I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
SÔNG HỒNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
 

      Vùng Thủ đô Hà Nội bao gồm Thành phố Hà Nội và 7 tỉnh xung quanh: Hà Tây, Hoà Bình, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương và Hà Nam. Tổng diện tích của vùng thủ đô khoảng 13.370 km2 với dân số khoảng 11.800.000 người.

          Vùng Thủ đô Hà Nội là một trong những vùng chiến lược có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của quốc gia và quốc tế.

          Để việc quy hoạch xây dựng vùng Thủ đô phù hợp với Quy hoạch sử dụng tổng hợp nguồn nước của lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình cũng như các quy hoạch chuyên ngành khác, dưới góc độ của ngành Thuỷ lợi xin nêu một số vấn đề về sông Hồng và Tài nguyên nước cần được quan tâm trong Quy hoạch xây dựng  vùng thủ đô Hà Nội như sau:

          A. Đối với vùng thủ đô Hà Nội:

·   Về phòng chống lũ và giảm nhẹ thiên tai, trong quy hoạch phòng chống lũ đã xác định được tiêu chuẩn chống lũ cho thủ đô Hà Nội và 6 giải pháp công trình và phi công trình để phòng chống lũ cho đồng bằng và trung du sông Hồng, trong đó có vùng thủ đô Hà Nội như sau:

1. Củng cố hệ thống đê sông: Tập trung tu bổ đảm bảo về mặt cắt đê như tiêu chuẩn thiết kế đê. Sửa chữa hoặc làm  mới các cống dưới đê đã quá hạn sử dụng, hoặc đã bị hư hỏng như lún sụt, nứt cống là hết sức cần thiết. Hệ thống đê của vùng cần được nâng cấp, tu bổ và cứng hoá mặt đê.

2. Khai thông dòng chảy để thoát lũ: Tăng khả năng thoát lũ của hệ thống lòng dẫn sông bằng các biện pháp chỉnh trị lòng sông đặc biệt là bãi sông, các cửa phân lưu và hành lang thoát lũ; có giải pháp chống bồi lắng phía thượng lưu và tim cầu trên dòng chính; giải tỏa các khu dân cư làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng thoát lũ; cải tạo hành lang thoát lũ phía sông Tích, sông Đáy; cải tạo lòng dẫn, thiết lập hành lang thoát lũ trên đoạn sông Hà Nội - Hưng Yên.

 3. Giải pháp phân chậm lũ: Phân lũ sông Hồng vào sông Đáy để giảm mực nước trên sông Hồng tại Hà Nội và các vùng hạ du.

4. Giải pháp hồ chứa ở thượng lưu: Bậc thang sông Đà có dung tích chống lũ cho hạ du 7 tỷ m3 và về lâu dài nâng cao hơn nữa. Bậc thang sông Lô có Dung tích chống lũ cho hạ du 2,0 tỷ m3. Đề nghị đưa hồ Tuyên Quang vào chống lũ trước năm 2010, tiếp theo là Sơn La vào năm 2015.

5. Trồng và bảo vệ rừng: Tiếp tục thực hiện chương trình trồng 5 triệu ha rừng để nâng độ che phủ rừng của vùng Đông Bắc và Tây Bắc lên khoảng 55,6% sau năm 2010.

6. Tổ chức quản lý và khai thác hiệu quả các giải pháp phòng chống lũ: Tổ chức mạng lưới trạm quan trắc các yếu tố khí tượng thủy văn. Tổ chức quản lý lưu vực, hệ thống lòng dẫn ở hạ lưu và các công trình phòng chống lũ theo các pháp lệnh Chính phủ ban hành. Lập các quy chế, quy trình vận hành hồ chứa nhằm phát huy cao hiệu quả cắt lũ cho hạ du. Giáo dục và tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng. Tổ chức lực lượng phòng hộ, cứu hộ, cứu nạn, cứu trợ và khắc phục hậu quả lũ lụt gây ra.

·   Về cấp nước: Cần phải có quy hoạch chi tiết cấp nước cho vùng Thủ đô Hà Nội để phục vụ các đối tượng chủ yếu dùng nước, bao gồm nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, sinh hoạt đô thị và nông thôn. Xem xét rà soát các công trình thuỷ lợi hiện có phục vụ sản xuất và sinh hoạt trong vùng để có giải pháp kỹ thuật nâng cấp tu bổ kiên cố hoá. Xác định để xây dựng mới các công trình phục vụ cấp nước tạo nguồn. Đề xuất xây dựng các công trình khai thác phục vụ cấp nước cho các khu công nghiệp, đô thị mới

·   Về tiêu  thoát nước: Tiêu thoát nước của vùng Thủ đô Hà Nội chủ yếu thoát vào 3 hệ thống thuỷ lợi lớn đó là: Bắc Đuống, Bắc Hưng Hải và sông Nhuệ.

Qua phân tích diễn biến úng và mực nước trên sông Nhuệ thì thấy rằng khả năng tiêu tự chảy cho nội thành vào sông Nhuệ là rất hạn chế do đó phương án tiêu chính cho nội thành phải là công trình bơm ra sông Hồng mới có khả năng thực tế góp phần giải quyết nạn úng ngập hiện nay.

          Cần phải xây dựng quy hoạch chi tiết cho việc tiêu thoát vùng Thủ đô Hà Nội với yêu cầu giải quyết cơ bản tình trangh úng ngập nước mưa trong phạm vi lưu vực sông Tô Lịch với diện tích 7.750 ha. Xây dựng hệ thống cống, mương, sông, dẫn nước tiêu tốt để khắc phục tình trạng nước thải ứ đọng gây ô nhiễm môi trường nước, cải thiện điều kiện sống nhân dân trong khu vực đô thị hoá không để xảy ra úng giả tạo cả nội thành và ngoại thành.

          Đề xuất phương án giải quyết tiêu thoát nước cho khu vực quận Cầu Giấy, quận Tây Hồ, Thanh Xuân (Hà Nội) và Hà Tây tiêu ra sông Đáy bằng trạm bơm.

          Tiêu thoát nước khu vực Đông Anh và Bắc Gia Lâm, cần tập trung nghiên cứu giải quyết tiêu thoát bằng động lực ra các sông trục chính Ngũ Huyện Khê, sông Hồng, sông Cầu, sông Đuống

  Đối với khu vực Nam Gia Lâm có mối liên quan chặt chẽ với hệ thống tiêu Bắc Hưng Hải cần xây dựng trạm bơm tiêu Long Biên tiêu ra sông Hồng, các trạm bơm tiêu Phí Xá, Bình Hàn, Cầu Sộp...thuộc địa phận tỉnh Hải Dương.

·   Về môi trường nước: i trường nước ở vùng thủ đô Hà Nội đã bị ô nhiễm ở mức báo động do tốc độ phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội, đô thị hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Cần có một chương trình và kế hoạch cụ thể toàn diện về bảo vệ môi trường nước, xử lý nước thải trước khi xả vào nguồn nước, xử lý rác thải. Bổ sung nguồn nước cho các hệ thống để pha loãng, giảm ô nhiễm đảm bảo nước có chất lượng để sử dụng tiếp cho các vùng lân cận Thủ đô

B. Đối với 7 tỉnh lân cận

1. Về cấp nước

- Tỉnh Hà Tây, Hà Nam là 2 tỉnh thiếu nguồn nước phục vụ cấp nước cho sản xuất, sinh hoạt và cải tạo môi trường cần sớm xây dựng cống Bến Mắm, cống Tắc Giang làm nhiệm vụ cấp nước và cải tạo môi trường.

- Hải Dương, Hưng Yên thuộc hệ thống Bắc Hưng Hải do yêu cầu phát triển kinh tế xã hội nhất là công nghiệp đô thị và yêu cầu chuyển đổi cơ cấu sản xuất... Hiện trạng các công trình thủy lợi đa phần xuống cấp cần được nâng cấp sửa chữa và nghiên cứu xây dựng thêm cống Nghi Xuyên lấy nước tạo nguồn kết hợp lấy phù sa cải tạo đồng ruộng.

- Tỉnh Bắc Ninh về công trình cơ bản đã giải quyết cấp đủ nước chủ yếu là nâng cấp, sửa chữa, bổ sung công trình nội đồng.

- Hoà Bình là tỉnh miền núi các công trình cấp nước chủ yếu là công trình nhỏ. Để đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đến năm 2010 cần được đầu tư nâng cấp kiên cố hoá các công trình hiện có, xây dựng tiếp một số công trình thủy lợi như hồ sông Lãng, hồ Trọng , hồ Càn Thượng. Tuy nhiên cần có quy hoạch thủy lợi chi tiết để phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng và cấp nước.

- Tỉnh Vĩnh Phúc: Các công trình cấp nước đã xây dựng đáp ứng được yêu cầu tưới cho nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi nhưng cần được tu bổ thường xuyên công trình đầu mối và dần từng bước thực hiện cứng hoá kênh mương. Khu vực miền núi còn thiếu nhiều công trình cấp nước, như ở khu vực ven núi Tam Đảo, Lập Thạch. Khu vực này trước mắt cần được đầu tư một số công trình trọng điểm nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế như: Nâng cấp hồ Xạ Hương để đảm bảo tưới và cấp nước cho nuôi trồng thủy sản. Xây dựng hồ Thanh Lanh, hồ Bản Long để mở rộng diện tích nông nghiệp.

2. Về tiêu thoát nước

a. Tỉnh Hà Tây

Do mức độ đô thị khu vực giáp ranh Hà Nội - Hà Tây phát triển nhanh nên nếu tiêu tự chảy sẽ gây quá tải cho hệ thống sông Nhuệ. Vì vậy, cần phải xây dựng trạm bơm mới quy mô lớn tiêu ra sông ngoài như trạm bơm tiêu Yên Nghĩa tiêu ra sông Đáy cho phần diện tích Hà Nội mở rộng và khu vực Đan Phượng, Hoài Đức thuộc Hà Tây.

Cần nâng cấp sửa chữa các trạm bơm đã có và xây dựng mới một số trạm bơm như: Trạm bơm tiêu Ngoại Độ 2 tiêu ra sông Đáy và trạm bơm tiêu Hạ Dục tiêu ra sông Tích.  

Cần cải tạo, mở rộng và nâng cấp các hệ thống tiêu đã có: Nạo vét trục tiêu sông Nhuệ. Nâng cao mức bảo đảm các trạm bơm tiêu úng như: Khe Tang, Vĩnh Mộ, Quán Mới, Thông Đạt, Xém, Bộ Đầu. Từng bước thay thế những trạm bơm tiêu cũ lạc hậu, trước mắt là những máy bơm trục ngang loại 1000, 2500, 4000m3/h.

b. Tỉnh Hoà Bình

          Hoà Bình là tỉnh miền núi nên các công trình tiêu úng không lớn, chủ yếu là tiêu tự chảy, song có đặc điểm riêng là phụ thuộc vào việc xả lũ của đập thuỷ điện Hoà Bình. Vì vậy cần nâng cao tuyến đê Đà Giang, Quỳnh Lâm, Ngòi Dong  để bảo vệ thị xã, kết hợp nâng cấp trạm bơm tiêu Quỳnh Lâm.

          Dự kiến tiêu lũ, chống úng cho 2400ha (trong đó chuyển đổi khoảng 600ha sang một vụ lúa, một vụ cá). Diện tích úng này nằm rải rác ở các huyện, tập trung chủ yếu ở 3 xã Cao Thắng, Thanh Lương, Thanh Nông của huyện Kim Bôi thuộc lưu vực sông Đáy, cần nâng cấp trạm bơm tiêu Thanh Lương.

          c. Tỉnh Bắc Ninh

          Khu vực Bắc Đuống: Cải tạo nạo vét kênh tiêu đường 16, xây dựng mới trạm bơm tiêu Vạn An để tiêu chủ động cho 3.757ha, hướng tiêu ra sông Cầu, quy mô 9 máy 8000m3/h. Cần xây dựng mới trạm bơm Hán Quảng tiêu cho 2100ha, hướng tiêu ra sông Đuống và xây dựng mới trạm bơm Kim Đôi 2 tiêu ra sông Cầu. Cải tạo, nâng cấp các trạm bơm tiêu đã có như Vọng Nguyệt, Xuân Viên,Thái Hoà, bơm vợi Đặng Xá.

          Khu vực Nam Đuống: Đây là khu vực tiêu thuộc hệ thống Bắc Hưng Hải, các công trình tiêu cơ bản đã được giải quyết, tồn tại chính là hệ thống kênh trục tiêu. Do đó khu vực này cần nạo vét hệ thống kênh trục tiêu và nâng cấp trạm bơm tiêu Kênh Vàng.

 d. Tỉnh Vĩnh Phúc

          Tỉnh Vĩnh Phúc là một tỉnh mà vấn đề tiêu úng còn tồn tại khá lớn. Song cũng là một tỉnh có định hướng chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong những năm tới do vậy giải pháp tiêu úng ở đây là: Đối với vùng trũng ven sông Lô đề nghị chuyển 500 ha sang nu«i c¸ hoÆc nu«i vÞt; vùng trũng ven sông Phan, sông Cà Lồ chuyển đổi diện tích khoảng  5000 ha thµnh 1 vô lóa chiªm và 1 vô c¸.

          Më réng kªnh tiªu BÕn Tre ®Ó tiªu n­íc vïng th­îng nguån vÒ §Çm V¹c ra s«ng Cµ Lå kh«ng g©y óng cho khu vùc s«ng Phan. Các vùng khác đã đủ công trình tiêu nhưng cần được tu bổ công trình đầu mối.

            e. Tỉnh Hải Dương

          Hiện nay do mực nước chân triều tại 2 cửa tiêu chính Cầu Xe, An Thổ tăng lên 40cm so với thiết kế cũ (giai đoạn 1973-1975) nên các công trình theo thiết cũ đến nay không đảm bảo yêu cầu tiêu úng. Mặt khác, các công trình tiêu đã có xuống cấp nên hướng giải quyết tiêu là: Cải tạo, nạo vét kênh trục tiêu Bắc Hưng Hải. Nâng cấp và mở rộng các trạm bơm tiêu đầu mối Đò Hàn, Bình Hàn, Hiệp Lễ, Cầu Sộp và Phí Xá. 

f. Tỉnh Hưng Yên

          Các trạm bơm tiêu đã có gồm 123 trạm, tiêu cho 52.555ha song chỉ tiêu chắc được 74%, nguyên nhân do công trình tiêu đã có xuống cấp, mực nước tại các cửa tiêu tăng lên so với trước đây. Do vậy hướng giải quyết tiêu  ở đây là:

- Xây dựng mới 9 trạm bơm tiêu, nâng cấp 10 trạm bơm tiêu đã có.

- Cần chuyển đổi 4.071ha vùng trũng với cơ cấu lúa-cá hoặc chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản.

g. Tỉnh Hà Nam

          Vấn đề tiêu úng của Hà Nam còn tồn tại là chưa đủ công trình đầu mối để tiêu úng. Mặt khác các công trình hiện có đã bị xuống cấp. Do vậy, giải pháp tiêu cho Hà Nam là: Tu bổ, nâng cấp các công trình tiêu thuộc vùng 6 trạm bơm lớn Nam Hà, tập trung cải tạo, nâng cấp các trạm bơm tiêu lớn đầu mối như Cổ Đam (10.646ha), Hữu Bị (11.250ha), Như Trác (3.950 ha) và xây mới các trạm bơm Kinh Thanh 2 (6127 ha) và Lạc Tràng 2 (2500ha).

Trên đây chỉ là những nét phác hoạ chủ yếu một số vấn đề về nước đối với quy hoạch xây dựng vùng thủ đô Hà Nội. Để có thủ đô xanh, sạch, đẹp việc phát triển và bảo vệ nguồn nước theo quy hoạch và kế hoạch phù hợp với sự phát triển của các ngành kinh tế -xã hội trong quy hoạch xây dựng vùng thủ đô Hà Nội là không thể tách rời.

 
CÁC TIN KHÁC
  LƯU VỰC SÔNG HỒNG

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn