I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN THUỶ LỢI PHỤC VỤ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CÁC TỈNH MIỀN NÚI VÀ TRUNG DU BẮC BỘ TỪ NĂM 1986-2003
 

In the past 20 years, the water resource sector has play such an important and decisive role in the stabilizing and improving the livelihood and spiritual life of people. The water resource development in mountainous and midland area in the North Vietnam has facilitated the socio-economic development in order to alleviate the poverty, mitigate natural disaster, stabilize daily life and ensure national security. The   water resource development also contribute to the national socio-economic development as a whole, say in hydropower, flood control and water supply for Red River Delta.  

Vùng miền núi và trung du Bắc Bộ bao gồm 15 tỉnh: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Quảng Ninh với tổng diện tích tự nhiên là 9.519.374 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp 1.239.673 ha, đất canh tác 922.556 ha.

            Các tỉnh miền núi phía Bắc hầu hết nằm ở thượng nguồn các sông, suối cho nên sự biến đổi về cao độ rất lớn và phức tạp, đất đai đa dạng nhiều loại khác nhau nhưng nhìn chung khá màu mỡ, tầng mùn dầy thuận lợi cho việc phát triển các loại cây trồng như lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày, cây dược liệu quý hiếm, phát triển rừng và đồng cỏ chăn nuôi. Trong vùng có các lưu vực sông chính là: Sông Đà, sông Thao, sông Lô – Gâm, sông Cầu – Thương, sông Bằng Giang - Kỳ Cùng và các sông suối nhỏ ven biển Quảng Ninh. Đặc điểm nổi bật là nguồn nước phân bố không đều theo không gian và thời gian, mùa mưa chiếm 80-85% và mùa khô chiếm 15-20% tổng lượng nước hàng năm.

            Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua các tỉnh miền núi và trung du Bắc Bộ đã xây dựng một số công trình để phát triển nguồn nước nhằm phục vụ:

- Cấp nước cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp, đô thị và nông thôn, cho các hoạt động du lịch, dịch vụ, giao thông, thể thao và vệ sinh môi trường, bảo vệ sự phát triển bền vững của môi trường sinh thái.

- Phòng chống lũ cho nội tại các tỉnh miền núi, trung du và đồng bằng; đáp ứng, điều hoà và tăng nguồn nước mùa kiệt cho hạ du, phát triển nguồn năng lượng cho cả nước, hỗ trợ việc tái tạo và trồng rừng phòng hộ các công trình hồ chứa lớn.

Do đặc điểm của công trình thuỷ lợi ở các tỉnh miền núi Bắc Bộ là quy mô vừa và nhỏ, đa dạng về chủng loại, phần lớn là công trình bán kiên cố, diện tích phục vụ phân tán, chia cắt, số lượng công trình quá nhiều nên suất đầu tư rất cao, quản lý khai thác phức tạp, hàng năm phải tu bổ, nâng cấp với kinh phí và công lao động không nhỏ. Tuy nhiên một số công trình lớn trên dòng chính đã xây dựng như Thác Bà trên sông Chảy, Hoà Bình trên sông Đà, hồ Núi Cốc trên sông Công, hồ Cấm Sơn trên sông Hoá, đập Thác Huống trên sông Cầu, hệ thống Liễn Sơn trên sông Phó Đáy, hồ Yên Lập (Quảng Ninh), hồ Pa Khoang (Điện Biên)…không những đóng góp to lớn vào công cuộc phát triển nền kinh tế Quốc gia về năng lượng, mà còn có ý nghĩa lớn về chống lũ và điều hoà nguồn nước cho đồng bằng và trung du Bắc Bộ.

            Công tác đầu tư thuỷ lợi phục vụ chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp có thể được chia thành 3 thời kỳ:

            - Từ năm 1986 – 1989: Chuyển từ kinh tế tập thể sang kinh tế hộ (phá vỡ thế tự túc tự cấp, tập trung giải quyết vấn đề lương thực, vượt khỏi đói nghèo).

            - Từ năm 1990 – 2000: Chuyển từ kinh tế hộ sang kinh tế hàng hoá mở rộng (phát triển sản xuất nông sản thô, phát triển kinh tế trang trại, phấn đấu no đủ).

            - Từ năm 2000 – 2003: Bước đầu chuyển từ sản xuất hàng hoá mở rộng sang kinh tế hàng hoá hướng tới đạt năng suất, chất lương giá trị và hiệu quả cao hơn và phát triển ngành nghề, tăng thu nhập của người dân.

            Đến nay trên toàn vùng miền núi và trung du Bắc Bộ đã xây dựng được 1945 hồ chứa vừa và nhỏ, 4370 đập dâng, 750 trạm bơm, hàng vạn công trình tiểu thuỷ nông gồm mương, phai, đường dẫn nước, hồ, ao nhỏ phục vụ tưới thiết kế cho 367.580 ha và thực tế đã đảm bảo tưới cho 278.527 ha. Ngoài ra các công trình thuỷ lợi còn kết hợp cấp nước sinh hoạt cho hàng vạn dân, có 104.934 công trình đường ống, bể xây, bể hốc đá, mỏ nước đã được xây dựng để cấp cho 805.600 người dân ở các vùng khan hiếm nước, vùng núi đá, vùng biên giới. Cấp nước cho các khu công nghiệp của Thái Nguyên, Quảng Ninh và các đô thị khác.

            Thống kê thực trạng các công trình phát triển tài nguyên nước trên địa bàn các tỉnh đã được xây dựng như sau:

Thống kê các công trình thuỷ lợi xây dựng giai đoạn 1986 – 2003
vùng miền núi và trung du Bắc Bộ

 

Giai đoạn

Tổng số công trình

Diện tích tưới (ha)

Vốn đầu tư (109)

Tổng số

Hồ chứa

Đập

Trạm bơm

Giai đoạn 1986 – 1990

Trong đó, tăng thêm

5861

>200

1313

3962

586

200.000

19.862

 

57,0

Giai đoạn 1990 – 2000

Tăng thêm

6986

1125

1924

611

4312

350

750

164

267.158

69.746

 

1946,0

Giai đoạn 2001 – 203

Tăng thêm

7065

79

1945

21

4370

58

750

0

278.527

18.014

 

583,0

Tổng cộng

 

 

 

 

 

2.586,0

            Thực tiễn cho thấy sự phát triển tài nguyên nước ở miền núi và trung du Bắc Bộ trong những năm qua đã khẳng định được hiệu quả hết sức to lớn không chỉ đối với sản xuất nông nghiệp, các ngành kinh tế quốc dân mà còn góp phần tích cực vào việc phát triển ổn định định canh, định cư, xoá đói giảm nghèo. Đối với sản xuất nông nghiệp, thuỷ lợi là điều kiện để phát triển sản xuất, là biện pháp hàng đầu, là tiền đề thâm canh, khai hoang phục hoá mở rộng diện tích, tăng vụ… góp phần vào việc thực hiện mục tiêu sản xuất lương thực. Ngoài ra công trình thuỷ lợi đã góp phần giải quyết cấp nước sinh hoạt đô thị, nông thôn, cấp nước cho công nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản… phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai.

            Trong 20 năm qua, ngành thuỷ lợi đã góp phần quan trọng và quyết định tới cuộc sống ổn định và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Công tác phát triển tài nguyên nước ở các tỉnh miền núi và trung du Bắc Bộ đã tạo điều kiện để phát triển nền kinh tế xã hội nhằm xoá đói giảm nghèo, hạn chế thiên tai và ổn định dân cư, bảo đảm an ninh quốc phòng quốc gia mà còn đóng góp rất lớn vào phát triển kinh tế xã hội của cả nước, trong đó có điện năng, chống lũ và cấp nước cho đồng bằng sông Hồng.

            Sự phát triển kinh tế xã hội trong những năm đổi mới, đặc biệt trong thời gian từ nay đến năm 2010 sẽ có chuyển biến mạnh mẽ cả về cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý, nhất là từ nay nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo nghị quyết của Đảng thì công tác thuỷ lợi vừa phải đảm bảo phát triển các ngành kinh tế của đất nước một cách hài hoà và có hiệu quả, vừa phải bảo vệ an toàn chống lụt bão cho các vùng dân sinh và kinh tế quan trọng. Tình hình  này đòi hỏi công tác thuỷ lợi phải đổi mới cách nghĩ, cách làm thì mới có thể đáp ứng những yêu cầu cấp bách của thực tiễn cuộc sống đang diễn ra hết sức mạnh mẽ và sôi động ở mỗi lưu vực, mỗi vùng kinh tế.

 
CÁC TIN KHÁC
  QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NUỚC - NHỮNG KHÁI NIÊM CƠ BẢN
  THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN NƯỚC

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn