I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
KẾT QUẢ CÔNG TÁC THỦY LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH NĂM 2005
 

 

I.                 Tình hình chung, thuận lợi, khó khăn:

Bắc Ninh là một tỉnh đồng bằng sông Hồng, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm, tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Đây là khu vực có mức tăng trưởng cao và giao lưu kinh tế mạnh, năng động.

Là một tỉnh có tới 76,8% dân số sống bằng nghề nông nghiệp, địa hình tương đối bằng phẳng và có cao trình thấp, nhiều sông ngòi chảy qua nằm trong vùng nhiệt đới  gió mùa nên thiên tai, bão, úng, hạn thường xuyên đe doạ. Vì vậy công tác thủy lợi phục vụ sản xuất và đời sống có một vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Năm 2005 đối với Bắc Ninh về cơ bản thời tiết thuận lợi, tuy nhiên trong sản xuất nông nghiệp vẫn còn gặp khó khăn: đầu năm nguồn nước cạn kiệt đúng vào thời kỳ đổ ải, rét đậm, rét hại kéo dài lại tập trung vào thời kỳ gieo mạ. Mực nước các dòng sông đạt ở mức thấp gây ảnh hưởng lớn đến việc tạo nguồn nước cho các trạm bơm, mưa ít và mùa mưa kết thúc sớm đã gây ảnh hưởng lớn đến thời gian tưới dưỡng hạn chế phần nào đến sự sinh trưởng của cây trồng. Bão, mưa lớn cuối vụ cũng gây ngập úng gần 1650 ha, mất trắng 65 ha đã ảnh hưởng lớn đến năng suất cây trồng. Bên cạnh đó giá trị vật tư tăng cao đã làm giảm sức đầu tư thâm canh cây trồng, vật nuôi của người nông dân. Dịch cúm gia cầm xảy ra trong tỉnh cũng như trên phạm vi cả nước đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất của người chăn nuôi.

II. Kết quả công tác thủy lợi phục vụ sản xuất và đời sống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh năm 2005

1.                   Kết quả phục vụ sản xuất, đời sống dân sinh

Năm 2005, công tác thủy lợi đã phục vụ tưới tiêu cả năm trên 74.000 ha, so với năm 2004 giảm gần 1%, trong đó diện tích chủ động đạt trên 45%.

+ Vụ mùa:                              35.000 ha

+ Vụ chiêm xuân: 36.500 ha

+ Vụ đông:                             2.500 ha

                Ngoài ra còn cung cấp cho trên 3000 ha diện tích nuôi trồng thủy sản.

                Bằng những nỗ lực của các cấp, các ngành, cùng với sự nỗ lực của người dân, sản xuất nông nghiệp của tỉnh năm 2005 tiếp tục phát triển, cơ cấu cây trồng, cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực; sử dụng giống ngắn ngày, có năng suất cao, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao. Diện tích gieo trồng đạt 99.590 ha. Diện tích trồng lúa 79.642ha, đạt 99,5% kế hoạch và giảm 1.148 ha so với năm 2004, trong đó: Diện tích lúa xuân 39.845 ha, năng suất 59,70 tạ/ha, diện tích lúa mùa 39.797 ha, năng suất 53,20 tạ/ha. Sản lượng lương thực có hạt đạt 457,6 ngàn tấn, cao hơn 1,20 ngàn tấn so với năm 2004. Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 2.186 tỉ đồng, tăng 4,37% so với năm 2004 (giá 1994). Cơ cấu sản xuất nông nghiệp chuyển biến đáng kể: tỉ trọng trồng trọt giảm từ 60,88% (năm 2004) xuống còn 58,62% (năm 2005), tỉ trọng chăn nuôi, thủy sản tăng từ 35,31% (năm 2004) lên 37,40% (năm 2005), tỉ trọng dịch vụ nông nghiệp tăng từ 3,81% (năm 2004) lên 3,92% (năm 2005). Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất nông nghiệp tăng từ 33,80 triệu đồng năm 2004 lên 36,8 triệu đồng năm 2005.

2.                   Kết quả công tác đầu tư, tu bổ sửa chữa nâng cấp công trình thủy lợi

Đạt được kết quả sản xuất nông nghiệp trong nhiều năm qua, năm sau tăng hơn năm trước, chất lượng và hiệu quả ngày một rõ rệt và ổn định. Một phần do sự quan tâm từ chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT, cũng như Đảng và chính quyền tỉnh Bắc Ninh luôn luôn quan tâm đến công tác tu bổ, sửa chữa, nâng cấp các công trình thủy lợi.

-          Năm 2005, tỉnh Bắc Ninh đã được Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT bằng nhiều nguồn vốn đã đầu tư với tổng kinh phí gần 60 tỉ đồng (trong đó dự án cải tạo, nâng cấp phòng lũ sông Đuống: 29 tỉ đồng; dự án nâng cấp hoàn thiện hệ thống đê sông Cầu: 10 tỉ đồng; dự án nâng cấp hệ thống thủy nông Gia Thuận: 11 tỉ đồng; dự án tu bổ đê điều thường xuyên trên 6 tỉ đồng, dự án trạm bơm Tân Chi (giai đoạn III 3,6 tỉ đồng).

-          Bên cạnh nguồn vốn của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT đầu tư năm 2005, tỉnh cũng tăng cường đầu tư cho công trình thủy lợi với tổng kinh phí gần 48 tỉ đồng (trong đó: Cải tạo, nâng cấp đồng bộ các trạm bơm đã xuống cấp 9.3 tỉ đồng, chương trình kiên cố hóa kênh mương 18 tỉ đồng, nạo vét kênh mương 6 tỉ đồng, tu bổ thường xuyên đê địa phương 4,7 tỉ đồng, đối ứng công trình Bộ quản lý 5,30 tỉ đồng, đầu tư hạ tầng kỹ thuật chăn nuôi 4,5 tỉ đồng).

-          Ngoài ra, hàng năm tỉnh đã phát động chiến dịch tháng làm thủy lợi, cải tạo đất, huy động mọi nguồn lực, ngày công lao động công ích. Năm 2005, đã thực hiện đào đắp trên 873 ngàn m3 đất đào đắp, nạo vét kênh mương, 2842 m3 xây lát và sửa chữa 202 tổ máy bơm và thiết bị cơ điện với tổng số hàng nghìn ngày công lao động công ích với giá trị kinh tế trên 10 tỉ đồng.

Từ những kết quả trên, công tác thủy lợi đã phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp, diện tích tưới, tiêu hàng năm được đảm bảo, diện tích úng, hạn ngày càng thu hẹp, năng suất cây trồng ngày một tăng, đời sống nhân dân trong khu vực nông nghiệp ngày được nâng lên, góp phần đáng kể trong công tác xóa đói giảm nghèo trong khu vực nông thôn.

II. Tình hình thiên tai và các biện pháp khắc phục của địa phương:

1.       Tình hình thiên tai:

-          Thời thiết năm 2005 cơ bản thuận lợi cho sản xuất. Tuy nhiên mấy năm gần đây lượng mưa ít, mùa mưa kết thúc sớm, mực nước các triền sông xuống thấp, lượng dòn chảy thiếu hụt lớn dẫn đến tình trạng thiếu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp. Tình trạng hạn đầu năm kéo dài lại tập trung vào thời kỳ đổ ải, làm mạ đã phần nào ảnh hưởng đến công tác tưới, tiêu phục vụ sản xuất. Tuy Bắc Ninh chưa phải chuyển đổi diện tích cấy lúa bị hạn sang cây trồng khác, song để phục vụ được thì công tác thủy lợi còn gặp nhiều khó khăn; phải bơm tưới ải sớm, thời gian kéo dài, dẫn đến mọi chi phí lớn như điện, vật tư, thiết bị, vv…

-          Cơn bão số 7 tuy không ảnh hưởng trực tiếp đến địa bàn tỉnh Bắc Ninh, song do mưa lớn, gió to đã làm đổ và ngập trên 1500 ha lúa, ảnh hưởng lớn đến năng suất. Trận mưa cuối vụ (10/11/2005) cũng đã ảnh hưởng đến diện tích trồng mầu, đã làm ngập trên 150 ha và làm mất trắng 65 ha khoai tây.

2.       Các giải pháp khắc phục của địa phương

Do dự báo trước được tình hình thời tiết, ngành đã tham mưu cho tỉnh chỉ đạo các Công ty khai thác công trình thủy lợi và các địa phương tập trung vào một số biện pháp chính sau:

-          Tổ chức tốt việc tu bổ, sửa chữa nạo vét hệ thống kênh mương, thiết bị máy móc, các trạm bơm, tập trung cao nạo vét các tuyến kênh tạo nguồn nước, các cửa khẩu, tranh thủ nguồn nước thuận lợi để bơm sơm, chôn trữ nước chủ động. Đồng thời chỉ đạo các tổ chức dùng nước chủ động xây dựng lịch cấp nước, phương án dự phòng, sẵn sàng phục vụ sản xuất khi thời tiết xấu có thể xảy ra. Tập trung làm tốt tháng làm thủy lợi cải tạo đất đạt kết quả.

-          Tỉnh hỗ trợ kinh phí cho các địa phương tiến hành nạo vét kênh mương, đắp bờ khoanh vùng, tổ chức chôn trữ nước chủ động và che phủ ni lông cho 100% diện tích mạ.

Nhờ những biện pháp trên, hầu hết các diện tích trồng lúa đã đủ nước, đủ mạ và cấy lúa trong khung thời vụ cho phép; tạo điều kiện cho lúa có năng suất cao. Sản xuất nông nghiệp ổn định và phát triển.

IV. Các vấn đề phát sinh trong lưu vực, những khó khăn tồn tại và kiến nghị

1.       Những khó khăn, tồn tại và phát sinh trong khu vực:

-          Hầu hết các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh xây dựng đã lâu (từ 30-40 năm trở về trước) nay đã xuống cấp nghiêm trọng: hệ thống kênh mương bị bồi lắng, máy móc thiết bị hư hỏng nặng và lạc hậu, kinh phí dành cho tu bổ sửa chữa hàng năm có hạn, trong khi đó nhu cầu rất lớn nên chỉ là khắc phục tạm thời, năng lực phục vụ của các công trình hạn chế.

-          Tình trạng vi phạm hành lang bảo vệ công trình thủy lợi ngày càng nghiêm trọng: xây dựng nhà, khai thác đất làm gạch, khai thác cát lòng sông, đổ rác thải xuống lòng kênh, chất tải vật liệu lên đê, xe quá tải đi trên mặt đê gây hư hỏng rất nặng công trình chống lũ, vv… vẫn chưa giải quyết triệt để.

-          Nguồn nước các sông có nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng do quá trình đô thị hóa, làng nghề phát triển với tốc độ lớn, nhưng không được kiểm soát và bảo vệ, môi trường nước bị hủy hoại.

-          Quy hoạch thủy lợi bị phá vỡ, chưa được quan tâm chú ý đầu tư trong nhiều năm nay. Công tác quản lý quy hoạch bị buông lỏng. Nhiều công trình hệ thống lâu nay chưa được kiểm tra, đánh giá một cách toàn diện, đồng bộ nên hiệu quả phục vụ rất hạn chế, chưa tương xứng với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của khu vực hiện nay.

-          Thời thiết ngày càng có biến đổi thất thường, tình trạng hạn hán có nguy cơ cao, trong khi đó nguồn nước các triền sông bị cạn kiệt, lượng dòng chảy ngày một giảm dần. Bên cạnh đó, bão, lụt úng ngập bất thường có thể xảy ra. Trong khi đó, các công trình thủy lợi còn nhiều bất cập, khó có thể đáp ứng yêu cầu được khi gặp thời tiết xấu có thể xảy ra.

2.       Những kiến nghị:

-          Tăng cường công tác tuyên truyền (bằng nhiều hình thức) về pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, pháp lệnh đê điều, phòng chống lụt bão, các nghị quyết và quyết định của Chính phủ, Bộ có liên quan đến việc quản lý, khai thác, bảo vệ, xả nước thải đối với công trình thủy lợi một cách tích cực và mạnh mẽ hơn nữa để cho các tổ chức, cộng đồng biết và thực hiện nghiêm túc.

-          Đầu tư có trọng điểm cho việc quy hoạch tổng thể, chi tiết và công tác quản lý quy hoạch hệ thống công trình thủy lợi

-          Dành kinh phí đầu tư thỏa đáng cho việc cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới các công trình thủy lợi một cách đồng bộ, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội trong một giai đoạn phát triển phù hợp. Đặc biệt quan tâm đầu tư cho các công trình đã có nhưng bị xuống cấp.

 

                Nguyễn Văn Chung

Phó Giám đốc Sở NN & PTNT Bắc Ninh

 
CÁC TIN KHÁC
  ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC THỦY LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN
  MỘT VÀI HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN TRONG LƯU VỰC SÔNG HỒNG – THÁI BÌNH NĂM 2005
  CÔNG TÁC THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC PIM Ở LÀO CAI
  ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN THUỶ LỢI PHỤC VỤ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CÁC TỈNH MIỀN NÚI VÀ TRUNG DU BẮC BỘ TỪ NĂM 1986-2003
  QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NUỚC - NHỮNG KHÁI NIÊM CƠ BẢN

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn