I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
THAM LUẬN CỦA TỈNH PHÚ THỌ TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT CÔNG TÁC 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2007 CỦA BAN QLQHLV S.HỒNG - THÁI BÌNH
 

        I- Giới thiệu chung về tỉnh Phú Thọ

        Phú Thọ là tỉnh thuộc vùng miền núi Bắc Bộ, Với vị trí ngã ba sông, cửa ngõ phía Tây nối với thủ đô Hà Nội, Phú Thọ là cầu nối giao lưu kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật... giữa các tỉnh đồng bằng sông Hồng với các tỉnh khác trong vùng trung du miền núi Bắc Bộ. Tỉnh được tái lập tháng 1 năm 1997 với 13 đơn vị hành chính gồm 11 huyện thị và 1 thành phố.

        Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 3.528,4km2, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp năm 2005 là 98.814ha. Dân số tính đến 31/12/2005 có 1.326.813 người, mật độ dân số 376,5 người/km2, chủ yếu dân cư sống ở vùng nông thôn chiếm 84,3%.

Toàn tỉnh có 21 tuyến đê từ cấp IV đến cấp I, tổng chiều dài 382 km, trong đó đê cấp I, II: 53 km; 16 km đê bối, 40 km đê bao ngăn lũ nội đồng, còn lại là đê cấp IV; 35 kè lát mái và 01 hệ thống kè mỏ hàn (11 mỏ); 342 cống qua đê, trong đó có 170 cống tiêu tự chảy còn lại là cống trạm bơm, cống giao thông.

 

        II- Đặc điểm địa hình, sông ngòi và khí tượng thủy văn tỉnh Phú Thọ

        1- Đặc điểm địa hình

         Là một tỉnh miền núi mang hình thái của cả 3 vùng địa hình, đồng bằng, trung du và miền núi.

         - Địa hình đồng bằng có cao độ đồng ruộng phổ biến từ (+10.00) đến cao độ (+18.00). Với vùng địa hình này đồng ruộng canh tác tập trung và có khả năng thâm canh.

        - Địa hình vùng trung du phân bố dạng bát úp, tạo nên các khu ruộng canh tác không tập trung với cao độ từ (+15.00) đến (+25.00) nằm xen kẹp giữa các đồi gò có cao độ từ (+50.00) đến (+100.00). Đây là vùng rất khó khăn trong việc cung cấp nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp.

         - Địa hình miền núi nằm ở phía Tây, Tây Bắc và Tây nam của tỉnh, là các thung lũng nằm dưới chân các dãy núi với cao độ đồng ruộng từ (+30.00) đến (+40.00), cao độ các dãy núi từ (+100.00) đến (+150.00). Đây là vùng có nguồn nước dồi dào phong phú, tuy nhiên do địa hình hiểm trở, đồng ruộng phân tán nên suất đầu tư xây dựng công trình thường lớn.   

        2- Đặc điểm sông ngòi

         Nằm ở trung lưu của hệ thống sông Hồng, Phú Thọ tiếp nhận nguồn nước của 3 sông lớn: sông Lô, sông Thao, sông Đà với hai chi lưu là sông Chảy, sông Bứa và nhiều suối, ngòi chằng chịt chảy qua địa bàn toàn tỉnh. Đặc điểm chủ yếu của các sông ngòi như sau:

         a- Sông Đà

         Sông Đà có lưu vực khoảng 52.900km2, chảy qua Phú Thọ từ xã Tinh Nhuệ huyện Tân Sơn đến xã Hồng Đà huyện Tam Nông dài 41,5km, diện tích lưu vực của sông trên địa bàn tỉnh 367,4km2; các ngòi chính gồm: Ngòi Lạt, Ngòi Cái, suối Rồng.

         b- Sông Thao

         Sông Thao có lưu vực đến Việt trì khoảng 51.800km2, chảy qua Phú Thọ từ xã Hậu Bổng huyện Hạ Hòa đến phường Bến Gót thành phố Việt Trì là 109,5km, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Các sông suối nhỏ gồm: Ngòi Vần, Ngòi Mỹ, Ngòi Lao, Ngòi Giành, Ngòi Me, Ngòi Cỏ, Ngòi Mạn Lạn và sông Bứa.

         c- Sông Lô

         Sông Lô có lưu vực đến Việt trì khoảng 39.040km2, chảy qua Phú Thọ từ xã Chí Đám huyện Đoan Hùng đến phường Bến Gót thành phố Việt trì là 73,5km, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam gần như song song với sông Thao. Diện tích lưu vực trên địa bàn tỉnh là 502,8km2. Các sông suối nhỏ gồm: Ngòi Rượm, Ngòi Dầu, Ngòi Tiên Du, Ngòi Chanh và sông Chảy.

         d- Hệ thống sông ngòi nội địa

         Ngoài hai chỉ lưu lớn là sông Chảy và sông Bứa đổ vào 3 sông chính trong tỉnh còn có rất nhiều suối nhỏ với mật độ dầy đặc. Số sông ngòi chảy vào sông Đà, sông Thao, sông Lô có chiều dài ³10km là 72 con, mật độ trung bình sông nhỏ từ 0,5-:-1,5km/km2.

         3- Đặc điểm khí tượng thủy văn.

         Phú Thọ mang đặc điểm khí hậu trung du, miền núi có gió mùa và thủy văn miền trung du lưu vực hệ thống sông Hồng. Các đặc điểm đó được tóm tắt qua các đặc trưng khí tượng thủ văn sau:

         - Nhiệt độ trung bình năm từ 220C -:- 240C;

         - Độ ẩm bình quân 84%-:-86%;

         - Số giờ nắng trung bình trong năm từ 1300giờ-:-1500giờ;

         - Lượng bốc hơi năm từ 900mm-:-1100mm/năm;

         - Bão: Hàng năm trung bình có từ 4-:-6 cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Phú Thọ, gây gió cấp VII, VIII, IX và mưa trên diện rộng.

         - Mưa: Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm, chiếm khoảng 80% lượng mưa hàng năm. Lượng mưa năm thực đo:

                  + Lớn nhất: 3.057,2mm (xảy ra vào năm 1980)

                  + Trung bình: 1.790 mm

                  + Nhỏ nhất: 1.192,5mm (xảy ra năm 1977)

         III- Đánh giá kết quả công tác thủy lợi phục vụ sản xuất và đời sống của địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2007

         1- Hiện trạng phục vụ tưới, tiêu của các công trình thủy lợi

         a- Công trình phục vụ tưới:

         Toàn tỉnh có 181 trạm bơm điện tưới và 19 trạm bơm tưới tiêu kết hợp phục vụ tưới được 15.515ha/23.800ha (theo thiết kế) cho lúa, hoa mầu, cây CNNN và cây CNDN. Có 609 hồ đập lớn nhỏ, trong đó có 3 hồ chứa có dung tích từ (3-:10) triệu m3 nước, 8 hồ có dung tích từ (1-:-3) triệu m3 nước, còn lại là các hồ đập nhỏ có dung tích dưới 1 triệu m3 nước phục vụ tưới được 13.950ha/18.700ha (theo thiết kế) cho lúa, hoa mầu, cây CNNN và cây CNDN. Ngoài ra còn có 550 máy bơm dầu phục vụ tưới được 2.500ha lúa và hoa mầu, 500 công trình tạm phục vụ tưới được 2.900ha lúa và hoa mầu.

         b- Công trình phục vụ tiêu:

         Toàn tỉnh có 21 trạm bơm điện tiêu và 19 trạm bơm điện tưới tiêu kết hợp, phục vụ tiêu được 6089ha/9720ha (theo thiết kế) cho lúa và hoa mầu. Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có 170 hệ thống ngòi tiêu cùng với 170 cống tiêu lớn nhỏ dưới đê, bờ bao, bờ vùng. Hệ thống công trình tiêu tự chảy chủ yếu tiêu cho vụ chiêm xuân và ngăn lũ sớm với tổng diện tích tiêu được là 20.000ha lúa và hoa mầu.   

         2- Kết quả công tác thủy lợi phục vụ sản xuất và đời sống của địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2007

         a- Đặc điểm

          Cuối năm 2006, đầu năm 2007 tình hình thời tiết có nhiều diễn biến phức tạp, mực nước trên các sông: Thao, Đà, Lô thấp hơn so với cùng ký năm trước từ (0,8-:-1,2)m; các cửa lấy nước và bể hút của các trạm bơm ven sông bị bồi lấp nhiều, một số cửa khẩu không thể nạo vét được như trạm bơm Hoàng Cương, trạm bơm Thanh Minh. Mực nước của hồ chứa cũng chỉ đạt 60% so với thiết kế, đối với các công trình tạm cũng không phát huy được hiệu quả do mực nước trên các sông suối xuống thấp. Như vậy vụ sản xuất Đông Xuân 2006-:-2007 sẽ lại phải đối mặt với hạn hán gay gắt.  

          b- Kết quả công tác thủy lợi phục vụ sản xuất và đời sống.

          * Vụ Chiêm Xuân 2006-2007.

          Trước tình hình thời tiết có nhiều diễn biến bất thường, ngay từ những ngày đầu bước vào vụ sản xuất Chiêm Xuân 2006-:-2007 thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp & PTNT và UBND tỉnh Phú Thọ, Sở Nông nghiệp & PTNT đã có nhiều công văn chỉ đạo sâu sát, kịp thời theo diễn biến của tình hình thời tiết và lịch sản xuất của các địa phương. Đồng thời Sở Nông nghiệp & PTNT đã tổ chức nhiều đợt đi thực địa kiểm tra chống hạn để trực tiếp chỉ đạo. Theo dự tính đầu vụ chiêm xuân diện tích có khả năng bị hạn là 5.431ha, diện tích có khả năng phải chuyển xang trồng mầu là 2.230ha, nhưng với sự quyết tâm chống hạn của ngành Nông nghiệp và các địa phương trong tỉnh, bằng các biện pháp chống hạn tích cực, đến cuối vụ chiêm xuân 2006-2007 diện tích bị hạn còn là 1.617ha và diện tích phải chuyển mầu là 1049ha, trong đó:

             + Công trình hồ, đập phục vụ tưới: 13.603ha

             + Các trạm bơm điện phục vụ tưới: 12.778ha

             + Các máy bơm dầu phục vụ tưới: 3.358ha

             + Các biện pháp công trình khác phục vụ tưới: 3.386ha 

          Do ảnh hưởng của sâu bệnh cuối vụ nên năng suất lúa bình quân của tỉnh chỉ đạt 44,3 tạ/ha.

          * Vụ mùa

          Tính đến ngày 15/6/2007 toàn tỉnh đã cơ bản hoàn thành thu hoạch lúa và cây trồng vụ Chiêm Xuân, bắt đầu làm đất gieo trồng vụ mùa. Hiện tại các công trình thủy lợi tưới, tiêu đang phục vụ đảm bảo cung cấp nước làm đất được 20.652ha, lúa cấy 362,5ha, ngô 132,5ha, lạc 40ha, đậu tương 302,8ha, rau các loại 374,5ha.

          Sở Nông nghiệp & PTNT tiếp tục theo dõi sát xao tình hình thời tiết và tiến độ sản xuất của các địa phương để chỉ đạo tưới, tiêu chống úng đảm bảo diện tích gieo cấy theo kế hoạch.

  III- Tình hình thiên tai, lũ lụt 6 tháng đầu năm 2007

  Từ đầu năm đến nay, tỉnh Phú Thọ đã xuất hiện 3 trận lốc xoáy, mưa lớn cục bộ:

 Trận 1: Hồi 21 giờ ngày 17/4/2007, tại khu Nai xã Trung Sơn huyện Yên Lập;

 Trận 2: Đêm 24 rạng ngày 25/4/2007, trên địa bàn các xã Thanh Hà, Đỗ Sơn, Chí Tiên, Sơn Cương-huyện Thanh Ba; các xã Cấp Dẫn, Tùng Khê, Sai Nga, Thanh Nga, Phú Khê, Tình Cương, Yên Tập, Tạ Xá, thị trấn Sông Thao-huyện Cẩm Khê;

 Trận 3: Đêm 5 và 6 /6/2007, trên địa bàn các xã Tứ Mỹ, Xuân Quang, Phương Thịnh-huyện Tam Nông; xã Kim Thượng -huyện Tân Sơn; xã Cự Đồng, Tất Thắng- Huyện Thanh Sơn;

 Thiệt hại về người và tài sản: 01 người chết; nhà ở bị sập đổ: 11 ngôi, nhà ở bị tốc mái hoàn toàn: 93 ngôi nhà ở bị tốc mái hư hỏng: 715 ngôi; 13 trường học bị thiệt hại, tốc mái: 43 phòng và 2 nhà điều hành; trụ sở UBND xã bị tốc mái hư hỏng: 4 cái; hoa màu bị đổ, dập nát: 677 ha; cây ăn quả, cây lấy gỗ bị đổ gẫy: 3.442 cây; cột điện cao, hạ thế bị đổ, gẫy: 56 cái; cột điện thoại bị đổ, gẫy: 18 cái; đường bị sạt lở: 380m; một số doanh nghiệp bị thiệt hại lớn về tài sản. Tổng giá trị thiệt hại ước tính: 12,1 tỷ đồng.

 Ngay sau khi mưa lốc xảy ra, Lãnh đạo tỉnh, thường trực Ban chỉ huy PCLB tỉnh đã  kiểm tra chỉ đạo Ban chỉ huy PCLB các huyện tổ chức thống kê, hỗ trợ những gia đình có người bị chết, những hộ dân bị trôi, đổ, tốc mái nhà, mất tài sản, thực hiện vận động nhân dân trong vùng giúp đỡ lẫn nhau khắc phục thiệt hại, ổn định đời sống.

         IV- Các vấn đề phát sinh trong lưu vực, những khó khăn tồn tại và các kiến nghị của địa phương

           - Rừng đầu nguồn bị khai thác, thảm phủ mới chưa đảm bảo độ dầy nên làm cho nguồn sinh thủy của các hồ đập ngày một cạn kiệt, đồng thời cũng làm cho hiện tượng xói mòn, rửa trôi trên các sườn dốc ngày một tăng, lượng bồi lấp hàng năm của các công trình thủy lợi ngày một lớn, một số cửa lấy nước của các trạm bơm bị bồi lấp quá nhiều không thể khắc phục được. Đây cũng là nguyên nhân chính gây ra nhiều trận lũ quét và sạt lở đất. Để bảo vệ nguồn nước và giảm nhẹ thiên tai, đề nghị Nhà nước quan tâm và đầu tư nhiều hơn nữa cho các dự án trồng mới và bảo vệ rừng đầu nguồn.

           - Các công trình trạm bơm tưới lấy nước ven các sông Hồng, Lô, Đà đều bị giảm hiệu quả do biên độ dao động mực nước trên các sông ngày một lớn, đặc biệt vào mùa kiệt mực nước xuống quá thấp, luôn phải có các biện pháp công trình phụ trợ như nối dài ống hút, hạ thấp bệ máy thì các trạm bơm mới tưới được. Đề nghị Nhà nước đầu tư kinh phí cải tạo, nâng cấp các hệ thống công trình này cho phù hợp với thực tế, có như vậy các công trình mới phát huy được hiệu quả như thiết kế.   

           - Những năm gần đây với sự tham gia điều tiết của các nhà máy thủy điện: Hòa Bình, Tuyên Quang, Thác Bà nên lưu lượng và chế độ dòng chảy trên các sông  thay đổi, đặc biệt vào mùa lũ, làm cho hiện tượng sạt lở bờ vở sông trên địa bàn tỉnh diễn ra mạnh. Đề nghị Nhà nước đầu tư kinh phí xây dựng các công trình kè chỉnh trị dòng và bảo vệ bờ để đảm bảo an toàn về tính mạng và tài sản của nhân dân.   

           - Đối với thủy lợi phục vụ tưới đồi, mặc dù tỉnh có tiêm năng lớn, xong việc đầu tư xây dựng các công trình phục vụ tưới đồi còn rất hạn chế, nguyên nhân do thiếu kinh phí và giải pháp công nghệ phù hợp và hoàn chỉnh. Đề nghị Nhà nước quan tâm đầu tư để phát triển kinh tế vùng đồi và trung du trên địa bàn tỉnh.

            -  Các công trình tiêu úng trong những năm gần đây được đầu tư rất ít, các công trình hiện có đều đã bị xuống cấp hư hỏng, đồng thời các yếu tố tự nhiên và xã hội đã thay đổi nhiều nên hệ số tiêu của các công trình này không đảm bảo yêu cầu tiêu, thấp hơn so với thực tế, không đáp ứng được yêu cầu cho sản xuất và sinh hoạt. Đề nghị Nhà nước đầu tư kinh phí cải tạo, nâng cấp các hệ thống công trình tiêu trọng điểm trên địa bàn tỉnh như: hệ thống tiêu Lê Tính, hệ thống tiêu Vĩnh Mộ, hệ thống tiêu Đông Nam Việt Trì, hệ thống tiêu Bình Bộ....

 V- Các yêu cầu phối hợp đa ngành và liên tỉnh trong việc phát triển lưu vực

 Đề nghị trong các hoạt động phát triển lưu vực cần có sự thống nhất, thoả thuận giữa các ngành liên quan, tuân thủ theo quy hoạch tổng quan đồng thời đảm bảo quy hoạch phòng, chống lũ theo Luật đê điều và Pháp lệnh Phòng, chống lụt, bão.

 Đề nghị các tỉnh liền kề có chung lưu vực như Vĩnh Phúc, Hà Tây, Yên Bái, Sơn La, Tuyên Quang, Hoà Bình khi có các hoạt động liên quan đến lưu vực chung cần có sự thống nhất để đề nghị thoả thuận của các Bộ, ngành Trung ương quản lý lĩnh vực hoạt động.

 
CÁC TIN KHÁC
  THAM LUẬN CỦA TỈNH NINH BÌNH TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2007 CỦA BAN QLQHLV S.HỒNG - THÁI BÌNH
  THAM LUẬN CỦA TỈNH NAM ĐỊNH TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT CÔNG TÁC 6 THÁNG ĐẦU NĂM CỦA BAN QLQHLV S.HỒNG - THÁI BÌNH
  THAM LUẬN CỦA TP.HẢI PHÒNG TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT CÔNG TÁC 6 THÁNG ĐẦU NĂM CỦA BAN QLQHLV S.HỒNG - THÁI BÌNH
  THAM LUẬN CỦA TỈNH HẢI DƯƠNG TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2007 CỦA BAN QLQHLV S.HỒNG - THÁI BÌNH
  THAM LUẬN CỦA TP.HÀ NỘI TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2007 CỦA BAN QLQHLV S.HỒNG - THÁI BÌNH

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn