I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
THAM LUẬN CỦA TỈNH THÁI BÌNH TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT CÔNG TÁC 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2007 CỦA BAN QLQHLV S.HỒNG - THÁI BÌNH
 

I.                     Kết quả công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất, dân sinh

Vụ xuân 2007 tỉnh Thái Bình đặt mục tiêu phấn đấu gieo cấy 82.000 ha lúa với năng suất 71 tạ/ha trở lên, đạt sản lượng 582.000 tấn thóc, diện tích rau màu, cây công nghiệp 15.000 ha.

  1. Diễn biến hạn nguồn nước trong vụ xuân:

- Độ mặn vùng cửa sông thuộc tỉnh Thái Bình: Do hồ Hoà Bình – Thác Bà – Tuyên Quang  xả nước tập trung nên mặn không xâm nhập sâu so cùng năm 2006. Độ mặn cao nhất (%0) đo ngày 20/01/2007 so sánh với độ mặn cao nhất năm 2006.

Triền sông

                    Năm

Điểm đo

2006 (%0)

2007((%0)

Hồng

Ba lạt

20

25.4

Dương liễu

2

0.06

Trà lý

Phúc khê

3

2

Tình trạng mặn xâm nhập sâu vào các cửa sông làm nhiều cống  chủ lực cấp nguồn nước cho vùng ven biển Thái Thuỵ, Tiền Hải không mở được hoạc mở được rất hạn chế như cống Nguyệt Lâm, cống Thái Phúc. Nhiều vùng cao của các huyện Hưng Hà, Vũ Thư, Đông Hưng,...và vùng ven biển Thái Thuỵ, Tiền Hải gặp khó khăn giai đoạn đổ ải, việc cấp nước sinh hoạt cho nhân dân cũng khó khăn. Nhiều cống ven biển hư hỏng nặng chưa được làm lại khả năng chống xâm nhập mặn rất hạn chế.

- Các trục sông dẫn chính cho vùng liên huyện: sông Việt Yên, sông Hoài, Hoàng Nguyên, sông Bạch, Lâm Giang, Cốc Giang... quá nông, khi bơm tập trung mực nước xuống thấp, nhiều trục dẫn vào trạm bơm không đủ nước bơm phải giảm số máy bơm, thời gian bơm chỉ được 3-4 giờ một ngày, nhiều trạm bơm thường phải hoạt động với mực nước bể hút thấp hơn mực nước thiết kế kể cả mực nước min, hiệu suất bơm thấp, máy bơm hoạt động không ổn định hay xảy ra sự cố do khí thực, thậm chí phải dừng bơm như TB Chuẩn Cách, Gạo vùng Hồng An, Minh Tân (huyện Hưng Hà), TB ở vùng An Châu, Phú Lương...(huyện Đông Hưng), vùng Vua Rộc (huyện Kiến Xương), vùng Đồng Thanh, Xuân Hoà, Việt Hùng huyện Vũ Thư...thời gian đổ ải kéo dài, tốn kém tiền điện bơm, chi phí tưới tăng...

  1. Các giải pháp đảm bảo nước tưới gieo cấy lúa xuân năm 2007

1. Ngành Nông nghiệp đã tham mưu cho UBND tỉnh tập trung chỉ đạo chiến dịch làm thuỷ lợi Đông xuân năm 2006-2007, thu hút đông đảo các lực lượng cán bộ, học sinh tham gia lao động XHCN tạo khí thế mới về xã hội hoá công tác thuỷ lợi. Ngoài nguồn vốn Tỉnh hỗ trợ 3,5 tỷ đồng, các huyện đã huy động thêm nguồn vốn gần 2 tỷ đồng đầu tư nạo vét các trục sông dẫn. Tổng khối lượng đào đắp toàn tỉnh đạt trên 3 triệu m3, trong đó hoàn thành 100% kế hoạch nạo vét sa bồi, trên 70% KH nạo vét sông trục dẫn, trên 85% KH đào đắp kênh mương mặt ruộng.

2. Chỉ đạo các công ty khai thác thuỷ lợi Bắc, Nam Thái Bình hoàn thành tu bổ sửa chữa bảo dưỡng các trạm bơm, cống đập đảm bảo phục vụ đổ ải.

3. Tham mưu cho UBND tỉnh ra Chỉ thị số 03/CT – UBND ngày 16/01/2007 tập trung chỉ đạo và triển khai một số biện pháp cấp bách phòng, chống hạn, bảo vệ sản xuất vụ xuân năm 2007. Sở Nông nghiệp  và PTNT đã thành lập Ban chỉ đạo phòng chống hạn và chỉ đạo các địa phương tăng cường giải quyết các ách tắc dòng chảy đảm bảo cấp đủ nguồn nước. Xây dựng phương án bố trí dự phòng bơm điện, dầu dã chiến chủ động cấp nước cho những vùng tự chảy thường xuyên khi mực nước nguồn xuống quá thấp không tự chảy được. Phương án bổ sung nguồn nước cho 1 số vùng cống tưới bị mặn nhập không mở được như Nguyệt Lâm, Hệ ...Đặc biệt chú ý đề phòng mặn nhập sâu vào nội đồng;

4. Xây dựng phương án điều tiết nước đổ ải, chống hạn và xâm nhập mặn đối với 2 hệ thống thuỷ nông Bắc và Nam  tỉnh theo phưong châm:

- Tranh thủ kỳ nước cường cuối tháng 12 năm 2006 và đầu tháng 1 năm 2007 vừa đảm bảo thau rửa chua mặn, vừa tích cực lấy nước trữ tối đa vào hệ thống tránh xâm nhập mặn, tiết kiêm chi phí tưới.

- Bám sát lịch xả nước hồ Hoà Bình – Thác Bà – Tuyên Quang 3 đợt (đợt 1: 14/1 – 23/1; đợt 2: 27/1 – 5/2; đợt 3: 11-19/2) thường trực thử mặn, tranh thủ từng giờ triều cường mở cống lấy nướcvào hệ thống đảm bảo khai thác hiệu quả các công trình thuỷ lợi hiện có, đáp ứng 100% diện tích được đổ ải trong thời vụ tốt nhất.,

- Huy động tối đa các trạm bơm tranh thủ bơm vào giờ thấp điểm đêm để vừa tiết kiệm chi phí tiền điện, vừa đảm bảo an toàn lưới điện và hiệu suất bơm.

- Sử dụng các trạm bơm tiếp nguồn cho những trạm bơm ở vùng cao như: TB Minh Tân (Hưng Hà), tiếp nguồn cho vùng ven biển không có đủ nguồn nước do bị mặn xâm nhập như TB Thái Học, Hệ; dùng trạm bơm Thống Nhất (Tiền Hải ) tưới cho vùng tự chảy hàng năm nhưng năm 2007 mực nước thấp không tự chảy được...

5. Tăng cường giao ban hệ thống, đảm bảo sự thống nhất cao giữa các huyện tránh cục bộ địa phương. Điều tiết hợp lý nguồn nước giữa các vùng, hạn chế thời gian mực nước thấp ở vùng cao, phòng mặn xâm nhập ở vùng ven biển, đảm bảo đổ ải hết diện tích trong thời gian vụ gieo cấy tốt nhất.

6. Tăng cường thông tin tuyên truyền  trên các phưưong tiện thông tin đại chúng về lịch đổ ải, lịch xả nước của hồ Hoà Bình, phương án điều tiết nước của hệ thống... để các hộ nông dân biết chủ động phối hợp điều tiết giữ nước trên mặt ruộng phòng, chống hạn hiệu quả.

  1. Kết quả
  1. Công tác thuỷ nông phục vụ sản xuất

- Phục vụ tưới tiêu cho tổng diện tích gieo trồng 96.256 ha, trong đó diện tích lúa 81.706 ha, màu xuân 14.550 ha.

- Cấp nguồn nước cho các nhu cầu sản xuất công nghiệpvà làng nghề trên địa bàn toàn tỉnh.

- Tiêu thau nước hai hệ thống sông Tiên Hưng và sông Kiến Giang thoát nước thải từ các khu công nghiệp, nước thải sinh hoạt, duy trì chất lượng nước phục vụ cấp nước cho hệ thống các nhà máy nước sinh hoạt ở các thị trấn, thị tứ...

- Xây dựng và triển khai đề án công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất vụ mùa và vụ đông năm 2007. Tới ngày 20/6/2007 đã hoàn thành xong công tác kiểm tra công trình thuỷ nông phòng chống lũ, bão, úng vụ mùa năm 2007.

- Điều tiết hệ thống thuỷ nông phục vụ cấy 20.000 ha trà lúa mùa sớm trong tháng 6 để tạo quỹ đất trồng cây vụ đông ưa ấm chủ yếu là ngô, đậu tương.

  1. Công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuỷ nông:

- Tham gia ý kiến xây dựng dự án “ Quy hoạch sử dụng tổng hợp nguồn nước lưu vực sông Hồng –  sông Thái Bình và dự án quy hoạch thuỷ lợi chi tiết vùng ven biển duyên hải Bắc Bộ “của Viện Quy hoạch thuỷ lợi.

- Tiếp tục tham gia phối hợp  với Viện Quy hoạch Thuỷ lợi dự án Rà soát quy hoạch thuỷ lợi vùng kẹp giữa sông Hồng – sông Hoá.

- Đang thu thập, tổng hợp tài liệu lập báo cáo Bộ Nông nghiệp và PTNT để Bộ xây dựng đề án nâng cấp, xây mới hệ thống thủy lợi trên Cồn Đen, Cồn Vành theo công văn 3239/BNN-TL ngày 19/6/2007 của Bộ.

- Xây dựng phương án giảm 50% thuỷ lợi phí vụ mùa và 100% thuỷ lợi phí vụ đông năm 2007 cho nông dân báo cáo UBND tỉnh đệ trình Hội đồng nhân dân tỉnh khoá XIV kỳ họp tháng 7 năm 2007.

- Xay dựng đề án phân cấp quản lý công trình thuỷ lợi cho cơ sở được UBND tỉnh phê duyệt và quyết định triển khai thực hiện trong năm 2007.

- Kiểm tra các vị phạm công trình thủy lợi: hầu hết các vi phạm đối với phạm vi bảo vệ sông trục, số thống kê toàn tỉnh có 2.817 hộ làm nhà, lều quán vi phạm lưu không sông trục ( đa số vi phạm từ nhiều năm trước đây, số phát sinh mới không có), làm bãi vật liệu, xây lò vôi, lò gạch 273 điểm, ngoài ra tình trạng thả bèo, đăng đó vó bè còn phổ biến...đã chỉ đạo xử lý điểm nóng tại xã Hoà Bình huyện Kiến Xương ngăn chặn kịp thời vi phạm. Chỉ đạo hai công ty KTTL Bắc, Nam Thái Bình và UBND các huyện, thành phố thực hiện giải phóng dòng chảy gàn 3 triệu m2  rau, bèo.

  1. Công tác tu bổ đê điều và phòng chống lụt bão

-          Tu bổ đê điều thường xuyên đã thực hiện cơ bản xong theo kế hoạch.

-    Dự án nâng cấp đê biển đã thi công hoàn thành kè Nam Cường (K23,9-K24,4), Kè Nam Thịnh (K21,95-K23,45) đê biển số 5 huyện Tiền Hải, đê biển số 7 từ K34-34,5 huyện Thái Thuỵ.

-    Dự án chống sạt lở bờ: Kè Hiệp Trung (Thành phố) gieo xong 45 m3 đã tạo mái, thả 55/1.002 con rồng đá

-    Tu bổ sửa chữa các kè, xây cống nguồn vốn ngân sách tỉnh: hoàn thành kè Quỳnh Lâm (Quỳnh Phụ), kè Hồng Lý (Vũ Thư), các kè Tịnh Thuỷ, Trung Hoà, cống Nam Cường đang hoàn thiện.

-    Duy tu bảo dưỡng đê đã hoàn thành: trồng 4.595 khóm tre chắn sóng, đắp cơ đê 30.500 m3, phát hiện xử lý 1.478 tổ mối thân đê, khoan phụt vữa gia cố 3.650 m khoan sâu, tới 30/6 hoàn thành kế hoạch.

-    Triển khai công tác phòng chống lụt bão tới các cấp, các ngành  theo sự phân công của BCHPCLB tỉnh. Các huyện, thành phố đã phối hợp với 2 công ty KTTL Bắc, Nam Thái Bình tổ chức kiểm tra, đánh giá chất lượng đê, kè, cống trước mùa lũ bão năm 2007. Các cấp, các ngành, các địa phương đã triển khai tập huấn cho cán bộ và các lực lượng tham gia PCLB năm 2007

II.                   Những khó khăn tồn tại:

1- Vụ Xuân năm 2007, cơ cấu các giống lúa có chuyển biến song tỷ lệ trà xuân sớm chưa cao chưa đạt chỉ tiêu kế hoạch. Diện tích phía Bắc tỉnh chủ yếu đổ ải trong tháng 1, một số vùng chủ động tránh khó khăn do mực nước nguồn xuống thấp đã đổ ải sớm nên thời gian dưỡng ải kéo dài tốn tiền điện, nước. Tuy vậy cũng góp phần giảm bớt căng thẳng về nguồn nước giai đoạn đổ ải tập trung.

Vụ Xuân 2008 Thái Bình phấn đấu chuyển đổi cơ cấu đạt 100% trà xuân muộn, đổ ải làm đất cấy chủ yếu trong tháng 2 vào lúc thuỷ triều thấp, lại vào đúng thời điểm các tỉnh trong lưu vực đều tập trung vào đổ ải. Nếu nguồn nước khó khăn như vụ xuân năm 2006-2007 chắc chắn phải có sự can thiệp xả hồ Hoà Bình ở mức cao hơn năm 2007mới đảm bảo tiến độ đổ ải theo thời vụ cấy lúa xuân cho các tỉnh trong lưu vực trong đó có Thái Bình.

2- Chương trình phát triển vụ đông thành vụ chính của Thái Bình những năm tới cần đầu tư kiên cố hệ thống kênh  tưới rất lớn, song với mức đầu tư như những năm qua không đáp ứng được yêu cầu.

3- Thực trạng hệ thống sông trục dẫn nước của Thái bình rất nông, hẹp do nhiều năm không được nạo vét là nguyên nhân chính làm cho nguồn nước tưới chung cả 3 vụ trong năm không đảm bảo nhất là các thời điểm quan trọng như : đổ ải vụ xuân, giai đoạn hạ thấp mực nước sông trục phòng úng, tưới cây vụ đông. Mặt khác hệ thống sông trục nông nên khả năng trữ nước đệm và tiêu thoát nước kém, hạn chế khai thác năng lực tiêu tự chảy vùng triều.

4- Yêu cầu đầu tư cải tạo, nâng cấp các cống dưới đê đã xuống cấp hiện nay ngoài đảm bảo an toàn chống lũ còn đặt ra những nhiệm vụ kết hợp để khai thác lấy nước tự chảy ở mức nước cao trong vụ mùa, khai thác khả năng tranh thủ mực nước chân triều để tiêu tự chảy của các cống tưới cũng như tranh thủ lấy nước tưới của các cống tiêu...

5- Hệ thống các trạm bơm tiêu qua đê chủ yếu của Thái Bình được xây dựng 25-30 năm đã xuống cấp, phần thuỷ công như bể xả trạm bơm Tịnh Xuyên (34 máy 1000m3/giờ) đã bị hư hỏng nặng chỉ bơm được dưới báo động 1 không còn tác dụng chống úng vụ mùa khi có lũ, các trạm bơm Nguyên Tiến Đoài (21*1000m3/h) Đông Tây Sơn (20*1000m3/h) Hậu Thượng (20*1000m3/h), Tân Phúc Bình  (18*1000m3/h)... do xây dựng lâu cả phần thuỷ công và máy bơm hiệu quả hoạt động thấp nhất là không bơm chống úng được ở mức nước lũ thiết kế... Vấn đề tiêu úng bằng động lực hiên naykhông đáp ứng yêu cầu quy hoạch đã đặt ra.

6- Vấn đề quản lý xả thải vào hệ thống công trình thuỷ lợi hiện nay có những bất cập như sau:

- Tình trạng vi phạm xả thải vào công trình thuỷ lợi phổ biến: có 111 dự án xả nước thải công nghiệp vào sông Bạch, sông Pa Ri, 12 dự án xả vào sông Tiên Hưng chưa đươc cấp phép.

- Chưa có quy hoạch xả thải nên chưa quy định tiêu chuẩn xả thải ra công trình thuỷ lợi làm căn cứ cấp phép.

- Chi cục Quản lý nước và CTTL là đơn vị quản lý nhà nước được Sở Nông nghiệp & PTNT giao nhiệm vụ thẩm định hồ sơ cấp phép xả thải và kiểm tra giám sát việc xả thải vào hệ thống CTTL nhưng lại không được trang bị  trang thiết bị kiểm tra xả thải khó khăn thực hiện nhiệm vụ...

- Trong Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi có nêu nguồn thu của doanh nghiệp KTTL gồm thuỷ lợi phí, tiền nước, phí xả thải song thực tế phí xả thải ở địa phương do Sở Tài nguyên môi trường quản, chưa quy định trích cho duy tu hệ thống tiêu nước thải của doanh nghiệp thuỷ nông

III.                  Kiến nghị

1. Ban Quản lý QHLV sông Hồng xây dựng phương án điều tiết liên hồ Hoà Bình – Thác Bà -  Tuyên Quang đảm bảo nguồn nước sông Hồng đáp ứng yêu cầu tưới vụ xuân, đặc biệt giai đoạn đổ ải và thời kỳ tưới cây vụ đông của các tỉnh trong lưu vực vụ xuân năm 2008.

2. Đề nghị BQLQHLVSH phối hợp ngành điện nghiên cứu xây dựng phương án điều tiết nước trong vụ mùa phòng lũ xả trước hồ Hoà Bình phù hợp, hạn chế xả cao nhất là vào thời gian có bão đi vào khu vực đồng bằng sông Hồng giảm nguy cơ ảnh hưởng đê điều và tiêu úng.

3. Phối hợp với Bộ Tài nguyên và môi trường cung cấp thông tin dự báo KTTV chuyên ngành, vấn đề quy hoạch xả thải và quản lý nước thải từ các khu công nghiệp, làng nghề vùng chăn nuôi tập trung.

4. Tăng cường thông tin giữa các tỉnh trong lưu vực thông qua trng điện tử của Ban QLQHLVSH để phối hợp cũng như cung cấp thông tin kịp thời để Ban có phương án điều tiết phù hợp, tăng cường công tác phối hợp, hỗ trợ các địa phương sát yêu cầu.

5. Đề nghị Ban QLQHLVSH kiến  nghị với Bộ Nông nghiệp và PTNT thành lập thanh tra chuyên ngành của Cục Thuỷ lợi ở cấp Bộ và Chi cục thuỷ lợi ở cấp tỉnh để thực hiện thanh tra xử lý các vi phạm phạm vi bảo vệ công trình thuỷ lợi, vi phạm xả thải vào HTCTTL có nguy cơ ngày một phổ biến vi phạm mức độ nghiêm trọng hơn đang làm giảm rõ rệt hiệu quả phục vụ của công trình thuỷ nông.

6. Đề xuất ưu tiên đầu tư trong lưu vực:

- Nghiên cứu quy hoạch lưu vực sông Hồng – sông Thái Bình với phương án xây dựng đập trên sông Hoá, sông Trà Lý nhiệm vụ dâng đầu nước, ngăn mặn xâm nhập cấp nước cho sản xuất và dân sinh, tiêu thoát lũ và đảm bảo môi trường sinh thái cho lưu vực sông Hồng. Đề nghị viện Quy hoạch Thuỷ lợi giúp Thái Bình quy hoạch phòng chống lũ.

- Nạo vét hệ thống sông trục: Tiếp tục đầu tư hoàn thành nạo vét sông Tiên Hưng – Sa Lung, cửa Trà Linh. Trước mắt bố trí nguồn vốn hỗ trợ nạo vét sông trục chính phục vụ chống hạn của tỉnh Thái Bình trong năm 2007-2008 khối lượng 850.000 m3, kinh phí 17 tỷ đồng.

- Cải tạo, nâng cấp các trạm bơm tiêu úng qua đê: Tịnh Xuyên, Nguyên Tiến Đoài, Hậu Thượng, Tân Phúc Bình, Đông Tây Sơn, Phù Sa.

- Tu bổ, nâng cấp hệ thống cống dưới đê, trạm bơm tưới tiêu đầu mối đã hư hỏng nghiêm trọng: cống Dưới Dương, Vũ Đoài, Quan Hoả, Việt Yên, cống Cá, cống Khổng, Thiên Kiều, Trung Lang, Tám Thôn.

- Kiên cố kênh mương: gồm 73 km kênh tưới chính của 4 trạm bơm: TB Thái Học, TB Hệ, TB Thống Nhất, TB Nam Tiền Hải cấp nguồn nước cho vùng ven biển Thái Thuỵ, Tiền Hải, kênh tưới chính sau các cống tưới dưới đê và kênh chính của các TB tưới./.

 
CÁC TIN KHÁC
  THAM LUẬN CỦA TỈNH PHÚ THỌ TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT CÔNG TÁC 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2007 CỦA BAN QLQHLV S.HỒNG - THÁI BÌNH
  THAM LUẬN CỦA TỈNH NINH BÌNH TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2007 CỦA BAN QLQHLV S.HỒNG - THÁI BÌNH
  THAM LUẬN CỦA TỈNH NAM ĐỊNH TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT CÔNG TÁC 6 THÁNG ĐẦU NĂM CỦA BAN QLQHLV S.HỒNG - THÁI BÌNH
  THAM LUẬN CỦA TP.HẢI PHÒNG TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT CÔNG TÁC 6 THÁNG ĐẦU NĂM CỦA BAN QLQHLV S.HỒNG - THÁI BÌNH
  THAM LUẬN CỦA TỈNH HẢI DƯƠNG TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2007 CỦA BAN QLQHLV S.HỒNG - THÁI BÌNH

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn