I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
CÔNG TÁC QUẢN LÝ QUY HOẠCH LƯU VỰC SÔNG NĂM 2006 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG
 

1. Công tác thủy lợi phục vụ sản xuất và đời sống nhan dân:

Tỉnh Tuyên Quang rất quan tâm đến công tác thủy lợi năm 2006, đã tập trung đầu tư nâng cấp cải tạo các công trình bị hư hỏng, làm mới thêm nhiều công trình thủy lợi từ nguồn vốn Trung Ương do Bộ Nông nghiệp và PTNT đầu tư, nguồn vốn XDCB địa phương, chương trình 135, định canh- định cư, kinh tế mới, chương trình kiên cố hóa kênh mương, và nhiều chương trình khác nên công trình thủy lợi của tỉnh hiện nay đã được cải thiện một bước cả về số lượng và chất lượng, tăng diện tích tưới, giảm lượng nước thất thoát giảm thời gian cung cấp nước tưới và giảm công sức và kinh phí tu sửa công trình thường xuyên hàng năm.

Riêng năm 2006 toàn tỉnh đã hoàn thành đưa vào phục vụ sản xuất 184 công trình thủy lợi (tu sửa 17 công trình, nâng cấp 167 công trình rọ thép, làm mới 31 công trình); 224,25 km kênh mương (120,47 km theo chương trình nhà nước hỗ trợ xi măng và 103,78  km bằng các nguồn vốn khác). Nâng tổng diện tích được tưới ổn định trong toàn tỉnh lên 16.371,1 ha lúa đông xuân (chiếm 83,4% diện tích gieo cấy) và 18.215,7 ha lúa mùa (chiếm 70,2% diện tích gieo cấy); tỷ lệ tưới chắc cả năm đạt trên  75% diện tích gieo cấy.

Hiện nay tỉnh đang triển khai xây dựng các dự án thủy lợi trọng điểm Chiêm Hóa, Nam Sơn Dương, Thác Dẫng – Đèo Chắn. Lập dự án xây dựng kè bờ sông Lô đoạn qua thị xã Tuyên Quang và kè bảo vệ bờ sông Phó Đáy đoạn qua khu di tích lịch sử ATK. Tổ chức quy hoạch phát triển thủy lợi giai đoạn 2006 – 2010 và định hướng tới năm 2020.

Hiện nay Tuyên Quang có 2.430 công trình thủy lợi, trong đó có 473 hồ chứa, 970 công trình đập kiên cố và bán kiên cố, 73 trạm bơm, còn lại là các công trình phai tạm; Các công trình thủy lợi được chuyển giao cho 7 ban quản lý công trình thủy lợi liên huyện, liên xã , 157 Ban quản lý công trình thủy lợi xã và Ban quản lý công trình thủy lợi Hợp tác xã NLN quản lý khai thác và sử dụng đồng thời thực hiện quản lý khai thác và thu, chi thủy lợi phí theo Quyết định số 37 /2006/QĐ- UBND ngày 26/7/2006 và quyết định số 44/2006/QĐ-UBND ngày 18/8/2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Nhìn chung công tác quản lý khai thác bảo vệ công trình thủy lợi đã có nhiều tiến bộ đáp ứng nguồn nước sản xuất nông nghiệp và khai thác tài nguyên nước theo quy trình quy phạm, luật tài nguyên nước và pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi.

2. Tình hình thiên tai và các biện pháp khắc phục

Trong năm 2006, trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đã xảy ra hạn hán, mưa đá kèm gió lốc, giông sét kèm mưa đá, lũ quét và lũ lụt trên sông Lô và sông Gâm. Vụ đông xuân năm 2006, hạn hán đã làm ảnh hưởng năng suất và sản lượng của trên 2.596 ha cây trồng. giông sét, gió lốc kèm mưa đá, và lũ quét có 03 đợt làm ảnh hưởng tới đời sống, tính mạng và sản xuất của nhân dân : Đợt 1 vào tháng 5 năm 2006 xẩy ra trên địa bàn 6 xã của huyện Sơn Dương, đã làm hỏng 04 đập dâng với khối lượng rọ đá bị trôi là 298 m3; làm hư hỏng 25 phòng học, 5 nhà mầm non thôn bản, 7 nhà văn hoá thôn bản và 2 nhà dân. Đợt hai vào ngày 5 tháng 9 năm 2006 ( cũng trên địa bàn huyện Sơn Dương) làm 2 chết ( 1do lũ cuốn trôi, một do sét đánh)  3 bị thương ( do sét đánh), đợt 3 giông kèm mưa đá xảy ra vào ngày 20 tháng 11 năm 2006 trên địa bàn của 4 huyện trong tỉnh đã có 707,8 ha hoa mầu bị thiệt hại làm tốc mái và đổ 125 căn nhà, gây đổ vỡ nhiều tuyến kênh mương.

Trong những ngày từ 15 đến 19 tháng 7 năm 2006 do ảnh hưởng của hoàn lưu bão Billis đối với tỉnh Tuyên quang và các tỉnh nằm trong lưu vực sông Lô, Sông Phó Đáy mưa trên diện rộng làm cho nước trên các triền sông suối lên nhanh gây lũ quét, sạt lở đất ảnh hưởng tới đời sống, tài sản và sản xuất nông nghiệp của nhân dân.  Mực nước sông Lô tại thị xã Tuyên Quang lên nhanh và đạt đỉnh    là 25,75 thấp hơn mức báo động 3 0,25 m. Tổng thiệt hại do đợt lũ này gây ra theo thống kê hơn 36 tỷ đồng. Trong đó thiệt hại về cơ sở hạ tầng 24 tỷ đồng; thiệt hại về sản xuất 12 tỷ đồng;  ngoài ra còn nhiều thiệt hại chưa thể tính hết được kéo theo đó là tác động xấu đến môi trường sau lũ bão.

Để phòng chống làm hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của thiên tai, tỉnh Tuyên Quang đã đề ra nhiều giải pháp:

 Xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện phương án phòng chống lụt bão, tìm kiếm, cứu nạn, giảm nhẹ thiên tai năm 2006; xây dựng đề án phòng, tránh lũ quét; xây dựng phương án di chuyển 1.454 hộ dân, với 6 744 nhân khẩu ra khỏi khu vực có nguy cơ bị thiên tai (Trong đó số hộ dân sống trong vùng có nguy cơ ảnh hưởng do thiên tai cần di chuyển năm 2006 là 235 hộ 1169 nhân khẩu).

Chỉ đạo các cấp, các ngành đánh giá, rút kinh nghiệm công tác phòng chống lụt bão, tìm kiếm, cứu nạn, giảm nhẹ thiên tai năm 2005 để xây dựng kế hoạch, phương án phòng chống lụt bão, tìm kiếm, cứu nạn, giảm nhẹ thiên tai năm 2006 sát với thực tế và diễn biến của từng loại hình thiên tai.

Thường xuyên kiểm tra, rà soát, cảnh báo đối với vùng có đê xung yếu, tiến hành tu bổ hệ thống đê sông Lô thuộc tỉnh Tuyên Quang bảo đảm an toàn cho dân cư 11 xã và 1.424 ha diện tích đất canh tác thuộc hai huyện Yên Sơn và Sơn Dương.

Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn. Tập trung huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng các dự án thủy lợi phục vụ sản xuất; tổ chức kiểm tra, tu sửa các công trình thuỷ lợi trước mùa mưa lũ, xây dựng các biện pháp quản lý để đảm bảo an toàn công trình. Lập dự án tu sửa nâng cấp các hệ thống thủy lợi trọng điểm, dự án  kè bảo vệ bờ của sông Lô đoạn qua thị xã Tuyên Quang và kè  bảo vệ bờ sông Phó Đáy đoạn qua khu di tích lịch sử ATK huyện Sơn Dương, Yên Sơn.

3. Các vấn đề phát sinh trong lưu vực, những khó khăn tồn tại

Định hướng đến năm 2010, tỉnh Tuyên Quang có cơ cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ - nông lâm nghiệp; trọng tâm là đẩy mạnh phát triển một số ngành công nghiệp có lợi thế như chế biến nông lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác và chế biến khoáng sản; phát triển nhanh các ngành dịch vụ, nhất là dịch vụ du lịch, đồng thời tiếp tục phát triển kinh tế nông lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển mạnh kinh tế lâm nghiệp theo hướng làm tốt công tác bảo vệ rừng, trồng rừng đi đôi với khai thác, sử dụng rừng hợp lý,  tăng thu nhập của người trồng rừng.

Đẩy mạnh công nghiệp chế biến nông lâm sản, thủy điện nhỏ, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác và chế biến khoáng sản. Phát triển công nghiệp gắn liền với nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu. Thực hiện đầu tư một số dự án công nghiệp quan trọng: khu công nghiệp Long Bình An và các cụm công nghiệp tại các huyện; xây dựng nhà máy sản xuất bột đá trắng; nhà máy chế biến giấy và bột giấy An Hòa công suất 130 000 tấn/ năm, Nhà máy  gỗ xuất khẩu; nhà máy chế biến thức ăn gia súc, xi măng, nhà máy chế biến sữa; đầu tư xây dựng các công trình thủy điện nhỏ.

Đồng thời với phát triển kinh tế, nhu cầu dùng nước trong lưu vực sẽ tăng lên, khả năng gây ô nhiễm môi trường nước là khó tránh khỏi. Hiện nay, công trình thuỷ điện Tuyên Quang đang trong quá trình tích nước, Hiện tại ở hạ du công trình dọc theo sông Gâm, sông Lô đã có hiện tượng bờ sông bị xói lở do chế độ dòng chảy thay đổi (điển hình đoạn bờ sông thuộc địa phận xã An Khang huyện Yên Sơn xói lở bờ sông Lô đang đe dọa tới sự an toàn của tuyến Đê ngăn lũ).  Một số trạm bơm dọc sông Lô đã có hiện tượng bị treo ảnh hưởng tới việc lấy nước tưới (trạm bơm Hưng Định huyện Sơn Dương đã bị treo và một số trạm bơm khác có nguy cơ bị treo như trạm bơm Gềnh Giềng  huyện Yên Sơn).

Trận lũ đợt tháng 7 năm 2006 do ảnh hưởng của bão Billis đã phá hỏng nhiều công trình thủy lợi làm đổi dòng một số suối nhỏ trên địa bàn tỉnh (Ngòi Nhung thuộc địa phận xã Yên Nguyên, Thượng lưu ngòi Quẵng thuộc xã Thổ bình huyện Chiêm Hóa).

Đến nay, chưa có tài liệu điều tra nghiên cứu để có thể đánh giá đầy đủ về số lượng, chất lượng của nguồn nước mặt, nước ngầm; mức độ đảm bảo và khả năng khai thác nước ngầm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân, phục vụ cho sản xuất, hạn chế làm ô nhiễm nguồn tài nguyên nước.

Lưu vực sông Lô nói riêng và cả hệ thống lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình nói chung đang chịu những sự thay đổi của khí hậu; khí tượng, thủy văn biến đổi phức tạp; mưa to, gió lốc, bão lớn, hạn hán xẩy ra thường xuyên và không theo quy luật. Lượng mưa hàng năm khá lớn và tập trung chủ yếu trong mùa mưa (từ tháng 6¸11) gây ra lũ quét, lũ lụt ở nhiều nơi, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân, làm tổn hại tài sản, hoa màu và các công trình hạ tầng. Lũ quét, lũ ống còn làm cho các suối đổi dòng, chia cắt ruộng đất, làm mất đất canh tác. Lũ lụt còn làm ngập úng (năm cao nhất có tới 76 xã, phường, thị trấn ven sông bị ảnh hưởng lũ lụt), gây hư hỏng nhà cửa, trường học, bệnh xá, đường giao thông, hệ thống điện, hệ thống cấp nước, các công trình thuỷ lợi, làm ngừng trệ sản xuất, gây ô nhiễm môi trường.

Lưu vực sông Lô, Gâm thuộc địa phận tỉnh Tuyên Quang chỉ là một phần trong toàn bộ lưu vực hệ thống sông Hồng – Thái Bình có liên quan tới nhiều tỉnh, nhưng hệ thống thông tin liên lạc và điều hành giữa các vùng có liên quan còn yếu kém, thiếu phương tiện, thiết bị, công nghệ hiện đại để phối hợp, trao đổi thông tin để sử lý các vấn đề phát sinh trong lưu vực.

Mặt khác, sự phối hợp giữa các ngành liên quan trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên nước chưa đồng bộ, nên chưa đánh giá được sự ảnh hưởng của việc sử dụng tài nguyên nước trong khu vực. Do vậy trên lưu vực cần có sự thống nhất giữa các ngành; các địa phương, các tỉnh có liên quan trong lưu vực trong việc tổ chức quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên của lưu vực.     

4. Các kiến nghị và đề xuất:

Đề nghị Ban quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-Thái Bình tạo điều kiện để các địa phương, các ngành có liên quan thường xuyên được trao đổi thông tin về các vấn đề phát sinh trong lưu vực, bàn bạc các giải pháp, phương án khai thác lưu vực để thống nhất trong công tác quản lý, quy hoạch, khai thác hiệu quả tài nguyên nước trong lưu vực.

Sau khi công trình thuỷ điện Tuyên Quang đưa vào vận hành thì dòng chảy, chế độ thuỷ văn, hiện tượng xói lở, bồi lắng của sông Gâm, sông Lô ở hạ lưu công trình sẽ có nhiều thay đổi; một số trạm bơm tưới vùng ven sông Lô có thể bị treo, chế độ hoạt động và quy trình vận hành sẽ thay đổi so với thiết kế ban đầu; vận tải đường sông và các hoạt động nuôi trồng thủy sản cũng có nhiều ảnh hưởng bất lợi. Do vậy trong thời gian tới đề nghị ưu tiên đầu tư nghiên cứu ảnh hưởng của sự thay đổi dòng chảy hạ lưu công trình thuỷ điện Tuyên Quang để đưa ra các biện pháp khắc phục có hiệu quả.

Xây dựng các tuyến đê phòng lũ cho một số xã còn lại của vùng ven sông Lô thuộc huyện Sơn Dương và Yên Sơn (xã Cấp Tiến, xã Đội Cấn). Nghiên cứu phương án xây dựng  bờ bao, đê ngăn lũ và một số trạm bơm tiêu, cống tiêu (cống Ngòi Khổng, Ngòi Cát, Ngòi Liễn, Ngòi Là, Ngòi Chả, Ngòi Thục) để tiêu nước đồng bị ứ lại khi nước ngoài sông Lô dâng cao.

Tiến hành điều tra, thăm dò nguồn nước ngầm để có cơ sở khai thác sử dụng hợp lý, xác định chất lượng nước sử dụng, quản lý chặt chẽ các hoạt động khai thác cát, sỏi lòng sông, các công trình xây dựng làm thu hẹp lòng sông.

Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, ngành về quy hoạch xây dựng, quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên nước đảm bảo theo đúng Luật Tài nguyên nước.

 
CÁC TIN KHÁC
  ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH KHAI THÁC, SỬ DỤNG NGUỒN NƯỚC VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CẤP, THOÁT NƯỚC, CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ LƯU VỰC SÔNG HỒNG - THÁI BÌNH
  BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG NĂM 2006 CỦA TIỂU BAN QLQH LƯU VỰC SÔNG ĐÁY
  BÁO CÁO CỦA TỈNH THÁI BÌNH TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT NĂM 2006
  BÁO CÁO CỦA TỈNH SƠN LA TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT NĂM 2006
  BÁO CÁO CỦA TỈNH LẠNG SƠN TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT NĂM 2006

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn