I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT
 

 Tổng quát

Tài liệu đo đạc về chất lượng nước ở Việt nam nhìn chung còn quá ít để đánh giá đúng tình hình chất lượng nước trên toàn lãnh thổ. Qua số liệu đo đạc trên một số lưu vực có nhận xét sơ bộ như sau:

Chất lượng nước trên sông Hồng nhìn chung vẫn đạt tiêu chuẩn sử dụng cho công nghiệp và dân sinh, tuy nhiên cần lưu ý: Hàm lượng Sắt rất cao (0,1 -1,6 mg/l).

ở gần khu công nghiệp Việt trì nước bị ô nhiễm nhẹ, BOD hơi thấp (4 -4,5mg/l), chỉ số COD hơi cao (5 -7,6 mg/l), Cu, Zn, As đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép, lượng Coliform quá cao (11.000 con/100ml), lượng Fecalcoliform (11.000 con/100ml). Tuy nhiên, hiện tượng này cũng chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn trong năm.

Chất lượng nước các sông ở Trung Bộ đều tốt hơn ở Bắc bộ - ít bị ô nhiễm, độ pH cao hơn, nồng độ kim loại nặng thấp hơn. Riêng ở Tây nguyên thì độ kiềm cao (35 扉 mg/l) , độ cứng càng cao hơn ( 40 -42 mg/l).

Tiểu lưu vực sông Thao

Nước các sông suối thuộc phần thương lưu và các vùng núi cao của tiểu lưu vực chưa bị nhiễm bẩn của các chất hữu cơ do dân cư thưa thớt, công nghiệp chưa phát triển và ít sử dụng phân bón thuốc bảo vệ thực vật. Độ khoáng hoá các sông suối vùng này giao động từ 40-500 mg/l trong đó hàm lượng HCO3 chiếm 88-90%; các yếu tố dinh dưỡng NO3-, NO2-, NH4+ có hàm lượng rất nhỏ từ 0,005-0,265 mg/l; các yếu tổ vị lượng trong nước rất nhỏ không gây độc hại, riêng iốt quá nhỏ chỉ đạt 0,1m kg/l (giới hạn cho phép là 5-7m kg/l) là nguyên nhân gây bệnh bướu cổ cho đồng bào vùng cao ví dụ ở tỉnh Lào Cai 54,4% dân số tỉnh mắc bệnh bướu cổ pH từ 6-8,2 trong phạm vi cho phép; nước thuộc loại mềm và rất mềm.

Vùng trung và hạ lưu nhìn chung chất lượng nước ổn định, nguồn nước mặt đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản. ở một số cơ sở sản xuất, cơ sở y tế vì không có hệ thống xử lý chất thải nên đã gây nhiễm bẩn nguồn nước song phạm vi ảnh hưởng không rộng. Đặc biệt tại thành phố Việt trì do có các khu công nghiệp tập trung nên đã trở thành một trong những trong điểm ô nhiễm nguồn nước của cả nước.

Tiểu lưu vực sông Đà

Tiểu lưu vực sông Đà nằm trong vùng rừng núi, điều kiên tự nhiên cũng như kinh tế xã hội hầu như chưa ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng nguồn nước do vậy việc đo đạc theo dõi diễn biến chất lượng nước sông Đà chưa được tiến hành thường kỳ và có hệ thống. ở những nơi có số liệu cho thấy nước sông Đà thuộc loại mềm, hàm lượng các chất hữu cơ nhìn chung thấp, các yếu tố vị lượng nhỏ, một số yếu tố cơ bản như pH, ô xy hoà tan trong giới hạn cho phép, có thể nói chất lượng nước sông Đà còn tốt song xu thế đang theo chiều giảm dần đáng lưu ý là các khu đô thị.

Tiểu lưu vực sông Lô

Nguồn nước bị ô nhiễm nhẹ, su hướng ô nhiễm tăng dần về phía hạ lưu, nước sông Lô, sông Gâm có nhiều bùn cát, độ đục trung bình năm từ 0,25-0,50 kg/m3, hàm lượng CaCO3 cao.

Tiểu lưu vực thượng lưu sông Thái Bình

Hầu hết chưa có số liệu đo đạc chất lượng các nguồn nước trong toàn lưu vực. Tuy vậy sơ bộ nhận định chung thì tình hình ô nhiễm nước của các sông trong lưu vực cần phải được chú ý nghiên cứu và đánh giá. Đặc biệt trên sông Cầu, là một sông có diện tích và khả năng cung cấp nước lớn nhất trong toàn lưu vực do ảnh hưởng của khu công nghiệp Thái nguyên, nước sông đã bị ô nhiễm khá nghiêm trọng.

Vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng - Thái Bình

Trên toàn vùng đồng bằng chư có các trạm đo chất lượng nước sông thường xuyên mà chỉ có kết hợp đo đạc một số yếu tố như độ đục, nhiệt độ,... tại một số vị trí có đặt các trạm đo khí tượng thuỷ văn do tổng cục khí tượng thuỷ văn quản lý. Một số tài liệu về môi trường nước được thực hiện và quản lý tại các sở khoa học công nghệ môi trường của tỉnh; ngoài ra một số tài liệu về chất lượng nước trong vùng được tiến hành đo theo yêu cầu mục đích đánh giá cụ thể của từng dự án được lưu trữ tại các cơ quan quản lý. Nhìn chung chất lượng nước các sông suối trong vùng dùng cho mục đích sản xuất nông nghiệp là tốt. Tuy vậy ở một số vùng trọng điểm như khu công nghiệp, đô thị nước thải đã có những biểu hiện gây ô nhiễm nguồn nước do chưa được xử lý. Không đảm bảo các tiêu chuẩn quy định, khi dùng cho các mục đích sinh hoạt và công nghiệp cần phải được đo đạc, đánh giá và xử lý cần thiết.

Dưới đây là số liệu chất lượng nước của 2 điểm đo có số liệu cụ thể:

Vật cách-Quán vĩnh thuộc An Kim hải û Hải phòng: DO: 1,44-5,75 mg/l; NO2: 0,01-0,06 mg/l; Coliform: 230-4600 con/100 ml; SS: 14-213 mg/l

Tại điểm đo Hoà Bình-Kiến thuỷ-Hải phòng: DO:1,6-4,8 mg/l; NO2: 0,01-0,1 mg/l; NO3 戞 mg/l; Coliform: 360-4600 con/100ml; SS: 220 mg/l

 
CÁC TIN KHÁC
  LƯU VỰC SÔNG NHUỆ VÀ ĐÁY BỊ Ô NHIỄM NGHIÊM TRỌNG

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn