I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH KHAI THÁC, SỬ DỤNG NGUỒN NƯỚC VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CẤP, THOÁT NƯỚC, CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ LƯU VỰC SÔNG HỒNG - THÁI BÌNH
 

I. Hiện trạng Phát triển cấp nước, thoát nước và quản lý chất thải rắn các đô thị lưu vực sông Hồng - Thái Bình:

 Các thành phố, thị xã trong vùng đều đã được đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước tập trung với tổng công suất trên 1.000.000 m3/ngđ.; Tỉ lệ cấp nước đạt 70-80% với tiêu chuẩn 90-110 lít/người/ ngày. Đối với các đô thị loại V mới có khoảng 35% số thị trấn có hệ thống cấp nước tập trung với tiêu chuẩn 60-80 lít/người /ngày. Trong đó, các thành phố lớn như: Hà Nội có công suất khai thác 460.000 m3/ngđ. sử dụng nguồn nước ngầm, Tp. Hải Phòng có công suất 122.500 m3/ngđ Tp. Hạ Long công suất 104.000 m3/ngđ. sử dụng nguồn nước mặt. Tỷ lệ khai thác nguồn nước mặt phục vụ cấp nước khoảng 57%.

Hiện đang triển khai xây dựng hệ thống cấp nước quy mô diện rộng theo vùng, theo lưu vực như: Sử dụng nguồn nước sông Đà công suất 600.000 m3/ngđ (giai đoạn I 300.000 m3/ngđ.) để cấp nước cho chuỗi đô thị Sơn Tây - Hoà Lạc - Xuân Mai - Miếu Môn - Hà Nội - Hà Đông do Tổng Công ty VINACONEX làm chủ đầu tư, UBND Tp. Hà Nội cũng đang trình Báo cáo đầu tư dự án xây dựng hệ thống cấp nước sử dụng nguồn nước sông Hồng công suất 300.000 m3/ngđ. (giai đoạn I 150.000 m3/ngđ.) để cấp nước cho Thủ đô Hà Nội và các vùng lân cận.

Công tác cấp nước trong những năm qua tuy đã có những chuyển biến tích cực, đã đạt được một số thành tích đáng kể, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn tồn tại, thể hiện qua các mặt sau đây:

Phát triển cấp nước chưa đồng bộ:

- Công tác quy hoạch cấp nước của các tỉnh, thành phố chưa được đẩy mạnh: Hiện nay, trong vùng mới chỉ có thành phố Hà Nội có quy hoạch cấp nước đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (đang điều chỉnh bổ sung lại), Quy hoạch cấp nước Tp. Hạ Long đã được UBND tỉnh Quảng Ninh phê duyệt, Quy hoạch tổng thể hệ thống cấp nước, thoát nước và quản lý vệ sinh môi trường Tp. Hải Phòng đang triển khai, các đô thị lớn còn lại chưa có quy hoạch tổng thể cấp nước, hoặc có thì đã quá thời hạn không được bổ sung cập nhật. Tình hình này dẫn đến việc đầu tư thiếu tính hệ thống và thiếu chủ động.

- Việc tạo nguồn và phát triển mạng lưới đường ống để cung cấp dịch vụ cấp nước chưa hợp lý. Nhiều vùng dân rất cần nước, nhưng khả năng cung cấp dịch vụ chưa đáp ứng được, ngược lại có những nơi thừa nước không phát hết công suất.

- Tổ chức quản lý điều hành của các công ty cấp nước vẫn còn mang tính bao cấp, thụ động, chưa phát huy được vai trò chủ động trong sản xuất kinh doanh.Các công ty cấp nước chưa có khả năng tự chủ về tài chính trong việc chi trả và đầu tư phát triển.

- Sự tham gia của cộng đồng về việc bảo vệ và phát triển công tác cấp nước còn bị hạn chế, còn mang tính hình thức.

Hiệu quả và chất lượng dịch vụ còn thấp:

- Tỉ lệ cấp nước cho các đô thị còn thấp: bình quân chỉ đạt 65%, trong đó các đô thị lớn loại đặc biệt, loại I và loại II đạt gần 70-80%, các đô thị loại III và loại IV đạt từ 45-55% và các đô thị nhỏ chỉ đạt khoảng 35%.

- Tỉ lệ thất thoát, thất thu nước còn cao: Bình quân là 35%, một số địa phương còn cao như: Hà Nội 39%, Thái Bình 47%, Nam Định 43%, Hà Nam 40% vv… Sau Hội nghị cấp nước toàn quốc lần thứ III (chuyên đề chống thất thoát, thất thu), các địa phương đã triển khai chương trình đầu tư cải tạo, nâng cấp hệ thống mạng lưới đường ống, đưa ra nhiều biện pháp giảm thiểu lượng nước thất thoát, thất thu. Đến nay đã có một số địa phương đạt tỉ lệ thất thoát, thất thu thấp như Hải Phòng 22% (một số phường đã cải tạo phân vùng tách mạng đạt 16%), Phú Thọ, Bắc Ninh, Hải Dương vv… đã giảm tỉ lệ thất thoát, thất thu nước xuống dưới 30%.

            - Chất lượng nước sau xử lý tại một số nơi chưa đạt tiêu chuẩn vệ sinh quy định: chủ yếu là ở những địa phương khai thác nguồn nước ngầm như Bắc Ninh, Hà Nội và một số nơi khác.

Cơ chế, chính sách quản lý cấp nước chưa được đổi mới:

- Các chính sách về quản lý và phát triển ngành, đặc biệt là chính sách tài chính chưa được rõ ràng rành mạch, hoạt động của các doanh nghiệp còn mang tính bao cấp trong đầu tư, quản lý theo lối hành chính nên chưa có hiệu quả trong sản xuất kinh doanh.

Việc quản lý nguồn nước còn nhiều bất cập:

Công tác quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn nước mặt cũng như nước dưới đất chưa được các cấp, các ngành, các địa phương quan tâm đúng mức, dẫn đến tình trạng buông lỏng trong công tác quản lý, gây tác động xấu đến chất lượng nguồn nước. Trong những năm gần đây chất lượng nguồn nước có nhiều biến động do nhiều nguyên nhân:

- Tình hình khí tượng thuỷ văn diễn biến phức tạp, tình trạng hạn hán, lũ lụt ngày càng nghiêm trọng, một số nguồn nước bị cạn kiệt hoặc bị nhiễm mặn với thời gian kéo dài cả trên diện rộng và chiều sâu, đặc biệt ở các tỉnh ven biển bị nhiễm mặn do ảnh hưởng của thuỷ triều, nước ngầm khu vực phía Nam Hà Nội đã có hiện tượng suy thoái cả về trữ lượng và chất lượng: lưu lượng khai thác của các giếng ngày càng thấp, hàm lượng Amôniắc, hữu cơ và một số chỉ tiêu khác cao hơn nhiều lần so với tiêu chuẩn quy định.

- Công tác nghiên cứu, khảo sát nguồn nước chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, chưa dự báo được những biến động về mặt trữ lượng cũng như về mặt thuỷ địa hoá

- Vấn đề ô nhiễm nguồn nước do tác động của con người đang diễn ra ngày càng trầm trọng; tình trạng chặt phá rừng đầu nguồn, xả nước thải không qua xử lý ra nguồn tiếp nhận như sông, hồ vv... đã gây ô nhiễm nguồn nước không được kiểm soát, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn cấp nước tại một số địa phương như ở Phủ Lý (Hà Nam) do ô nhiễm của nguồn nước sông Nhuệ đã nhiều lần nhà máy nước phải ngừng hoạt động. Nguồn nước sông Cầu có nguy cơ ô nhiễm nặng ảnh hưởng đến việc khai thác, sử dụng nguồn cấp nước cho các nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân. Mặt khác, tại hầu hết các địa phương việc quản lý khai thác các giếng khoan mạch nông (giếng UNICEF) chưa được quản lý chặt chẽ cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm nghiêm trọng đối với các tầng chứa nước dưới đất.

 Công tác thoát nước và xử lý nước thải hiện nay tại các đô thị trong toàn quốc nói chung và vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng còn nhiều bất cập. Tất cả các đô thị hiện nay đều có hệ thống thoát nước chung cho cả nước mưa và nước thải, chưa có các nhà máy xử lý nước thải nên công tác quản lý, vận hành gặp không ít khó khăn Trong giai đoạn hiện nay, chỉ mới tập trung đầu tư xây dựng và cải tạo hệ thống cống, mương thoát nước để chống ngập úng cục bộ cho một số đô thị lớn mà chưa có dự án nào giải quyết một cách triệt để thu gom và xử lý nước thải.

 Hiện trạng xử lý chất thải rắn đô thị tại vùng đồng bằng Bắc bộ cũng đang gặp rất nhiều khó khăn. Các bãi chôn lấp CTR do xây dựng trước đây với công nghệ thô sơ, lạc hậu nên không đáp ứng yêu cầu kỹ thuật vệ sinh môi trường. Một số bãi chôn lấp chất thải rắn mới được xây dựng như Nam Sơn (Hà Nội), Quang Hanh (Quảng Ninh) vay vồn ODA có công nghệ hiện đại hơn, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật chôn lấp CTR, tuy nhiên việc xử lý nước rác hiện nay cũng đang rất bức xúc, phần lớn các bãi chôn lấp CTR chưa có hoặc đã có hệ thống xử lý nước rác nhưng chưa đạt yêu cầu. Vấn đề xử lý chất thải nguy hại y tế, chất thải công nghiệp hiện nay cũng đang là yêu cầu đặt ra cần được giải quyết, nhằm đảm bảo vệ sinh môi trường và hạn chế tác động gây ô nhiễm nguồn nước.

 Cùng với việc phát triển mạnh kinh tế-xã hội, quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá diễn ra nhanh chóng cả về quy mô và số lượng đã gây sức ép nặng nề đối với công tác phát triển cấp nước, thoát nước và vệ sinh môi trường đô thị, đặc biệt đối với các đô thị lớn và các khu công nghiệp.

II. Định hướng quy hoạch cấp nước, thoát nước, quản lý chất thải rắn đô thị trong giai đoạn 2006-2010:

Về quan điểm: Nước sạch cần được coi là một loại sản phẩm hàng hoá phục vụ nhu cầu cuộc sống và sản xuất của con người giống như lương thực, thực phẩm, điện vv...Nước sạch được sản xuất theo công nghệ riêng, có đủ mọi yếu tố, định mức kinh tế kỹ thuật để tính giá thành sản xuất và giá bán. Vì nước sạch phục vụ đời sống con người, nên Nhà nước cần quản lý về mặt tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường và giá cả, không cần phải bao cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp cấp nước hoạt động kinh doanh.

Phát huy tiềm năng, lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống kết cấu hạ tầng nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế-xã hội của vùng đồng bằng Bắc Bộ một cách có hiệu quả và bền vững, quy hoạch hạ tầng kỹ thuật phải dựa trên cơ sở quy hoạch xây dựng vùng. Bộ Xây dựng đề xuất phương hướng giải quyết quy hoạch phát triển cấp nước, thoát nước, quản lý chất thải rắn đô thị theo hướng ưu tiên: Quy hoạch cấp nước theo lưu vực sông, các dự án đầu tư mang tính vùng, liên đô thị; quản lý chất thải rắn cũng theo vùng liên tỉnh, liên đô thị, khu công nghiệp, đặc biệt đối với rác thải nguy hại; quản lý thoát nước và xử lý nước thải chủ yếu theo địa bàn từng đô thị, tuy nhiên đối với những đô thị gần nhau có thể xây dựng hệ thống thoát nước liên đô thị.

- Về cấp nước: Dự báo trong những năm tới, tốc độ đô thị hoá tăng nhanh, các khu đô thị mới, các khu công nghiệp trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ phát triển rất mạnh, nhu cầu cấp nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất của nhân dân là rất lớn, (dự báo đến năm 2020 tổng công suất cấp nước trong vùng khoảng 2,5 triệu m3/ngđ.) và nguy cơ thiếu nguồn nước để sử dụng cấp nước khá trầm trọng. Vì vậy, cần có biện pháp kết hợp khai thác, sử dụng nguồn nước một cách hợp lý: Ưu tiên sử dụng nguồn nước mặt phục vụ cấp nước cho các đô thị lớn, vùng liên tỉnh, liên đô thị; khai thác, sử dụng hợp lý nguồn nước nước mặt, nước dưới đất phục vụ cấp nước cho các đô thị vừa và nhỏ, đảm bảo tính kinh tế-kỹ thuật và không gây ô nhiễm, cạn kiệt và suy thoái nguồn nước.

Lập quy hoạch cấp nước theo vùng liên tỉnh, liên đô thị: Sử dụng nguồn nước sông Đà cấp cho chuỗi đô thị Sơn Tây-Hoà Lạc-Miếu Môn-Xuân Mai-Hà Đông-Hà Nội; nghiên cứu sử dụng nguồn nước sông Hồng, hệ thống sông Thái Bình và các sông khác thuộc lưu vực để cấp nước cho khu vực Hà Nội, vùng Thủ đô và vùng đồng bằng sông Hồng, các đô thị dọc theo tuyến, trục đường giao thông như: Đường 18 (Quảng Ninh – Bắc Ninh – Hà Nội), tuyến đường 5 cũ và mới (Hải Phòng – Hải Dương – Hưng Yên – Hà Nội), tuyến đường 10 (Nam Định – Thái Bình – Hải Phòng – Quảng Ninh). Bộ Xây dựng đang lập Quy hoạch chung xây dựng Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, đã thực hiện Nghiên cứu quy hoạch định hướng hệ thống cấp nước đô thị Việt Nam gồm 46 đô thị (trong đó Vùng đồng bằng Bắc Bộ có Tp. Hải Dương, TX. Bắc Ninh, TX. Hà Đông vv...) và đang thực hiện tiếp giai đoạn II cho 18 đô thị khác.

- Về thoát nước: Nghiên cứu quy hoạch thoát nước cho các đô thị và khu công nghiệp Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, xử lý nước thải cho các thành phố lớn, đặc biệt là Hà Nội, Hải Phòng và Hạ Long và các đô thị khác, xử lý nước thải công nghiệp và nước thải các làng nghề trong vùng nhằm đảm bảo vệ sinh môi trường và giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước.

- Về quản lý chất thải rắn: Nghiên cứu quản lý chất thải rắn được thực hiện trên quan điểm quản lý tổng hợp mang tính liên vùng, liên đô thị; do quỹ đất trong vùng đồng bằng Bắc Bộ bị hạn chế, lại phải chịu áp lực lớn từ quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá cao nên cần ưu tiên lựa chọn công nghệ tiên tiến để tái chế, tái sử dụng chất thải thải rắn và hạn chế tối đa lượng chất thải rắn phải chôn lấp.

- Về xây dựng văn bản pháp luật và cơ chế chính sách: Thực hiện nhiệm vụ của Chính phủ giao, năm 2006 Bộ Xây dựng đã soạn thảo các Nghị định của Chính phủ về quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị như: Nghị định về sản xuất và tiêu thụ nước sạch, Nghị định về thoát nước đô thị và khu công nghiệp, Nghị định về quản lý chất thải rắn, Nghị định về quản lý ngầm đô thị, Nghị định về quản lý nghĩa trang vv... Ngoài ra, Bộ Xây dựng chủ trì phối hợp, tham gia với các Bộ, ngành có liên quan nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách có liên quan, tạo hành lang pháp lý thực hiện có hiệu quả hơn về công tác cấp, thoát nước và vệ sinh môi trường.

III. Một số kiến nghị:

- Cần tổ chức lập Quy hoạch khai thác, sử dụng nguồn nước (nước mặt, nước dưới đất) theo lưu vực; xây dựng, bổ sung hoàn thiện quy chế khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước, đảm bảo ổn định và phát triển bền vững. ưu tiên sử dụng nguồn nước đảm bảo cấp nước sinh hoạt phục vụ đời sống của nhân dân trong trường hợp thiên tai, hạn hán kéo dài.

- Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành, địa phương nhằm quản lý tổng hợp, khai thác có hiệu quả tài nguyên nước trong lưu vực, đảm bảo phát triển bền vững.

            - Tăng cường tổ chức công tác kiểm tra, giám sát bảo vệ nguồn nước, có phân công trách nhiệm cụ thể và chế tài xử phạt nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm các quy định của pháp luật đã được ban hành.

 

Bùi Xuân Đoan – Phó Vụ trưởng Vụ Hạ tầng kỹ thuật đô thị

Bộ Xây dựng

 
CÁC TIN KHÁC
  BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG NĂM 2006 CỦA TIỂU BAN QLQH LƯU VỰC SÔNG ĐÁY
  BÁO CÁO CỦA TỈNH THÁI BÌNH TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT NĂM 2006
  BÁO CÁO CỦA TỈNH SƠN LA TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT NĂM 2006
  BÁO CÁO CỦA TỈNH LẠNG SƠN TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT NĂM 2006
  BÁO CÁO CỦA TỈNH HƯNG YÊN TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT NĂM 2006

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn