I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
CÔNG TÁC THỦY LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG
 

Bắc Giang là một tỉnh miền núi Bắc Bộ có diện tích tự nhiên tương đối lớn 3.823 km2 được chia thành hai vùng địa hình miền núi và trung du; có mạng lưới sông ngòi phong phú nằm trong lưu vực Sông Hồng- Sông Thái Bình với 3 con sông chảy qua là Sông Cầu, Sông Thương, Sông Lục Nam và nhiều sông suối nhỏ đã tạo ra nguồn tài nguyên nước khá phong phú có chất lượng tương đổi tốt. Song Bắc Giang nằm trong miền khí hậu nhiệt đối gió mùa của miền Bắc Việt Nam, lượng mưa trong tỉnh phân bổ không đều, mùa mưa chiếm khoảng 80 ¸ 85% tổng lượng mưa cả năm (lượng mưa trung bình nhiều năm từ 1.400 ¸ 1500mm).

Với đặc điểm địa bình, khí hậu như vậy hàng năm Bắc Giang thường phải đối phó với thiên tai gây ra như hạn hán, úng lụt.

Trong năm 2005 cũng là năm công tác thủy lợi có nhiều việc phải làm để phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh trên địa bàn tỉnh đó là:

1. Triển khai công tác phòng chống hạn vụ đông xuân năm 2004 - 2005.

1.1. Tình hình thời tiết và nguồn nước.

Mùa mưa năm 2004 kết thúc sớm từ đầu tháng 9, sớm hơn gần 2 tháng so với mọi năm, lượng mưa năm 2004 của tỉnh Bắc Giang chỉ đạt 1000mm thấp hơn trung bình nhiều năm (TBNN) khoảng 500mm, vì vậy lượng dòng chảy trên các sông suối đều thấp. Mực nước 3 con sông chính đều xuống thấp hơn TBNN từ 0,3 ¸ 0,5m. Lượng nước từ trong các hồ chỉ đạt từ 50 ¸ 60% dung tích thiết kế do đó việc tưới phục vụ sản xuất đông xuân gặp nhiều khó khăn.

1.2. Biện pháp phòng chống hạn:

Ngày 05 tháng 11 năm 2005 Bộ Nông nghiệp & PTNT có hội nghị bàn về công tác chống hạn vụ đông xuân 2004 - 2005 đến các Sở Nông nghiệp & PTNT các tỉnh phía Bắc.

Căn cứ vào tình hình, nguồn nước và diễn biến thời tiết trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và sự chỉ đạo của Bộ.

Sở Nông nghiệp & PTNT đã báo cáo và tham mưu cho UBND tỉnh thành lập Ban chỉ đạo phòng chống hạn của tỉnh và các huyện, xã để triển khai công tác phòng chống hạn theo kế hoạch mà ngành Nông nghiệp & PTNT đề xuất được UBND tỉnh thông qua đó là:

- Yêu cầu các địa phương phối hợp với Sở Nông nghiệp & PTNT, các công ty KTCTTL kiểm tra đánh giá nguồn nước thiết kế ở các sông, suối, hồ đập trên địa bàn, cân đối nguồn nước để chủ động bố trí cơ cấu sản xuất mùa vụ, quản lý chặt chẽ nguồn nước sử dụng nước tiết kiệm.

- Tận dụng triệt để các nguồn nước, thực hiện chôn trữ nước để tưới. Lưu ý không tát cạn nước ở các hồ để bắt cá, không tháo nước để phát điện.

- Tổ chức lắp đặt các trạm bơm dã chiến để để bơm tưới, khi mực nước ở các hồ đập, sông, suối không tự chảy được.

- Xây dựng phương án tưới và chống hạn cho từng vùng, khu vực cụ thể, dự trù kinh phí cho công tác chống hạn để chủ động thực hiện.

- Tổ chức kiểm tra đồng ruộng: đặt ra lịch tưới cụ thể; quản lý phân phối nước chặt chẽ và linh hoạt, tổ chức tưới luân phiên và tiết kiệm nước.

- Những vùng không cân đối đủ nguồn nước cho suốt vụ phải thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho phù hợp, Gieo trồng những cây trồng cạn có yêu cầu ít nước (như lạc, đỗ...). Có thể dịch chuyển vụ đông xuân lùi lại để đỡ gây căng thẳng về nước cho tưới màu mạ và tưới đổ ải đồng thời có thể tận dụng được các trận mưa sớm để giảm bớt lượng nước tưới dưỡng cho lúa và hoa mầu.

- Mua bổ sung nước hồ Núi Cốc cho hệ thống Sông Cầu.

Chỉ đạo triển khai chiến dịch ra quân làm thủy lợi nạo vét kênh mương, các cửa khẩu dẫn nước, các bể hút của các trạm bơm và các kênh mương nội đông.

- Sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền vận động, hướng dẫn nhân dân phòng chống hạn. Theo dõi sát tình hình diễn biến thời tiết để chỉ đạo điều hành và thực hiện tưới cho phù hợp.

Kết quả vụ Đông Xuân năm 2004 - 2005 do có sự chủ động phòng chống hạn từ tỉnh đến các địa phương, cơ sở nên đã cung cấp đủ nước tưới cho 67.600 ha gieo trồng đạt 100% kế hoạch. Đồng thời đảm bảo nước sinh hoạt cho hàng vạn dân nhất là khu vực Miền núi.

2. Công tác phòng chống úng.

Năm 2005 là năm lượng mưa đạt sấp sỉ TBNN với 1400mm. Đầu vụ hạn thiếu nước, vụ mùa mưa tập trung làm ngập úng các vùng trũng trong tỉnh với diện tích gần 10.000 ha.

Sở Nông nghiệp & PTNT đã chủ động chỉ đạo các Công ty KTCTTL ngày từ đầu vụ đã sửa chữa máy móc thiết bị các trạm bơm, nạo vét kênh tiêu, khơi thông dòng chảy, tôn cao, áp trúc bờ vùng, bờ thửa, chỉ đạo theo dõi diễn biến thời tiết để chủ động bơm tiêu nước đệm vì vậy diện tích úng của các vùng trũng trong tỉnh không bị ảnh hưởng và sản xuất bình thường.

3. Tình hình thiên tại và các biện pháp khắc phục.

Nhìn chung từ năm 2000 đến năm nay 2005 tình hình lũ trên các triền sông Cầu, Sông Thương, Sông Lục Nam ở mức độ trung bình. Trong mỗi năm mùa lũ chỉ có từ 1 đến 3 đợt lũ. Đỉnh lũ cao nhất vượt báo động 3 khoảng 30 đến 70 cm. Do lũ ở mức độ trung bình nên chỉ xảy ra những sự cố nhỏ như sạt trượt mái đê phía đồng, mạch đùn, mạch sủi ở những nơi thâm trùng. Song trong năm 2005 đã xảy ra 2 vụ việc đó là: tháng 9 năm 2005 do ảnh hưởng của hoàn lưu cơn bão số 7 nên khu vực tỉnh Bắc Giang có mưa diện rộng từ ngày 27-28/9 mực nước sông Lục Nam lên nhanh ở mức báo động số 3 làm tràn đê bối Trí Yên huyện Yên Dũng làm ngập mất trắng diện tích cấy tái giá khoảng 300 ha.

Tháng 11/2005 do ảnh hưởng của cơn bão số 8 kết hợp không khí lạnh, trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã xảy ra mưa diện rộng, địa bàn huyện Lục Ngạn có mưa lớn làm sạt lở bờ sông Lục Nam tại Km 41 thuộc xã Phượng Sơn làm ảnh hưởng trực tiếp ổn định bờ sông dài 415m, khu vực sạt lở nguy hiểm cần xử lý dài 216m, ảnh hưởng đến 15 hộ dân và quốc lộ 31.

Để đối phó và giải quyết hai vụ việc trên.

- Về sử lý chống tràn đê bối Trí Yên huyện Yên Dũng, lực lượng quân đội và địa phương đã chủ động chống tràn và tháo cho nước tràn từ từ vào các khu vực dự kiến vì vậy không gây vỡ đê.

- Về sạt trượt bờ sông Lục Nam Sở Nông nghiệp & PTNT đã tham mưu cho UBND tỉnh cùng phối hợp với các ngành và huyện Lục Ngạn cho tháo dỡ nhà cửa trên phạm vi đang diễn ra sạt trượt. Di dời 15 hộ dân vùng nguy hiểm đồng thời cho bạt mái giảm tải và lập báo cáo đánh giá sạt lở đề nghị tỉnh cấp kinh phí, xử lý để chống sạt trượt tiếp đảm bảo an toàn cho đường 31 và khu dân cư lân cận.

Công tác phòng chống lụt bão mấy năm qua, ở Bắc Giang tuy không gặp khó khăn phức tạp. Song đây là công việc trọng tâm luôn được sự quan tâm chỉ đạo của tỉnh đến cơ sở. Bằng các biện pháp cụ thể là: sau mỗi mùa lũ cho kiểm tra đánh giá công trình đê điều để xây dựng kế hoạch tu bổ sửa chữa và xây dựng phương án phòng chống lụt bão cho năm sau sát thực.

4. Các vấn đề phát sinh trong lưu vực, những khó khăn tồn tại và các kiến nghị với Ban quản lý quy hoạch lưu vực Sông Hồng - Sông Thái Bình.

4.1. Các vấn đề phát sinh và khó khăn tồn tại trong lưu vực.

- Nguồn nước mỗi ngày một suy giảm cả trên sông và các hồ chứa.

- Nhu cầu dùng nước mỗi ngày một nhiều và đa dạng cả trong phục vụ sản xuất đến phục vụ dân sinh và các nhu cầu khác.

Hai vấn đề này đã dẫn đến thiếu nguồn nước cần có sự hỗ trợ của lưu vực để giải quyết.

- Nguồn nước trên sông Cầu, Sông Thương, Sông Lục Nam ngoài việc suy giảm còn bị ô nhiễm bởi chất thải của các khu công nghiệp, làng nghề.

- Các công trình thủy lợi bị xâm phạm nhất là vi phạm đê điều như hút cát trên sông, xây nhà, lều quán lấn chiếm đê.

- ý thức người dân về việc bảo vệ công trình kém thậm chí nhiều nơi còn lấy cắp, phá hỏng công trình như cánh cống điều tiết, ty van cống.

Ba vấn đề nêu trên Sở Nông nghiệp & PTNT đã phối hợp với các ngành và các địa phương trong tỉnh làm thường xuyên và có những đợt tập trung cao điểm để ngăn chặn. Song những phát sinh này chỉ giảm theo thời điểm.

- Hệ thống công trình thủy lợi xây dựng đã lâu nay xuống cấp nghiêm trọng từ đầu mối đến kênh mương.

- Các hồ đập vừa và nhỏ miền núi xuống cấp nghiêm trọng nên hàng năm không giám cho tích nước theo thiết kế. Vì vậy việc phát huy hiệu quả của các công trình này cho phục vụ sản xuất và dân sinh rất hạn chế.

Với tồn tại này đối với Bắc Giang 2 hệ thống thủy nông lớn là Cấm Sơn - Cầu Sơn, Nam Yên Dũng đã được Bộ Nông nghiệp & PTNT quan tâm đầu tư từ năm 2005 - 2010 cải tạo nâng cấp bằng nguồn vốn WB3 và ADB3.

Còn hệ thống Sông cầu và hồ đập vừa và nhỏ miền núi đề nghị Ban quan tâm đề nghị Bộ có chương trình đầu tư cho những năm tới.

- Diện tích trồng cây ăn quả ở các huyện miền núi nhiều lại trồng trên cao không có nước tưới. Nếu đầu tư cho tưới thì giá thành cao.

- Tình trạng khai thác nước ngầm bừa bãi diễn ra ngày một nhiều không quản lý được.

- Một số địa phương phát triển nuôi trồng thủy sản không theo quy hoạch làm ảnh hưởng việc cấp nước và tiền thoát nước.

Đây là những vấn đề tồn tại phát sinh địa phương phải tập trung giải quyết.

4.2. Những kiến nghị với ban quản lý lưu vực Sông Hồng, Sông Thái Bình.

Ngoài những phần kiến nghị ở từng phần tồn tại phát sinh trên. Sở Nông nghiệp & PTNT Bắc Giang đề nghị một số vấn đề sau:

Tính toán lại quy trình điều tiết hồ Cấm Sơn để vừa đảm bảo an toàn cho hồ chứa và tích nước để phục vụ tưới và phát điện.

- Bộ sớm ra quyết định thành lập Ban quản lý tiểu lưu vực sông Cầu để Ban này đi vào hoạt động.

- Cần đầu tư vốn để xây dựng công trình mới bổ sung nguồn nước thiếu hiện nay. Đồng thời có chương trình tu bổ sửa chữa nâng cấp cải tạo hệ thống hồ đập vừa và nhỏ miền núi để phát huy hiệu quả theo nhiệm vụ thiết kế./.

 Nguyễn Văn Tác

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT.

 
CÁC TIN KHÁC
  KẾT QUẢ CÔNG TÁC THỦY LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH NĂM 2005
  ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC THỦY LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN
  MỘT VÀI HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN TRONG LƯU VỰC SÔNG HỒNG – THÁI BÌNH NĂM 2005
  CÔNG TÁC THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC PIM Ở LÀO CAI
  ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN THUỶ LỢI PHỤC VỤ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CÁC TỈNH MIỀN NÚI VÀ TRUNG DU BẮC BỘ TỪ NĂM 1986-2003

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn