I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
THAM LUẬN CỦA TỈNH HẢI DƯƠNG TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2007 CỦA BAN QLQHLV S.HỒNG - THÁI BÌNH
 

I- Đánh giá kết quả công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất và đời sống trên điạ bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2007

1.khái quát về sản xuất vụ chiêm:

* Tổng diện tích gieo cấy 65.800ha

Trong đó:

- Trà xuân sớm chiếm 35% diện tích, tập trung gieo cấy từ 20/1/2007 đến 05/02/2007

- Trà xuân muộn chiếm 65% diện tích, tập trung gieo cấy từ 5/02/2007 đến 20/2/2007.

- Tổng diện tích gieo trồng các loại rau màu 10.000ha.

* Lịch đổ ải: Tập trung đưa nước vào trữ trong hệ thống kênh trục từ 28/12/2006.Một số nơi đổ ải sớm từ 1/01/2007.Đổ ải đồng loạt từ 5/1/2007 (Theo lịch của tỉnh).

Biện pháp đổ ải chủ yếu là bơm bằng động lực, khoảng 54.000ha, phần tự chảy (thuỷ triều và hồ đập) và chưa có công trình (bãi ngoài đê ) khoảng 12.420 ha, chủ yếu tập trung ở vùng thuỷ triều.Khu vực Bắc Hưng Hải chủ yếu tưới bằng động lực ở huyện Cẩm Giàng, Thanh Miện, Bình Giang).

 Đến ngày13/02/2007, Hải Dương cơ bản đưa nước đổ ải xong toàn bộ phần diện tích canh tác vụ chiêm, chỉ còn mọt phần diện tích cục bộ vùng cao, vùng xa khó khăn về nguồn nước.

2.Đánh giá về nguồn nước trong giai đoạn đổ ải:

1.Về vụ chiêm: Mực nước trên hệ thống sông trục Bắc Hưng Hải rất thấp, đặc biệt là giai đoạn đổ ải. Mực nước trên sông Hồng tại thượng lưu cống Xuân Quan thường xuyên thấp hơn mực nước thiết kế tưới rất nhiều (mntk tưới là +1,85), trung bình hàng năm từ năm 2004trở lại đây chỉ đạt từ +1,19 - +1.25 có năm chỉ đạt +1,02-+1.01, do vậy việc đổ ải của Hải Dương gặp rất nhiều khó khăn. Việc Chính phủ cho điều tiết xả nước từ các hồ thuỷ điện để nâng mực nước trên hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình là một chủ trương rất đúng đắn và kịp thời phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh kinh tế cho các tỉnh khu vực Bắc Bộ nói chung và Hải Dương nói riêng.

Vụ chiêm năm 2007 Chính phủ đã điều tiết cho xả nước từ các hồ thuỷ điện làm 03 đợt:

* Về cấp nguồn nước tưới :

            Trong 3 đợt xả nước của các hồ: Hoà Bình, Thác Bà và Tuyên Quang (riêng hồ Tuyên Quang chưa phát điện) để tưới và cấp nước cho hạ du vừa qua đã có tác dụng rất lớn về tưới cho nông nghiệp, cải tạo môi trường sinh thái, vận tải thuỷ, cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp và các nhu cầu khác. Riêng về vấn đề tưới cho Hải Dương và hệ thống Bắc Hưng Hải đã đảm bảo đủ nước đổ ải gieo cấy trong khung thời vụ tốt nhất trước 28/2).

            Tuy nhiên, nếu Công ty KTCTTL Bắc Hưng Hải không lấy nước ngược từ cống Cầu Xe, An Thổ lên (điều này trái với thiết kế và quy trình vận hành hệ thống Bắc Hưng Hải) mà chỉ lấy từ cống Xuân Quan xuống thì chắc chắn hệ thống Bắc Hưng Hải sẽ bị hạn nghiêm trọng, không đủ nguồn nước tưới, nhiều diện tích phải bỏ hoá hoặc bắt buộc phải chuyển sang cây trồng cạn (khoảng 30.000 ha).

            Qua tính toán của chúng tôi với khẩu độ 2 cống : 2 x 48m = 96m; cao trình đáy - 4,0; mực nước đỉnh triều cao nhất là + 1,80 thì tổng lượng nước đưa vào hệ thống Bắc Hưng Hải chiếm 55-60% tổng lượng nước cần của hệ thống trong thời kỳ đổ ải, cống Xuân Quan chỉ cấp được 40 - 45% tổng lượng mà thôi. ở đây nổi lên vấn đề chất lượng nước ở 2 cống tiêu Cầu Xe, An Thổ, do ở cuối hệ thống, gần cửa biển (khoảng 30 km) nên bị ảnh hưởng mặn, các chỉ tiêu hoá lý khác chắc chắn thua kém chất lượng nước ở sông Hồng lấy vào cống Xuân Quan. Thực tế ở 2 cống này đã có một số năm bị nhiễm mặn quá nồng độ cho phép phải đóng cống ngăn nước mặn chảy vào hệ thống.

            Quan thảo luận và thống nhất với Công ty KTCTTL Bắc Hưng Hải về vấn đề xả nước các hồ thuỷ điện để tưới và cấp nước có các kiến nghị cụ thể như sau:

            1- Phải xả nước với lưu lượng đủ lớn để đảm bảo có mực nước cao và ổn định. Cụ thể MN sông Hồng tại Hà Nội phải từ +2,40 đến + 2,50 trở lên thì mực nước tại Xuân Quan mới đạt từ +1,85 trở lên. Vì nếu mực nước thấp dưới +1,85 thì dù có nguồn nước nhưng hệ thống trạm bơm cũng không bơm được, gây lãng phí, mực nước phải ổn định tương đối tránh ngày cao, đêm thấp như các đợt xả vừa qua thì thời gian bơm được quá ít, không hiệu quả.

            2- Nên xả sớm, thời gian xả nước dài hơn và chỉ nên xả 2 đợt:

            - Đợt 1 bắt đầu từ 10/1 - 15/1 (tuỳ theo lịch thuỷ triều từng năm) phải tính toán thuỷ lực để tìm đường nước dâng hiệu quả nhất trên sông Hồng tại các cống lấy nước lớn, nên trùng vào thời kỳ triều cường. Thời gian đợt 1 nên dài 20 - 25 ngày.

            - Đợt 2: Từ 10/2 - 19/2 thời gian ngắn hơn đợt 1.

            3- Sau 2 đợt xả nước phục vụ đổ ải gieo cấy từ 19/2 đến 15/5 phải xả ít nhất 2 đợt để các hệ thống thuỷ nông thay nước, giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước và phải thông báo cụ thể cho các địa phương. (ở hệ thống Bắc Hưng Hải từ 19/2 đến nay do sợ thiếu nước tưới dưỡng phải đóng kín các cống dưới đê, không cho nước chảy ra ngoài hệ thống, tuy đủ nước tưới nhưng chất lượng nước lại kém).

3.- Diễn biến thời tiết khí hậu:

            Năm 2007 là năm có thời tiết khí hậu, thuỷ văn biến động phức tạp gây ảnh hưởng cho sản xuất nông nghiệp. Lượng mưa toàn vụ chiêm đạt rất thấp từ 300 mm đến 350 mm.

 4- Điều hành tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp:

* Điều hành tưới.

- Vụ chiêm xuân 2007, thời tiết nắng và rất khô hanh, không có mưa. Tỉnh Hải Dương đã xẩy ra thiếu nước, hạn ở một số địa phương, tuy nhiên do được cảnh báo trước, đồng thời có sự chuẩn bị chu đáo. Để chủ động cung cấp nước tưới phục vụ sản xuất. Sở Nông nghiệp và PTNT đã chỉ đạo các địa phương và doanh nghiệp thuỷ nông thống nhất với Công ty KTCTTL Bắc Hưng Hải tận dụng triệt để các con nước thuỷ triều, chủ động mở tất cả các cống dưới đê lấy nước sông ngoài, kể cả lấy nước ngược từ Cầu Xe, An Thổ và mở cống Xuân Quan tích trữ nước vào toàn bộ hệ thống kênh dẫn sông trục từ ngay đầu tháng 1 năm 2007 và bơm đổ ải sớm hơn các năm 5 ngày (ngày 5/1/2007) giảm bớt sự căng thẳng tập trung về thiếu nguồn nước.

Trong công tác đổ ải, tưới dưỡng phục vụ sản xuất nông nghiệp. Sở Nông nghiệp và PTNT đã phối hợp với UBND các huyện, TP chỉ đạo Công ty KTCTTL tỉnh và các địa phương chưa hoàn thành khối lượng làm thuỷ lợi đông xuân tập trung nhân lực, phương tiện hoàn thành việc nạo vét các cửa cống, hố hút, kênh dẫn, khơi thông dòng chảy để dẫn nước đổ ải thuận lợi. Đối với các TB tưới ải thực hiện phương châm "yêu cầu gieo cấy đến đâu tập trung đưa nước tới đó" nhằm tiếp kiệm điện, nước, tránh đổ ải tràn lan gây thất thoát nước. Đồng thời chỉ đạo các huyện khu vực thuỷ triều, tận dụng triệt để các con nước thuỷ triều để tranh thủ lấy nước đổ ải. Đảm bảo chất lượng nước đưa vào đồng ruộng, thông báo kịp thời để nông dân trữ nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất, trong quá trình cấp nước tưới tận dụng tối đa khả năng đưa nước tự chảy, làm đất gieo cấy đến đâu, đưa nước tới đó, tiết kiện nước, tiết kiệm điện. Đối với giai đoạn tưới dưỡng, sở đã chỉ đạo các đơn vị trong ngành và các huyện đóng kín các cống dưới đê vùng để giữ nước không để thất thoát nước ra sông ngoài.

Mặc dù thời tiết thuỷ văn vụ chiêm xuân 2007 có nhiều bất lợi đối với sản xuất nông nghiệp nhưng được sự quan tâm lãnh đạo sát xao của các cấp, các ngành cùng với sự cố gắng tích cực của cán bộ, công nhân viên trong toàn ngành Nông nghiệp nên đã chủ động phục vụ kịp thời SXNN đạt được kết quả tốt, không để hạn hán xảy ra, không có diện tích chuyển đổi cây trồng ngoài kế hoạch do thiếu nước tưới, góp phần đưa năng suất cây trồng của tỉnh Hải Dương lên cao.

 

5 / Kết quả phục vụ tưới tiêu năm 2006.

 Tổng toàn tỉnh vụ chiêm xuân tưới đạt 71.233 ha cây trồng các loại,.

Nhờ việc tưới tiêu chủ động cùng với các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp khác đã tạo điều kiện cho lúa, các cây trồng khác của tỉnh nhà đều đạt năng suất cao.

 

6 / Những tồn tại cần khắc phục:

            Từ thực tế phục vụ tưới tiêu 6 tháng đầu năm 2007 còn bộc lộ một số tồn tại đó là:

            - Còn một số tuyến kênh tiêu, kênh dẫn còn bị bồi lắng chưa đảm bảo mặt cắt, còn nhiều vật cản chưa giải toả triệt để gây cản trở dòng chảy đặc biệt là nạn bèo tây, công trình thuỷ lợi còn bị vi phạm, lấn chiếm nhiều.

            - Mực nước trên các sông trục thấp nhiều so với thiết kế nên việc bơm tưới vụ chiêm rất khó khăn và tốn kém.

- Nhiều trạm bơm máy móc già cỗi, lạc hậu tốn điện, hiệu quả tưới thấp nhưng chưa có khả năng nâng cấp, cải tạo.

 Những tồn tại nêu trên cần được xem xét cụ thể của từng huyện, nghiêm túc rút kinh nghiệm khắc phục khó khăn để chỉ đạo thực hiện tốt công tác thuỷ lợi đông xuân 2007-2008. Đồng thời đề nghị Bộ và tỉnh tăng cường đầu tư nâng cấp hệ thống.

            

II. Tình hình thiên tai (hạn, úng, lũ lụt ..) trong 6 tháng đầu năm 2007 và các năm trước đây. Các biện pháp khắc phục thiên tai của địa phương:

1.Về hạn: Trong những năm trước đây, diễn biến thời tiết khí tượng thuỷ văn không có nhiều biến động phức tạp, yêu cầu dùng chưa ở mức độ cao như hiện nay nên tình hình hạn của Hải Dương diễn ra không phức tạp, Hải Dương cơ bản đã đảm bảo đủ công suất bơm bằng động lực tưới cho khu vực phải tưới bằng động lực, ở các huyện vùng triều cơ bản đủ nước tưới từ hệ thống tự chảy, và bơm động lực do các trạm bơm điện địa phương những năm trước đây phát triển mạnh; tuy nhiên ở huyện Chí Linh, vùng lấy nước tưới từ hồ đập nhiều năm có khó khăn về nguồn nước tưới do hồ bị bồi lắng nhiều, nguồn sinh thuỷ ít. Hệ số tưới đã đạt tương đối cao, bình quân đạt 1,53 l/s/ha.

Năm 2007, diễn biến thời tiết khí tượng thuỷ văn có nhiều phức tạp, mực nước sông Hồng tại cống Xuân Quan đã có ngày xuống thấp +1.01 so với thiết kế +1.85 gây khó khăn cho tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh kinh tế, đã xảy ra hạn hán ở một số nơi trong tỉnh như Chí Linh, Cẩm Giàng, Thanh Miện do mực nước ở các sông trục xuống quá thấp, lượng mưa đạt rất thấp so với cùng kỳ nhiều năm. Vụ chiêm năm 2006 một số vùng của Hải Dương đã bị thiếu nước không có nguồn cung cấp để gieo cấy không đúng thời vụ bị giảm năng suất chủ yếu ở Chí Linh (trên 1.500 ha).

*Biện pháp khắc phục:

- Kiên quyết tập trung chỉ đạo và thực hiện hoàn thành kế hoạch làm thủy lợi Đông xuân theo kế hoạch tỉnh giao. ưu tiên cho công tác nạo vét các trục dẫn, kênh dẫn, cửa cống, hố hút. Đồng thời khẩn trương rà soát lại hiện trạng hệ thống các công trình thủy lợi, nếu chưa đảm bảo yêu cầu cung cấp, chuyển tải nước cần xây dựng phương án tu sửa, nạo vét cụ thể trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để triển khai. Trong quá trình triển khai làm thủy lợi đông xuân cần kiên quyết giải tỏa các vi phạm CTTL, các bè bèo vật cản gây ách tắc dòng chảy, đảm bảo thông thoáng dòng chảy.

- Xây dựng phương án chống hạn cụ thể của từng địa phương, từng vùng. Chuẩn bị đầy đủ điều kiện, phương tiện vật tư, sửa chữa hoàn thiện MMTB để sẵn sàng chống hạn khi có tình huống xảy ra. Xác định cụ thể những vùng có khó khăn về nguồn nước để có phương án chuyển đối cơ cấu cây trồng cho phù hợp.

- Tập trung chỉ đạo chặt chẽ việc đổ ải, tưới dưỡng.Theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết khí tượng thủy văn, nguồn nước điều hành phân phối nước hợp lý, linh hoạt, cụ thể đối với từng diện tích cụ thể theo phương châm" yêu cầu làm đất đến đâu, đưa nước đến đó" nhằm tiết kiệm nước.

            - Phối hợp với Công ty KTCTTLBHH điều hành hợp lý mực nước trong các sông trục để chủ động tận dụng nguồn nước cung cấp nước cho các khu vực, bàn bạc thống nhất xử lý các tình huống ngoài quy trình thiết kế vận hành của hệ thống.

Với phương châm chỉ đạo và điều hành như trên vụ chiêm xuân 2007 Hải Dương cơ bản đã chủ động được nguồn nước đảm bảo phục vụ sản xuất nông nghiệp đạt năng suất cao.

2. Về úng :

Đây là một vấn đề nan giải của Hải Dương, hiện nay do hệ thống công trình thuỷ lợi phục vụ tiêu úng ở cả khu vực tiêu tự chảy và khu vực tiêu úng bằng động lực đều còn thiếu công trình, công trình chưa đồng bộ , thiếu công xuất, MMTB cũ rão, lạc hậu. Đến nay toàn tỉnh có diện tích tiêu thiết kế có công trình : 141.638 ha/150.932 ha cần tiêu, trong đó tiêu tự chảy: 49.283 ha, tiêu bằng bơm điện : 92.355 ha. So với diện tích cần tiêu động lực thì hàng năm tỉnh Hải Dương còn gần 9.000 ha chưa chủ động về tiêu chủ yếu vùng tự chảy tập trung vào vùng Phí Xá ( Thanh Miện), Cầu Xộp (Bình Giang), Khu Tam Lưu (Kinh Môn), An Kim Hải( Kim Thành),sông Đò Cậy, Cẩm Đông ( Cẩm Giàng). Vùng đã có công trình hệ số tiêu thiết kế còn thấp trung bình đạt 4,2 l/s/ha so với thiết kế là 5,0 l/s/ha

* Hệ thống tiêu bằng động lực :

            - Hệ thống công trình tiêu động lực hầu hết đều được xây dựng từ những năm 1960 - 1970, hiện tại máy móc thiết bị cũ rão, lạc hậu công trình xuống cấp. Đặc biệt hệ thống các trạm bơm và kênh dẫn nước qua nhiều năm khai thác đã hư hỏng, bồi lắng, vỡ lở, ách tắc gây lãng phí điện, nước, diện tích chiếm đất của hệ thống công trình lớn, tốn nhiều công tu bổ và chi phí quản lý vận hành, nhưng hiệu quả phục vụ kém.

* Hệ thống tiêu tự chảy.

Đối với vùng tiêu tự chảy tập trung nhiều ở huyện Kim Thành, Kinh Môn, Thanh Miện, Bình Giang, Cẩm Giàng, Gia Lộc, Chí Linh. Do mực nước cửa tiêu có xu hướng dâng cao, khả năng tự chảy rất kém, ví dụ: trận mưa cuối tháng 7 năm 2003 lượng mưa mới có 180 mm, mà hệ thống An Kim Hải phải tiêu mất 9 ngày. Đây là vùng sản xuất nông nghiệp còn bấp bênh, dù có chuyển đổi sang trồng cây lâu năm, nuôi trồng thuỷ sản vẫn phải bố trí hệ thống tiêu động lực. Theo tính toán sơ bộ quy hoạch năm 2006 thì hiện nay còn hơn 20.000 ha cần phải xây dựng trạm bơm tiêu mới. (Chưa kể việc cải tạo nâng cấp các trạm bơm cũ).Do vùng tự chảy cũ không đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống phải dùng bơm động lực.

*Biện pháp khắc phục:

-Đánh giá, rà soát lại quy hoạch thuỷ lợi toàn tỉnh, xây dựng quy hoạch tổng thể hệ thống CTTL cho phù hợp định hướng phát triển kinh tế, xã hội giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài.

-Củng cố hệ thống bờ bao, cụ thể là phải tính toán nâng cấp hệ thống bờ vùng BHH, An Kim Hải, hệ thống bờ vùng của các hệ thống lớn. Cải tạo, nâng cấp một số TB đã quá cũ, thiếu công suất. Xây dựng một số TB tiêu úng mới phù hợp với quy hoạch trước mắt cũng như lâu dài. Sửa chữa xây dựng một số hệ thống cống điều tiết tiêu của các hệ thống. Xây dựng các trạm bơm tiêu mới cho vùng không tiêu tự chảy được: TB Chi Ngãi, TB Đồn Điền, TB Hùng Thắng, TB Quảng Đạt, TB Phí Xá, TB khu Tam Lưu…Xây dựng trạm bơm tiêu Cầu Xe, An Thổ.

 

III.Các vấn đề liên quan đến nhu cầu dùng nước của địa phương. Sản xuất nông nghiệp và thực tế công tác chuyển đổi cơ cấu sản xuất cây trồng vật nuôi của tỉnh, hướng phát triển trong các năm tới. Tình hình phát triển đô thị và công nghiệp:

 Hiện nay nhu cầu dùng nước để sản xuất nông nghiệp và dân sinh kinh tế của Hải Dương đã có nhiều biến đổi lớn. Cơ cấu cây trồng, mùa vụ đã thay đổi, diện tích cấy lúa đã có xu hướng giảm, cây màu, cây công nghiệp và các giống cây có thu nhập cao, ngắn ngày và diện tích nuôi trồng thuỷ sản đang có xu hương tăng nhanh. Từ đối tượng phục vụ thay đổi do đó nhu cầu dùng nước cũng có nhiều thay đổi, và biện pháp để phục vụ cũng thay đổi theo. Công xuất máy móc thiết bị, hệ thống công trình thuỷ lợi được xây dựng từ những năm 1970-1975 đến nay đã có nhiều điểm không còn phù hợp, đặt ra nhiều thách thức cho công tác quy hoạch, quản lý khai thác hệ thống CTTL, từ sự chỉ đạo vĩ mô đến quản lý khai thác, điều hành hệ thống CTTL. Đối với dân sinh kinh tế, hiện nay yêu cầu chất lượng cuộc sống ngày càng đòi hỏi cao hơn, nhu cầu cung cấp nước và hạn chế tác hại của thiên tai do nước gây ra cũng yêu cầu cao hơn. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế cả nước, Hải Dương cũng đang phát triển rất mạnh các khu công nghiệp, khu đô thị như Nam Cường, Đại An, Nam Sách… nên yêu cầu cung cấp nước, tiêu thoát nước ngày càng trở lên bức xúc. Đến nay, Hải Dương chuyển đổi từ cấy lúa sang trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, nuôi trồng thuỷ sản từ 4.000-5.000 ha. Hàng chục khu CN, cum CN, khu đô thị mới đã và đang hình thành và đi vào hoạt động với diện tích hơn 4.000 ha.

*. Tình hình ô nhiễm nguồn nước, nguyên nhân,ảnh hưởng:

Nguồn nước mặt của tỉnh Hải Dương hiện đang có nguy cơ bị ô nhiễm nặng. Các nhà máy chế biến nông sản, thực phẩm, các khu công nghiệp chế biến hiện đang xả nước bẩn, nước bị ô nhiễm nặng vào các dòng sông, kênh mương, đặc biệt là các sông, kênh ven các đô thị, thành phố. Các bệnh viện, trạm y tế cũng xả các vật phẩm, chất thải ra các sông trục, theo số liệu báo cáo của ngành Y tế nồng độ ô nhiễm đặc biết các vi khuẩn gây bệnh do các chất thải của các trung tâm y tế, các khu công nghiệp vào nguồn nước đều vượt mức cho phép. Đây là một vấn đề đã trở lên bức xúc và gay gắt hiện chưa kiểm soát được, ảnh hưởng trực tiếp đến vệ sinh môi trường và phát triển sản xuất nông nghiệp của tỉnh.

*. Công tác thuỷ lợi phục vụ chuyển đổi cơ cấu sản xuất cây trồng, vật nuôi, những kết quả đạt được, những khó khăn tồn tại, các kiến nghị và hướng giải quyết :

Đối tượng phục vụ của ngành thuỷ lợi Hải Dương là sản xuất nông nghiệp và dân sinh kinh tế. Để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tế diễn ra, trong những năm qua thuỷ lợi Hải Dương đã từng bước đáp ứng yêu cầu của sự phát triển của nền kinh tế, yêu cầu của đời sống dân sinh. Trước yêu cầu đòi hỏi của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ chủ yếu là sản xuất trồng lúa sang cơ cấu giảm dần đi đến ổn định đến 2010 còn 60.000 ha- 62.000 ha trồng lúa còn lại chuyển sang trồng màu, các cây công nghiệp ngắn ngày, các cây có năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao, nuôi trồng thuỷ sản hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất canh tác sang hình thành các khu công nghiệp, khu đô thị , làm đường giao thông…ngành thuỷ lợi cần có những chuyển biến mạnh mẽ khu chăn nuôi gia cầm, gia súc tập trung để phù hợp với yêu cầu đặt ra của thực tế đời sống xã hội. Đây là một vấn đề lớn đặt ra cho công tác quản lý, quy hoạch tổng thể của hệ thống các công trình thuỷ lợi.

Hệ thống công trình thuỷ lợi Hải Dương đã đáp ứng được một số yêu cầu của việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất cây trồng: Cơ bản đã chủ động cung cấp đủ nước tưới cho các khu chuyển đổi sang trồng cây ăn quả, trồng màu, hoa, cây công nghiệp, nuôi cá hoặc cá loại thuỷ sản khác như baba, ếch, cá tôm… Đã chủ động tiêu thoát với mức đảm bảo thấp tần suất p =20 % cho các khu vực chuyển đổi mạnh như vải ở Huyện Thanh Hà, hoa hồng ở Gia Lộc, dưa hấu, cây ngắn ngày ở huyện Kim Thành… Một số khu công nghiệp như Đại An, Nam Sách, khu đô thị mới như Nam Cường đã được chủ động trong tiêu thoát úng..

- Sở đã tham mưu cho tỉnh ra Quyết định số 3994/QĐ-UBND ngày 17/11/2006 ban hành quy định về bảo vệ công trình thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh Hải Dương, cụ thể hoá Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi, Nghị định 143/NĐ-CP.

Tuy nhiên, do các công trình tiêu úng, tưới đều được xây dựng đã lâu, trong điều kiện nền kinh tế còn kém phát triển, cơ cấu sản xuất cây trồng còn lạc hậu đồng thời hiện hệ thống công trình thuỷ lợi đã quá cũ rão thiếu đồng bộ, thiếu công suất, thiếu công trình nên hiện tại hệ thống công trình thuỷ lợi Hải Dương cũng còn có nhiều vấn đề cần phải được đánh giá lại, được bổ sung quy hoạch, đầu tư mới có thể đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế và dân sinh trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài.Cụ thể:

-          Hệ thống công trình hiện có đã quá cũ rão, thiếu công suất, không còn phù hợp.

-          Quy hoạch thuỷ lợi toàn tỉnh chưa được đánh giá, xây dựng lại, quy hoạch cũ không còn phù hợp.Hiện tỉnh đã giao cho Viện Quy hoạch thuỷ lợi lập quy hoạch thuỷ lợi cho toàn tỉnh đến năm 2020

-          Còn nhiều vùng còn thiếu công trình, thiếu công suất.

-          Việc quản lý, khai thác còn có nhiều tồn tại về mô hình quản lý, quy mô quản lý, mối quan hệ giữa đơn vị chuyên ngành và chính quyền điạ phương. Sự phối hợp về đóng góp đầu tư, quản lý giữa nhà nước và nhân dân cũng còn có hạn chế.

-          Quy hoạch phát triển nền kinh tế cũng chưa có quy hoạch dài hơi mà vẫn còn mang tính trước mắt, sự phối hợp giữa các ngành chưa thật sự gắn bó nên vẫn còn có những mâu thuẫn.

*Những kiến nghị và hướng giải quyết:

-          Đề nghị Viện Quy hoạch Thuỷ lợi đẩy nhanh tiến độ quy hoạch hệ thống thuỷ lợi BHH và quy hoạch thuỷ lợi Hải Dương đến năm 2020.

-          Đầu tư thích đáng cho công tác thuỷ lợi về cả con người, cơ sở vật chất, xây dựng công trình cần thiết trên cơ sở có thứ tự ưu tiên.

-          Hoạch định chính sách đầu tư, quản lý, khai thác bảo vệ công trình thuỷ lợi đầy đủ.

VI. Các vấn đề phát sinh trong lưu vực, khó khăn tồn tại và các kiến nghị của địa phương thuộc lưu vực với Ban QLQH lưu vực sông Hồng – Thái Bình, với các địa phương khác trong lưu vực:

-          Quy hoạch tổng thể của hệ thống BHH đến năm 2020 do Viện Quy hoạch Thuỷ lợi thực hiện chưa xong gây khó khăn cho tiến độ lập quy hoạch của tỉnh Hải Dương.

-          Vấn đề xả nước thải vào hệ thống CTTL vẫn còn đang tranh chấp giữa sở Nông nghiệp và PTNT với sở Tài nguyên môi trường và hai bộ. Chức năng quản lý lưu vực sông còn chưa rõ ràng, cụ thể

-          Đề nghị Bộ chỉ đạo khẩn trương lập và trình Chính phủ phe duyệt quy trình vận hành cảu hồ thuỷ điện trong mùa kiệt để các địa phương chủ động đối phó với nạn hạn hán, tránh tình trạng bị động như hiện nay.

-           Phải đảm bảo xả nước của các hồ thuỷ điện trong mùa khô đảm bảo lưu lượng cho xử lý môi trường và duy trì hệ sinh thái dưới nước phái hạ lưu.

-          Đề nghị Bộ Tài nguyên –Môi trường chỉ đạo các sở Tài nguyên môi trường các tỉnh Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương có kế hoạch bảo vệ môi trường nước trong hệ thống Bắc Hưng Hải trình Chính phủ phê duyệt.

 
CÁC TIN KHÁC
  THAM LUẬN CỦA TP.HÀ NỘI TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2007 CỦA BAN QLQHLV S.HỒNG - THÁI BÌNH
  THAM LUẬN CỦA TỈNH HÀ NAM TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT CÔNG TÁC 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2007 CỦA BAN QLQHLV S.HỒNG - THÁI BÌNH
  BÁO CÁO VỀ CÔNG TÁC THUỶ LỢI VÀ PCLB TỈNH BẮC KẠN TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT CÔNG TÁC 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2007 CỦA BAN QLQHLV SÔNG HỒNG - THÁI BÌNH
  BÁO CÁO CỦA TỈNH BẮC GIANG TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT CÔNG TÁC 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2007 CỦA BAN QLQHLV S.HỒNG - THÁI BÌNH
  BÁO CÁO THAM LUẬN TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT NĂM 2007 CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn