I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
CÔNG TÁC THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC PIM Ở LÀO CAI
 

Trước khi có khung Chiến lược PIM, Lào Cai đã có định hướng phát triển mô hình quản lý khai thác công trình thủy lợi có sự tham gia của người dân (PIM) và công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn và đi theo đúng định hướng khung Chiến lược PIM do Bộ Nông nghiệp và PTNT chỉ đạo.

Sau 1 năm ban hành Khung Chiến lược PIM và Chương trình hành động phát triển PIM, Lào Cai đã đạt được những kết quả đáng kể:

  1. Về xây dựng thể chế:

-          Xây dựng chính sách và tổ chức thực hiện Chương trình kiên cố hóa kênh mương nội đồng từ nguồn vốn vay của Chính phủ giai đoạn 2000-2005. Đây là chương trình XDCB đầu tiên giao cho xã làm chủ đầu tư, dân đóng góp từ 20-40%, xã được tổ chức đội thi công và cử Ban giám sát giảm nhiều chi phí tư vấn. Nhờ đó 254 danh mục đã được xây dựng, kiên cố 390 km kênh với tổng vốn 95 tỉ đồng (vốn vay Chính phủ 70 tỉ, ngân sách 6 tỉ, dân góp 19 tỉ). Chương trình có giám sát của dân nên đạt chất lượng cao, được nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ và tạo ra phong trào nhân dân tham gia sôi nổi, rộng khắc, thúc đẩy PIM phát triển mang lại nhiều hiệu quả kinh tế xã hội.

-         Tổ chức nghiên cứu Nghị định 143 của Chính phủ, tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Quyết định số 837/2004/QĐ.UB ngày 29/12/2004 “quy định về tổ chức quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn, thu, quản lý, sử dụng thủy lợi phí và tiền nước từ công trình thủy lợi, cấp nước sinh hoạt nông thôn”. Đây là văn bản cụ thể hóa Nghị định của Chính phủ và là hành lang pháp lý cho việc tiếp tục phát triển PIM trên địa bàn tỉnh. Theo đó, bộ máy quản lý nhà nước cấp xã được thành lập Ban thủy lợi giúp UBND xã quản lý nhà nước về thủy lợi trên địa bàn, Ban Thủy lợi được trích một khoản thủy lợi phí tiền nước thu được làm kinh phí hoạt động. Mô hình quản lý trực tiếp công trình được thành lập, các tổ chức hợp tác tự quản (HTX nông nghiệp, tổ hợp tác) hoặc khoán cho cá nhân làm dịch vụ; tất cả các công trình phục vụ công cộng đều thu thủy lợi phí, tiền nước theo quy định của tỉnh và hạch toán qua ngân sách xã; Các tổ chức quản lý trực tiếp được ngân sách xã cấp trở lại thủy lợi phí, tiền nước đưa ra dân bàn quyết định sử dụng cho công tác quản lý vận hành, bảo dưỡng công trình sao cho có hiệu quả nhất.

  1. Kết quả phát triển tổ chức trực tiếp quản lý công trình có sự tham gia của người dân

Ngành Nông nghiệp và PTNT đang chỉ đạo các tổ chức quản lý đã hình thành ở cơ sở trước đây chuyển đổi hoạt động theo QĐ 837 của tỉnh. Hiện nay ở Lào Cai đang có các mô hình quản lý khai thác các công trình sau:

-          Mô hình trạm quản lý công trình liên xã: Trước đây đã có 2 trạm quản lý công trình liên xã (trạm quản lý công trình đầu mối và kênh chính phần nội đồng giao cho xã). Việc phân phối nước và quản lý tuyến dẫn nước chung hàng năm do các xã thỏa thuận đóng góp kinh phí lao động dưới sự chỉ đạo của UBND huyện và Phòng Kinh tế huyện. Tuy nhiên hình này không phù hợp, không được chính quyền xã ủng hộ, dân không đồng tình, khó thu thủy lợi phí, đến nay các trạm này này đã giải thể chuyển giao cho xã tự quản. Mô hình này cần có sự giúp đỡ thường xuyên của cấp trên.

-          Mô hình Ban Thủy lợi xã trực tiếp quản lý: Đây là mô hình do chính quyền thiết lập, trước đây đã thành lập 73 Ban, ít có sự tham gia của người dân. Mô hình này có nhiều nhược điểm, tính bền vững không cao, dễ nảy sinh tiêu cực dẫn đến hoạt động hình thức. Nguyên nhân là do việc thành lập áp đặt, cơ chế quản lý tài chính không phù hợp. Thực chất Ban này chỉ có vai trò quản lý nhà nước trên địa bàn xã còn việc quản lý vận hành duy tu bảo dưỡng vẫn giao khoán cho thôn. Mô hình này đang được rà soát lại và chuyển đổi sang mô hình hợp tác dùng nước, hiện còn 60 Ban.

-          Mô hình HTX nông nghiệp dịch vụ thủy lợi: Đã xây dựng được 13 HTX nông nghiệp lấy dịch vụ thủy lợi làm dịch vụ cơ bản. Bộ máy tổ chức dịch vụ thủy lợi gồm Ban Quản lý HTX, nhân viên thủy nông phụ trách khu vực và hộ xã viên dùng nước. Đây là mô hình tự quản gắn với quá trình chuyển đổi HTX được thành lập theo Luật HTX, được các cấp chính quyền và cơ quan chuyên môn chỉ đạo chặt chẽ, người dùng nước được tham gia quyết định trong quá trình quản lý công trình. Hầu hết các HTX đều hoạt động tốt khâu dịch vụ thủy lợi, thu được thủy lợi phí, việc vận hành duy tu bảo dưỡng tương đối tốt. Tuy nhiên mô hình này có nhược điểm là khó phát triển ra diện rộng do địa bàn có nhu cầu thành lập HTX nông nghiệp không nhiều, nhiều nơi nhân dân không muốn vào HTX, thủ tục thành lập có nhiều khó khăn, trình độ cán bộ thấp.

-          Mô hình tổ hợp tác: Đã có 300 tổ hợp tác QLCTTL và cấp nước sinh hoạt tập trung. Đây là mô hình tự quản dựa vào cộng đồng, hoạt động theo Luật dân sự. Bô máy tổ chức gồm tổ trưởng, nhân viên vận hành và người hưởng lợi. Mô hình này đơn giản, gọn nhẹ, dễ thành lập, áp dụng chủ yếu trong 1 công trình quy mô nhỏ, phù hợp với truyền thống, người dân được trực tiếp tham gia quyết định mọi vấn đề, chi phí quản lý thấp phù hợp với thu nhập của nông dân nên đa số dân đồng tỉnh ủng hộ. Mô hình này có khả năng nhân rộng, đặc biệt là đối với các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn. Tuy nhiên mô hình cũng có một số khó khăn như kinh phí tập huấn còn thiếu nên phạm vi áp dụng còn hẹp, mức thu thấp và không có dự trù nên không chủ động kinh phí sửa chữa kịp thời, một số nơi còn thiếu sự giúp đỡ của chính quyền. Vì vậy mô hình này nếu có sự đôn đốc, hỗ trợ của chính quyền và cơ quan chuyên môn thì khi đi vào hoạt động nền nếp sẽ có tính bền vững cao.

-          Mô hình thôn, bản tự quản: Đây là mô hình do UBND xã giao công trình cho trưởng thôn, không thủy lợi phí, không có quy chế quản lý bằng văn bản, không cử người trông coi thường xuyên. Mô hình này có tính hợp tác cộng đồng, nhân dân góp công sức theo huy động của già làng, trưởng bản… Mô hình này tổ chức không chặt chẽ, không có kinh phí để duy trì bộ máy vận hành, bảo dưỡng thường xuyên, nếu được chuyển đổi sang mô hình tổ hợp tác sẽ hoạt động hiệu quả hơn.

  1. Công tác hướng dẫn xây dựng mô hình tổ chức quản lý có sự tham gia của người dân:

-          Chi cục Thủy lợi chủ trì tham mưu xây dựng các văn bản hướng dẫn liên ngành thực hiện các chính sách liên quan đến PIM, soạn thảo các tài liệu truyền thông và hướng dẫn tập huấn cho cơ sở, hướng dẫn cấp xã giám sát xây dựng công trình, vv… Nội dung xuyên suốt của các văn bản đó nhằm phát huy tối đa sự tham gia của người dân ngay từ khi lập kế hoạch, thi công và quản lý sau đầu tư.

-          Chi cục Thủy lợi lập kế hoạch tranh thủ các nguồn vốn tài trợ quốc tế như Oxfam Anh, UNICEF và các nguồn vốn khác để mở các khóa tâp huấn cho huyện, xã và ngwoif dân nhằm nâng cao năng lực QLKTCT. Hơn 50 khóa tập huấn cho 3000 người đã được tổ chức. Kinh nghiệm cho thấy tập huấn trực tiếp tại cộng đồng cho từng công trình là có hiệu quả hơn cả nhưng tập húân cho cấp trung gian cho cán bộ huyện, xã cũng cần thiết vì họ là người quyết định, ủng hộ về chủ trưởng, hỗ trợ đôn đốc giám sát khi cần thiết.

Nhìn chung, công tác tổ chức QLKTCT thủy lợi từ năm 2000 trở lại đây của Lào Cai đã có những tiến bộ, phát triển theo đúng định hướng của Nhà nước là chuyển giao công trình cho dân để giảm gánh nặng của nhà nước. Tỉnh đã xây dựng được một số mô hình quản lý hoạt động hiệu quả, tuy nhiên khó khăn còn nhiều trước mắt. Trong thời gian tới, Lào Cai sẽ tăng cường công tác tuyên truyền các văn bản hỗ trợ của Nhà nước về hỗ trợ phát triển mô hình PIM, chỉ đạo các địa phương chuyển đổi các hoạt động của các tổ chức quản lý hiện có theo quy định mới nhằm mở rộng mô hình PIM có hiệu quả để từng bước đạt được mục tiêu mỗi công trình có một tổ chức tự quản bền vững. Với những kết quả đã đạt được trong việc triển khai Chiến lược PIM ở Lào Cai, chúng tôi tin tưởng rằng PIM sẽ ngày càng mở rộng, phát triển mạnh mẽ và bền vững trên địa bàn tỉnh và phạm vi cả nước.

Tóm lược từ báo cáo của Chi cục Thủy lợi Lào Cai

 
CÁC TIN KHÁC
  ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN THUỶ LỢI PHỤC VỤ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CÁC TỈNH MIỀN NÚI VÀ TRUNG DU BẮC BỘ TỪ NĂM 1986-2003
  QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NUỚC - NHỮNG KHÁI NIÊM CƠ BẢN
  THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN NƯỚC

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn