I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN, ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH TỈNH NINH BÌNH
 

Ninh Bình nằm ở cực Nam của vùng đồng bằng Bắc bộ, xen giữa lưu vực sông Hồng và sông Mã, nơi tiếp giáp và ngăn cách miền Bắc với miền Trung bởi dãy núi Tam Điệp hùng vĩ. Phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Nam Hà; Nam giáp tỉnh Thanh Hoá và biển Đông; tây giáp Hoà Bình và Thanh Hoá.

 

Ninh Bình là tỉnh nằm ở cực Nam của đồng bằng Bắc Bộ, với diện tích tự nhiên là 1.386,6 km2. Trong đó, đất đồi núi và nửa đồi núi trên 1.100 km2, chiếm 70%; Đất sử dụng vào nông nghiệp gần 65.000 ha, đất sử dụng vào lâm nghiệp là trên 16.000 ha. Dân số 904.766 người. Trong đó có trên 38 vạn dân lao động (chiếm 45% dân số toàn tỉnh); dân tộc ít người chủ yếu là dân tộc Mường, chiếm 1,7% dân số toàn tỉnh. Đồng bào theo đạo thiên Chúa chiếm 13% dân số; mật độ dân số 600 người/km2.

Ninh Bình có quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt chạy qua, cùng hệ thống sông ngòi phong phú, với cảng Ninh Bình, có điều kiện phát triển mạnh giao thông cả đường bộ, đường thủy, giao lưu thuận lợi với các địa phương trong nước và quốc tế.

Ninh Bình cách thủ đô Hà Nội hơn 90 km, trên tuyến đường quốc lộ 1A xuyên Bắc - Nam quan trọng vào bậc nhất của nước ta; và đường sắt xuyên Bắc - Nam đi qua (đoạn chạy qua đất Ninh Bình dài 35 km); với hai nút giao thông chính là thị xã tỉnh lỵ Ninh Bình và thị xã Tam Điệp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế - văn hoá với cả hai miền đất nước.

Với diện tích tự nhiên là 1398,7km2, đứng thứ 52 trong 53 tỉnh, thành phố (chỉ lớn hơn diện tích tự nhiên của thành phố Hà Nội). Điểm cực bắc cách điểm cực nam 65 km; điểm cực tây cách điểm cực đông 58 km. Tuy là một tỉnh không lớn nhưng địa hình rất đa dạng: Có núi sông, đồng bằng, vùng biển, mang đầy đủ sắc thái địa hình Việt Nam thu nhỏ. Có 8 đơn vị hành chính gồm 6 huyện và 2 thị xã trực thuộc tỉnh: Huyện Nho Quan, thị xã Tam Điệp là vùng đồi núi; các huyện Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Mô thuộc vùng nửa đồi núi; diện tích đồng bằng và ven biển chủ yếu thuộc huyện Kim Sơn, Yên Khánh và thị xã Ninh Bình chỉ chiếm 1/5 diện tích tự nhiên của tỉnh. 

Địa hình phân bố khá phức tạp: Đồi núi trùng điệp chiếm quá nửa diện tích tự nhiên của tỉnh; các vùng nửa đồi núi tuy không lớn lắm nhưng lại phân bố rải rác theo các vùng đồng bằng xen kẽ chạy dài từ điểm cực tây huyện Gia Viễn theo hướng đông nam qua huyện Hoa Lư, Yên Mô xuống Kim Sơn và ra tới biển Đông (giáp huyện Nga Sơn Thanh Hoá). Điểm cao nhất so với mặt biển là đỉnh Mây Bạc trên vườn Quốc gia Cúc Phương cao 656m, điểm thấp nhất so với mặt biển thuộc xã Gia Trung huyện Gia Viễn là -0,4m. Huyện Gia Viễn, Yên Mô và một phần huyện Hoa Lư là vùng trũng, hay bị úng lụt. Tỉnh có 18 km bờ biển thuộc huyện Kim Sơn, có cửa sông Đáy đổ ra biển tạo ra vùng bãi bồi hàng năm tiến thêm ra biển khoảng 100 - 120 m và quĩ đất tăng thêm hàng năm khoảng 140 - 168 ha. Hệ thống đường thuỷ khá phát triển và giữ vị trí trọng yếu trong vận chuyển hàng hoá trên địa bàn lãnh thổ. Với cảng Ninh Bình sẵn có và với triển vọng nâng cấp mở rộng cảng Ninh Phúc trong những năm tới (đưa công suất lên 2 triệu tấn/năm và tàu 1000 tấn có thể ra vào thuận lợi), Ninh Bình sẽ có lợi thế trong việc giao lưu kinh tế với các tỉnh bạn, nhất là các tỉnh vùng Tây Bắc và với nước ngoài.

Khí hậu: Ninh Bình thuộc vùng tiểu khí hậu của đồng bằng sông Hồng, ngoài ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa Đông bắc, Đông nam, còn chịu ảnh hưởng của khí hậu ven biển, khí hậu rừng núi và nửa rừng núi. Thời tiết trong năm chia làm hai mùa khá rõ rệt; mùa khô từ tháng 11 - 12 năm trước đến tháng 4 năm sau; mùa mưa từ tháng 5 - tháng 10.

Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,4oC và có sự chênh lệch không nhiều giữa các vùng (hơn kém nhau từ 0,3 - 0,4oC); tháng 7 có nhiệt độ cao nhất là 28,5oC, tháng 1 có nhiệt độ trung bình thấp nhất là 15,6oC.

Độ ẩm trung bình hàng năm là 86% và có sự chênh lệch không nhiều giữa các tháng trong năm: tháng 2 cao nhất là 91%, tháng 10 thấp nhất là 80%; giữa các vùng chênh lệch nhau trên dưới 1%.

Số giờ nắng trung bình mỗi tháng là 98,7 giờ, tháng 5 cao nhất là 199,4 giờ, tháng 3 thấp nhất là 14,6 giờ.

Lượng mưa trung bình mỗi tháng là 238,8 ly, tháng 9 cao nhất là 816 ly, tháng 1 thấp nhất là 8,5 ly. Lượng mưa phân bổ không đều trong năm, thường tập trung vào các tháng 5 đến tháng 10 và chiếm từ 86 - 91% lượng mưa trong năm.

Do điều kiện thuỷ thế bất lợi (một phần do nước thượng nguồn từ Hoà Bình dồn về, một phần do nước mưa từ các triền núi từ Thanh Hoá đổ xuống) vào những đợt mưa to (1985, 1994) các huyện Gia Viễn, Nho Quan, Yên Mô, Hoa Lư thường gặp thiên tai, lũ lụt trên diện rộng.

Dân số trung bình năm 1994 là 861,1 nghìn người, chiếm hơn 6% dân số vùng đồng bằng sông Hồng và gần 1,2% dân số của cả nước. Trong tổng dân số của tỉnh có 48,4% là nam, 51,6% là nữ; dân số thành thị chiếm 8,9%, dân số nông thôn chiếm 91,1%.

Mật độ dân số chung toàn tỉnh là 621 người/km2, nơi đông nhất là thị xã Ninh Bình: 6300 người/km2, nơi thấp nhất là huyện Nho Quan: 289 người/km2.

Cộng đồng các dân tộc đang sinh sống trong tỉnh gồm có 23 dân tộc: đa số là dân tộc Kinh chiếm trên 98,2%; đứng thứ hai là dân tộc Mường chiếm gần 1,7%; các dân tộc như Tày, Nùng, Thái, Hoa, Hơ mông, Dao mỗi dân tộc có từ trên một chục đến hơn một trăm người. Trong số các dân tộc ít người sinh sống trong tỉnh, dân tộc Mường đã định cư khá lâu đời ở các xã thuộc miền núi cao huyện Nho Quan, thị xã Tam Điệp và là một bộ phận của cư dân người Mường sinh sống dọc theo dải núi đá vôi từ Hoà Bình đi Thanh Hoá; các phong tục tập quán sinh hoạt, truyền thống văn hoá mang nét đặc trưng của cộng đồng dân tộc Mường của Việt Nam. Các dân tộc ít người khác sống phân tán, rải rác ở các địa phương trong tỉnh, không hình thành cộng đồng dân tộc nhất định, đa số đó có quan hệ hôn nhân, gia đình hoặc trong quá trình đi tìm đường sinh cơ lập nghiệp mà đến định cư ở địa phương và chịu ảnh hưởng sâu sắc của phong tục, tập quán sinh hoạt, sản xuất, truyền thống văn hoá của người Kinh.

Theo www.mpi.gov.vn/ktdplt-main.aspx?lang=4&mabai=2059 - 11k

 

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn