I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
CÔNG TÁC THUỶ LỢI HÀ NAM PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG
 

            Hà Nam là một tỉnh đồng bằng Bắc bộ, thuộc lưu vực sông Hồng- Thái Bình chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Qua 10 năm tái lập, tỉnh đã có những bước phát triển mạnh về kinh tế xã hội. Tăng trưởng kinh tế năm sau cao hơn năm trước, cơ cấu kinh tế ngày càng thay đổi theo hướng phát triển công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên với đặc thù của địa phương, sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn và đóng vai trò quan trọng. Công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh luôn được tỉnh quan tâm, chú trọng. Nhằm góp phần thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn và thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ lần thứ XVII.

            1. Công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất và dân sinh năm 2006:

            a) Hiện trạng thuỷ lợi tỉnh Hà Nam:

            - Hệ thống thuỷ nông:

            Trên địa bàn tỉnh có 50 trạm bơm do các công ty KTCTTL quản lý với 324 máy công suất 1000 ¸ 32000 m3/h và 295 trạm bơm nhỏ do các HTX Nông nghiệp quản lý với công suất 250 ¸ 32000 m3/h . Hệ thống kênh mương tưới tiêu gồm 4500 km.

            Với đặc điểm địa hình tự nhiên,  tỉnh Hà Nam chia 3 vùng tưới tiêu: Vùng bán sơn địa Hữu Đáy gồm các công trình, HTCT nhỏ phục vụ tưới tiêu các vùng nhỏ, độc lập nhau. Vùng thuỷ lợi Tả Đáy- Bắc Châu nằm trong hệ thống thuỷ lợi Sông Nhuệ gồm địa bàn 2 huyện: Duy Tiên, Kim Bảng, do hai công ty cấp huyện quản lý là Công ty KTCTTL Duy Tiên và Công ty KTCTTL Kim Bảng. Vùng thuỷ lợi Tả Đáy - Nam Châu thuộc hệ thống TL Bắc Nam Hà, gồm địa bàn các huyện: Lý Nhân, Thanh Liêm, Bình Lục và TX Phủ Lý. Do Công ty Nam Hà Nam quản lý. Các công trình được thiết kế, XD từ những năm 70 (Hệ thống 6 TB điện lớn Bắc Nam Hà) hoặc từ thời Pháp thuộc (Hệ thống TL Sông Nhuệ), các chỉ tiêu thiết kế thấp: qtưới = 0,81 l/s/ha; qtiêu = 2,9 l/s/ha. Qua quá trình sử dụng được bổ sung qui hoạch xây dựng chắp vá, vì vậy hiện trạng công trình bị xuống cấp nghiêm trọng: Kênh mương bị bồi lắng sạt lở, cống đập trạm bơm hư hỏng nhiều. Năng lực hệ thống công trình suy giảm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và phục vụ đời sống dân sinh.

            - Hệ thống đê điều:

            Tuyến đê trên địa bàn tỉnh bao gồm 88,5km đê sông lớn (Đê sông Hồng: 38,973km; đê sông Đáy: 49,516km) và 230km đê sông con, đê bối. Có 213 cống dưới đê và 19 công trình kè. Được sự quan tâm đầu tư của nhà nước và của địa phương, hệ thống đê điều Hà Nam ngày càng được củng cố, nâng cao năng lực. Hiện tại có thể giữ an toàn ở mức nước thiết kế và đã chống được lũ lịch sử: Lũ sông Hồng năm 1971 mức 13,97m tại Hà Nội, mức 9,03 tại Mộc Nam. Lũ sông Đáy năm 1985 ở mức 4,46 tại Phủ Lý. Phấn đấu giữ an toàn đê sông Đáy ở mức 5,54 (tại Phủ Lý) ứng với lưu lượng phân lũ sông Hồng vào sông Đáy 5.000m3/s tại đập Đáy. Tuy nhiên, đê sông lớn còn nhiều nhược điểm như nhiều đoạn thiếu cao trình, mặt cắt đê còn nhỏ, thiếu cơ và mặt đê chưa được cứng hoá hết. Hệ thống kè chưa hoàn chỉnh, còn thiếu mỏ và chiều dài. Thân đê khả năng còn ẩn hoạ chưa phát hiện được và nhiều đoạn chưa có tre chắn sóng, ao hồ chân đê còn nhiều.

            b) Kết quả công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất và đời sống:     

            Trong những năm qua hệ thống công trình thuỷ lợi của Tỉnh đã phát huy tác dụng, phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp, đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản nhân dân trong tỉnh như sau:

- Làm tốt công tác tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp: Đảm bảo nước cho 35.307ha lúa Đông Xuân gieo cấy kịp thời vụ, cấp nước tưới đủ cho nhu cầu sinh trưởng. Vụ mùa tiêu úng cho 3.260ha lú bị ngập úng, tưới tiêu hợp lý cho tổng diện tích lúa cấy 35.967ha. Góp phần đạt năng suất lúa cả năm là 113 tạ/ha cao nhất từ trước đến nay. Tổng sản lượng lương thực 432 ngàn tấn, tăng 7,6% so với năm 2005.

            - Tạo nguồn nước sinh hoạt cho nhân dân và cấp đủ nước sản xuất cho các ngành kinh tế khác trên địa bàn Tỉnh

             - Hệ thống đê điều tỉnh Hà Nam đã được đầu tư nâng cấp và duy tu, sửa chữa chống xuống cấp bằng nguồn vốn TW và địa phương. Đê sông lớn đã gia cố đổ bê tông cứng hoá mặt đê: 3,3 km. Khối lượng đất đào đắp: 25.693 m3, Bê tông: 2.981 m3. Nâng tổng chiều dài đê được bê tông cứng hoá là 25,8 km trên tổng số 88,489 km. Kinh phí 4,1 tỷ đồng. Đê sông con, đê bối được củng cố, tu bổ khối lượng: 24.959 m3 đất đào đắp, 2.582 m3 đá tổng kinh phí 807 triệu đồng. Công tác duy tu bảo dưỡng chống xuống cấp đã đầu tư 2,5 tỷ đồng. Đê sông Hồng, sông Đáy cơ bản an toàn cho cho việc chống lũ hàng năm, đảm bảo an toàn cho tính mạng và tài sản nhân dân trong tỉnh.

            - Công trình được xây dựng, nâng cấp ngoài việc nâng cao năng lực phục vụ sản xuất, phòng chống thiên tai, còn tạo điều kiện cải thiện, tôn tạo cảnh quan và phục vụ lưu thông, phát triển dân trí, du lịch. Như tường kè sông Đáy thị xã Phủ Lý; Hệ thống công trình hạ tầng vùng phân lũ hữu Đáy (Hồ Tam Chúc; Đường vành đai cứu hộ; Trường học, trạm xá và trụ sở UBND các xã …); Mặt đê hữu Hồng, đê tả Đáy được cứng hoá kết hợp phục vụ giao thông v.v …

            2.Tình hình thiên tai và các biện pháp khắc phục của địa phương.

            a) Tình hình hạn hán và biện pháp khắc phục:

            Trong năm 2006 tình hình thời tiết có những diễn biến phức tạp. Đầu vụ Đông xuân xảy ra hạn hán nghiêm trọng ở các tỉnh đồng bằng- Trung du Bắc bộ, mực nước trên các sông suối rất thấp, lượng mưa hầu như không đáng kể. Trên địa bàn tỉnh: Mực nước sông Hồng tại Như Trác chỉ đạt 0,5¸0,8m thấp hơn cùng kỳ năm 2005 từ 0,3¸0,5m. Mực nước sông Nhuệ có thời điểm tại Điệp Sơn dao động từ 0,42¸0,5m thấp hơn cùng kỳ năm 2005 từ 0,3¸0,5m, tại Nhật Tựu chỉ đạt 0,95¸1,0m thấp hơn cùng kỳ năm 2005 từ 0,3¸0,5m. Gây thiếu nước cấp cho toàn bộ diện tích làm chậm tiến độ đổ ải, chậm tiến độ gieo cấy, thậm chí một số vùng khả năng không thể cấp nước.

            Nguồn nước trên sông Nhuệ và sông Đáy bị ô nhiễm nhiều đợt, các chất độc hại trong nước đều vượt xa tiêu chuẩn cho phép. Gây ảnh hưởng tới sức khoẻ con người và sản xuất nông nghiệp cũng như các ngành kinh tế xã hội khác của tỉnh.

            Để khắc phục tình trạng trên, đảm bảo đủ nước cho sản xuất vụ Đông xuân, tỉnh Hà Nam đã làm tốt công tác tuyên truyền tình trạng hạn hán, phát động toàn dân tham gia chống hạn.

            - Xây dựng phương án chống hạn. Đầu tư hàng chục tỷ đồng từ ngân sách địa phương và các nguồn vốn khác, đã huy động hàng triệu ngày công lao động để nạo vét kênh mương, cửa lấy nước. Tổng khối lượng: 1.490.812 m3 đất đào đắp.

            - Các công ty KTCTTL và các HTX tích cực làm công tác bảo dưỡng trung đại tu máy bơm, sửa chữa thiết bị điện, chuẩn bị đủ cơ số máy theo kế hoạch. Sẵn sàng lắp đặt các máy bơm điện, dầu dã chiến.

            - Xác định vùng chuyển đổi từ lúa sang cây màu có giá trị kinh tế ở những vùng khó có khả năng cấp nước. Chuẩn bị giống vật tư và có phương án hỗ trợ chuyển đổi.

- Chủ động lấy nước đổ ải sớm ngay từ đầu vụ. Tranh thủ triều cường, giờ thấp điểm ban đêm, tận dụng thời gian các đợt xả nước hồ Hoà Bình, Thác Bà để lấy nước phục vụ sản xuất.

- Huy động cán bộ, CNV các công ty thường xuyên bám kênh bám máy sẵn sàng vận hành khi mực nước bể hút cho phép thực hiện qui trình vận hành theo qui định. Có thời điểm đã vận hành từ 450¸500 máy bơm điện, lắp đặt bổ xung hàng chục máy bơm điện, bơm dầu dã chiến bơm ở 2-3 cấp phục vụ chống hạn, đảm bảo kịp thời vụ và phù hợp yêu cầu sinh trưởng của cây trồng.

b) Tình hình ngập úng năm 2006 và biện pháp khắc phục:

Trước tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, nắng nóng kéo dài, lượng mưa bình quân trên toàn tỉnh đến 30/6/2006 mới đạt 450 mm, thiếu hụt so với lượng mưa TBNN tới hơn 1300 mm. Mưa sẽ tập trung trong thời gian ngắn của những tháng mùa mưa, tiềm ẩn nguy cơ úng lụt trong vụ mùa. UBND Tỉnh đã chủ động triển khai công tác phòng chống bão lũ úng ngay từ đầu năm.

Trận mưa lớn vào ngày 29/7 đến 31/7 với lượng mưa trung bình 140mm trên địa bàn tỉnh vào thời kỳ lúa mùa mới cấy đã gây ngập một số nơi, diện tích lúa sâu nước 1.795ha của các huyện Kim Bảng, Bình Lục, Thanh liêm. Đặc biệt, trận mưa vào trung tuần tháng 8/2006 với lượng mưa phổ biến 150mm. Nước trên thượng nguồn và các tỉnh phía trên dồn về lớn. Sông Đáy tại Phủ Lý ngày 20/8 là 3,61m trên mức báo động II. Sông Hồng tại Như Trác 4,12m dưới báo động I: 0,28m. Mực nước sông Nhuệ tại Hà Đông là 5,95m cao hơn mức nước lịch sử 0,2m, các trạm bơm đã được lệnh ngừng bơm tiêu vào sông Nhuệ. Với phương án phòng chống úng chủ động, các đơn vị đã tiêu nước đệm, giữ mực nước bể hút theo qui trình vận hành hệ thống từ trước nên diện tích sâu nước chỉ cục bộ một số địa phương là 1.473ha. Các hệ thống đã huy động 141 máy bơm tiêu nước ra sông Hồng, sông Đáy, sông Châu Giang nên đã tiêu úng kịp thời cứu lúa và hoa màu.

Hai đợt tiêu úng cuối tháng 7 và trung tuần tháng 8 năm 2006. Điện năng tiêu thụ là 2.831.712 Kwh. Kinh phí 1,98 tỷ đồng.

Để làm tốt công tác chống úng kịp thời, các biện pháp mà ngành nông nghiệp tỉnh Hà Nam thực hiện được coi là công tác thường xuyên hàng năm, đó là:

- Tiến hành kiểm tra rà soát công trình thuỷ lợi, đê điều trước mùa mưa bão, đánh giá năng lực thực tế các công trình, phát hiện kịp thời xử lý sớm các sự cố, nhất là các đoạn đê kè xung yếu, các cống dưới đê và các trạm bơm tiêu đầu mối. Qua đó xác định các công trình trọng điểm, đề ra phương án cụ thể cho từng công trình.

- Tiến hành sửa chữa các công trình tiêu nước: Trạm bơm tiêu đầu mối, nạo vét hệ thống kênh tiêu trục chính, cửa lấy nước, bể hút trạm bơm. Kiểm tra sửa chữa các công trình trọng yếu trên hệ thống công trình thuỷ lợi.

- Xây dựng đề án tưới tiêu vụ mùa, chủ động tưới tiêu, xây dựng phương án chống úng.

- Thành lập BCH phòng chống lụt, bão, úng cấp huyện  phân công cán bộ phụ trách và xây dựng phương án chống bão lụt úng cụ thể cho từng địa bàn của huyện. Thực hiện tốt phương châm 4 tại chỗ trong công tác chống lụt,bão, úng.

- Chỉ đạo theo dõi sát diễn biến thời tiết, thuỷ văn, kế hoạch gieo cấy để điều hành tưới tiêu hợp lý nhằm đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng tốt vừa chủ động phòng chống úng lụt.

            3. Một số phát sinh và tồn tại trong lưu vực

Qua công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất và đời sống trong năm 2006 và những năm trước đã bộc lộ một số tồn tại và phát sinh trong lưu vực, đó là:

a/ Về Công trình thuỷ nông:

          - Hệ thống công trình được quy hoạch và xây dựng đã lâu nên đã hư hỏng xuống cấp và nảy sinh nhiều bất cập do những chuyển đổi về cơ cấu mùa vụ, giống cây trồng, vật nuôi và nhu cầu dùng nước của các ngành kinh tế, các hộ ngày càng đòi hỏi cao về số lượng và chất lượng:

             +) Hệ số tưới, tiêu toàn tỉnh còn thấp so với yêu cầu (qtưới = 1,25 l/s/ha; qtiêu = 5,5 ¸ 6,2  l/s/ha) do thiếu công trình đầu mối.

              +) Một số công trình đã lạc hậu về công nghệ và đã hư hỏng nặng không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu tưới tiêu của hệ thống. Trong khi nguồn kinh phí từ thu thuỷ lợi phí không đáp ứng được yêu cầu cho công tác quản lý, duy tu sửa chữa chống xuống cấp cho hệ thống công trình.

            - Các dự án qui hoạch hệ thống chưa được đầu tư xây dựng đồng bộ, các công trình xây dựng mang tính chắp vá nên chưa phát huy được hiệu quả.

            - Việc quản lý tài nguyên nước cả về chất lượng và phân bổ nguồn còn hạn chế. Chưa phối hợp đồng bộ giữa các ngành và các địa phương trong việc sử dụng nước cũng như kiểm soát nguồn xả của các cơ sở công nghiệp và khu dân cư. Khả năng xử lý và điều hành hướng tiêu thoát nước thải chưa hợp lý gây ô nhiễm nặng và kéo dài ở hạ lưu các con sông, đặc biệt là sông Nhuệ.

            b/ Hệ thống đê điều:

            - Một số tuyến đê còn chưa đáp ứng so với thiết kế như: Cao trình mặt đê thấp mặt đê nhỏ, thiếu cơ thượng hạ lưu, ao hồ chân đê còn nhiều, mặt đê chưa được cứng hoá. Đặc biệt là trong giai đoạn phát triển kinh tế xã hội hiện nay, việc xây dựng đường gom chân đê rất cần thiết.

            - Hệ thống kè trên các sông lớn thuộc địa bàn tỉnh Hà Nam chưa đáp ứng yêu cầu: Số lượng kè mỏ trên sông Hồng còn thiếu, Kè lát mái một số đoạn trên sông Hồng và sông Đáy còn chưa đủ chiều dài nên tình trạng sạt lở vẫn xảy ra nhiều.

            4. Yêu cầu phối hợp đa ngành và liên tỉnh trong lưu vực.

            - Phối hợp các cấp các ngành, các địa phương trong qui hoạch phát triển kinh tế xã hội. Đảm bảo gắn liền với kiểm soát, xử lý chất thải giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nhất là trong việc phát triển đô thị và các khu công nghiệp.

            -  Có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành TW với các địa phương và giữa các địa phương trong lưu vực trong việc cấp và sử dụng hợp lý nguồn nước (Cả về thời gian và trữ lượng) phục vụ sản xuất và dân sinh.

            - Xây dựng hệ thống quan trắc về lưu lượng và chất lượng nước, dự báo tình trạng ô nhiễm. Có chế tài mạnh để ngăn chặn và xử phạt việc xả nước thải chưa qua xử lý vào nguồn nước.

            - Phối hợp xây dựng công trình nghiên cứu đánh giá điều kiện tự nhiên, sự phát triển kinh tế- xã hội tạo áp lực đến thực tế nguồn nước, từ đó gây tác động đến con người và xã hội. Xác định được đáp ứng cần thiết của con người và xã hội trở lại trong mối quan hệ tương tác nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nguồn nước phục vụ sản xuất và dân sinh một cách bền vững.

            - Phối hợp chặt chẽ các cấp, ngành và các địa phương duy trì hoạt động của Ban QLQH lưu vực sông đảm bảo sự hiệu quả, đồng thuận trong công tác qui hoạch tổng thể, quản lý sử dụng nguồn nước, đầu tư nâng cấp đồng bộ các hệ thống công trình trong lưu vực.

         - Cần nghiên cứu các dự án xây dựng hồ chứa thượng nguồn các phụ lưu sông Đáy, cải tạo nâng cấp các hồ chứa đã có trong lưu vực nhằm tạo nguồn nước bổ sung, thay thế cho tưới và khi nguồn nước bị ô nhiễm.

             5, Một số kiến nghị và đề xuất ưu tiên đầu tư:

            Trong năm qua công tác thuỷ lợi Tỉnh Hà Nam đã làm tốt công tác phục vụ sản xuất và đời sống trên địa bàn, góp phần quan trọng cho phát triển kinh tế- xã hội. Để phát huy hơn nữa hiệu quả phục vụ, cần nâng cao năng lực của hệ thống công trình. Đề nghị Chính phủ và các Bộ Ngành TW quan tâm:

            - Tập trung vốn triển khai xây dựng đồng bộ hệ thống thuỷ lợi Tắc Giang- Phủ Lý để sớm đưa vào vận hành khai thác.           

            - Phê duyệt, đưa vào đầu tư xây dựng dự án cải tạo, nâng cấp hệ thống TL Sông Nhuệ và dự án sửa chữa, nâng cấp hệ thống TL Bắc Nam Hà. Trước mắt, cần đầu tư kinh phí để nâng cấp các TB như: Chợ lương, Lạc Tràng Bộ, Quan Trung, Triệu Xá và nạo vét các sông tiêu như: Biên Hoà, Long xuyên, Sông Sắt, Sông Nhuệ...

            - Xây dựng bổ sung một số công trình đầu mối như TB Kinh Thanh 2... đảm bảo hệ số tưới, tiêu theo yêu cầu mà Bộ đã duyệt.

            - Bổ sung cao trình đê Tả Đáy, đắp đủ cơ đê, san lấp hồ ao sát chân đê. Cứng hoá  toàn  bộ mặt đê Hữu Hồng và một số đoạn xung yếu phục vụ yêu cầu vận hành bảo vệ và dân sinh trên đê Tả Đáy. Sửa chữa các cống yếu qua đê như cống Vũ Xá (Đê sông Hồng) cống Nhâm Tràng (Đê tả Đáy).

            - Xây dựng bổ sung mỏ kè như hệ thống kè Yên Ninh, Như trác (Sông Hồng). Xử lý sạt lở các đoạn bãi sông đang lở mạnh như sau kè Chương xá, sau kè Như Trác (sông Hồng), đoạn K98,5 ¸ K100 đê Tả Đáy…
 
CÁC TIN KHÁC
  CÔNG TÁC QUẢN LÝ QUY HOẠCH LƯU VỰC SÔNG NĂM 2006 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG
  ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH KHAI THÁC, SỬ DỤNG NGUỒN NƯỚC VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CẤP, THOÁT NƯỚC, CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ LƯU VỰC SÔNG HỒNG - THÁI BÌNH
  BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG NĂM 2006 CỦA TIỂU BAN QLQH LƯU VỰC SÔNG ĐÁY
  BÁO CÁO CỦA TỈNH THÁI BÌNH TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT NĂM 2006
  BÁO CÁO CỦA TỈNH SƠN LA TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT NĂM 2006

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn