộc lưu vực sông Hồng - Thái Bình trên địa bàn Lạng Sơn có 02 con sông không thể xác định  được chính xác lưu vực thực tế là sông Thương và sông Trung, do lưu vực sông là vùng núi đá vôi. Vì vậy để dự báo tốt về dòng chảy lũ cần củng cố hệ thống trạm  khí tượng thuỷ văn trong lưu vực .

- Hệ thống trạm khí tượng thủy văn trên 03 lưu vực sông chính là: Sông Thương, sông Trung, sông Lục Nam, trước đây có 03 trạm khí tượng thuỷ văn là trạm Chi Lăng, trạm Hữu Lũng, trạm Sơn Dương, hiện nay chỉ còn trạm Hữu Lũng là hoạt động nhưng cơ sở vật chất xuống cấp thiết bị lạc hậu, còn 02 trạm còn lại hầu như không hoạt động. Để tăng mức độ chính xác trong dự báo mưa, dòng chảy lũ trên lưu vực cần thiết phải phục hồi và nâng cấp đưa vào hoạt động hệ thống trạm khí tượng thuỷ văn trên.

- Khu vực rừng phòng hộ của lưu vực cũng đồng thời là những vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế khó khăn, trình độ dân trí của nhân dân còn thấp, ngành nghề chính là nông nghiệp, khi nông nghiệp không đủ sống thì họ chuyển sang phá rừng. Muốn bảo vệ được rừng phòng hộ trước hết phải đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng kinh tế xã hội cho dân cư trong vùng, nâng cao dân trí, chuyển nghề cho nhân dân từ kinh tế nông nghiệp sang làm kinh tế lâm nghiệp, phát triển kinh tế đồi rừng, gắn cuộc sống của họ vào rừng, không để cho nhân dân phá rừng bừa bãi.

II.                  Các yêu cầu phối hợp đa ngành và liên tỉnh trong phát triển lưu vực.

- Để cho dòng chảy trong lưu vực được ổn định quan trọng nhất là gìn giữ và bảo vệ được rừng phòng hộ đầu nguồn của các lưu vực sông. Các địa phương có địa phận giáp ranh nằm trong lưu vực là rừng phòng hộ đầu nguồn như thượng nguồn sông Trung giáp ranh tỉnh Thái Nguyên, thượng nguồn sông Lục Nam giáp ranh tỉnh Bắc Giang, cần có biện pháp giáo dục nhân dân tham gia bảo vệ rừng, không phá rừng một cách bừa bãi, đồng thời không khai thác sang địa phận không thuộc mình quản lý.

- Để tận dụng nguồn nước của các lưu vực sông một cách có hiệu quả nhất đề nghị các Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên phối hợp cùng với Sở Nông nghiệp và PTNT Lạng Sơn trong quá trình quản lý khai thác các công trình thuỷ lợi liên quan. Đặc biệt là hệ thống thuỷ lợi của Hồ Cấm Sơn, khi xả nước của hồ Cấm Sơn, cũng như mở cống đập dâng Cầu Sơn nên thông báo trước cho Sở Nông nghiệp và PTNT Lạng Sơn kế hoạch để phối hợp lấy nước phục vụ sản xuất nông nghiệp hợp lý. Trong thời gian qua, có hiện tượng hệ thống bơm điện trên địa bàn huyện Hữu Lũng không thể hoạt động được do mở cống đập dâng Cầu Sơn, khi mà cả hai địa bàn đều rất cần nước.

III.                Đề xuất ưu tiên đầu tư trong lưu vực

- Tăng cường kinh phí cho công tác khoanh nuôi và bảo vệ rừng phòng hộ một cách hợp lý. Bố trí đủ vốn để trồng rừng phòng hộ

- Phục hồi và nâng cấp hệ thống trạm khí tượng thuỷ văn trong lưu vực

- Đầu tư sửa chữa nâng cấp một số hệ thống công trình thuỷ lợi trong lưu vực nhằm cung cấp đủ nước cho sản xuất nông nghiệp, ổn định đời sống nhân dân trong lưu vực. Như hồ Đắp Đề, Kai Hiển, Hồ Suối Con…huyện Hữu Lũng; hệ thống công trình thuỷ lợi xã Chiến Thắng, hồ Dọc Chang huyện Chi Lăng…

 

PGĐ Sở Nông nghiệp và PTNT

Nông Ngọc Tăng

 
CÁC TIN KHÁC
  BÁO CÁO CỦA TỈNH HƯNG YÊN TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT NĂM 2006
  BÁO CÁO CỦA TỈNH BẮC GIANG TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT NĂM 2006
  BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC THUỶ LỢI, TÌNH HÌNH THIÊN TAI VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC NĂM 2006 CỦA TỈNH YÊN BÁI
  THAM LUẬN CỦA HÀ NỘI
  THAM LUẬN CỦA TỈNH TUYÊN QUANG

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn