I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
KẾT QUẢ CÔNG TÁC THUỶ LỢI TRONG NĂM 2005 CỦA TP HÀ NỘI
 

Hà Nội nằm ở trung tâm Bắc Bộ, giới hạn trong khoảng từ 20o53 đến 21o23 vĩ độ Bắc, 105o44 đến 106o02 kinh độ Đông, tiếp giáp với 5 tỉnh: Thái Nguyên ở phía Bắc, Bắc Ninh, Hưng Yên ở phía Đông, Hà Tây và Vĩnh Phúc ở phía Tây và phía Nam. Hà Nội có diện tích 913,8km2 với dân số xấp xỉ 3,0 triệu người.

Hà Nội có một hạ tầng kỹ thuật thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp, nông thôn tương đối hoàn chỉnh. Hệ thống thuỷ lợi tưới gồm: 418 trạm bơm điện (664 máy bơm các loại từ 1.000m3/h đến 81.000m3/h); 30 hồ chứa nhỏ, đập dâng tại huyện Sóc Sơn; tổng chiều dài kênh mương tưới là 1.247,5km. Hệ thống công trình thuỷ lợi tiêu gồm: 35 trạm bơm tiêu quy mô lớn với 315 máy bơm các loại, trên 279,5km kênh tiêu chính. Năng lực tưới hiện nay của hệ thống công trình thuỷ lợi là 35.133ha, đảm bảo tưới chủ động 90% diện tích đất canh tác, phần diện tích chưa được tưới chủ động còn lại chủ yếu ở vùng trung du, bãi ngoài đê; diện tích tiêu bằng động lực là 19.503ha, trong đó, đảm bảo tiêu chủ động được 70% diện tích. Hà Nội có 7 tuyến đê chính với chiều dài 151,8km, trong đó có 37,7km tuyến đê Hữu Hồng là đê cấp đặc biệt, 50,5km đê tuyến Tả Hồng, Hữu Đuống là đê cấp I, 22,4km đê Tả Đuống là đê cấp II và 41,2km đê Tả, Hữu Cà Lồ và Hữu Cầu là đê cấp III.

Tình hình thiên tai năm 2005

Trong năm 2005, cũng như các tỉnh thành trên cả nước, tình hình khí tượng, thuỷ văn tại Hà Nội đã có một số diễn biến phức tạp. Vụ xuân: đầu vụ rét đậm, rét hại kéo dài (nhiệt độ không khí ở mức trung bình là 16.20C, thấp hơn TBNN từ 1.2 - 4.10C) vào đúng thời điểm gieo mạ, làm một số diện tích mạ bị chậm phát triển, ảnh hưởng đến kế hoạch đổ ải của các địa phương; dòng chảy trên các sông ở mức thấp hơn TBNN cùng thời kỳ khoảng 15 - 30%, mực nước sông thấp đã ảnh hưởng rất lớn đến lưu lượng bơm của máy bơm dẫn đến điện năng bơm đổ ải tăng cao. (Lưu lượng nước sông Hồng ở mức 850-950m3/s, thiếu hụt so với TBNN từ 25-30%. Mực nước sông Hồng trung bình từ +2.1 đến +2.2m, thấp hơn TBNN 0,74-0,84m; đặc biệt ngày 07/3/2005, mực nước sông Hồng xuống đến +1.58, là trị số thấp nhất trong chuỗi số liệu một trăm năm trở lại đây). Mực nước các hồ chứa phục vụ công tác tưới trên địa bàn ngay từ đầu vụ đều ở mức thấp so với TBNN từ 1-2m; trữ lượng nước nhỏ hơn 50% dung tích ở mực nước dâng bình thường, đặc biệt một số hồ nhỏ chỉ còn 20-30%. Trong vụ mùa: cơn bão số 2 và 3 đã gây mưa, mưa vừa; bão số 7 và 8 đã gây mưa vừa, mưa to tại khu vực Hà Nội; trong tháng 8, do ảnh hưởng của bão, lượng mưa tháng biến động lớn, dao động từ 198 - 391mm, phổ biến cao hơn TBNN từ 27 - 113mm gây khó khăn cho công tác tiêu úng. Vụ đông vẫn tiếp tục khó khăn về nguồn nước như vụ đông 2004; mực nước sông Hồng trong tháng 11 trung bình ở mức +2.89m, thấp hơn trung bình nhiều năm 1.81m.

Biện pháp khắc phục của địa phương

Trước tình hình diễn biến phức tạp của thời tiết, với chức năng quản lý nhà nước, bằng các văn bản cụ thể, Sở Nông nghiệp và PTNT Hà Nội đã chỉ đạo kịp thời các đơn vị trực thuộc, đề nghị UBND các Quận, Huyện:

- Tổ chức kiểm tra, bảo dưỡng, sửa chữa máy móc, thiết bị đảm bảo đủ đầu máy theo yêu cầu sản xuất; nạo vét, tu bổ hệ thống kênh mương và các công trình trên kênh, bảo dưỡng dầu mỡ các máy đóng mở của các cống. Phối hợp với ngành điện lực kiểm tra các trạm biến thế, đảm bảo nguồn điện ổn định, đủ điện áp cung cấp cho các trạm bơm hoạt động. Trong vụ xuân, tổng khối lượng nạo vét kênh mương để chuẩn bị công tác tưới ước đạt 265.000m3; các tổ bơm của trạm bơm do Công ty KTCTTL quản lý được nối dài ống hút từ 1.0m đến 1.5m; chuẩn bị đầy đủ vật tư, phương tiện để đảm bảo lắp đặt 20 trạm bơm dã chiến phục vụ công tác chống hạn. Trong vụ mùa, đã tiến hành vớt bèo, rác thải trên các trục kênh tiêu với diện tích 300 đến 400 nghìn mét vuông.

- Căn cứ vào tình hình nguồn nước, kế hoạch sản xuất nông nghiệp, phối hợp với các địa phương lập kế hoạch tưới tiêu một cách hợp lý, tiết kiệm nước. Trong vụ đông xuân đã tăng cường các biện pháp trữ nước tại mặt ruộng, các hệ thống sông, kênh trục nội đồng cung cấp nước tạo nguồn cho các trạm bơm tưới trong toàn hệ thống. Đối với những vùng cao, xa công trình đầu mối không có khả năng về nguồn nước thì có kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng.

-  Xây dựng các phương án chống hạn vụ xuân và chống úng vụ mùa cho toàn hệ thống, chi tiết đến từng trạm bơm đầu mối. Chuẩn bị sẵn sàng vật tư, biện pháp cụ thể để sẵn sàng chủ động đối phó với các tình huống bất lợi có thể xảy ra.

 Đồng thời với công tác phòng, chống úng, Sở Nông nghiệp và PTNT Hà Nội đã chỉ đạo các đơn vị tiến hành kiểm tra, đánh giá chất lượng công trình đê điều trước lũ đảm bảo đúng quy định. Xây dựng phương án hộ đê và phương án phòng chống lụt bão một cách chi tiết; phối hợp với chính quyền địa phương tiến hành xử lý các trường hợp vi phạm Pháp lệnh đê điều ảnh hưởng đến công tác phòng chống lụt bão.

Kết quả công tác thuỷ lợi trong năm 2005

Do chuẩn bị tốt về công trình, thực hiện tốt phương án chống hạn, úng và phòng chống lụt bão, bảo vệ đê điều đã đề ra; công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất và đời sống trong năm 2005 đã đạt được những kết quả như sau:

+ Đảm bảo cung cấp nước tưới tiêu, góp phần nâng cao năng suất cây trồng cho 68.808 ha cây trồng (trong đó: vụ xuân 30.172ha; vụ mùa 26.569 ha; vụ đông 12.067ha).

+ Các sự cố hư hỏng về đê điều đã được phát hiện kịp thời và tổ chức theo dõi tường xuyên, chặt chẽ mọi diễn biến. Vì vậy, hệ thống đê điều đã được đảm bảo an toàn tuyệt đối trong mùa lũ 2005.

+ Phối hợp với chính quyền địa phương tiến hành xử lý 107 vụ vi phạm Pháp lệnh Đê điều.

Những vấn đề phát sinh, những khó khăn tồn tại

Nhìn chung có thể đánh giá một cách tổng quát hệ thống công trình thuỷ lợi trên địa bàn Hà Nội đã cơ bản đáp ứng được một phần yêu cầu về tưới tiêu phục vụ sản xuất, dân sinh. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu cấp nước phục vụ chuyển đổi cơ cấu sản xuất, đặc biệt từ trồng lúa sang nuôi trồng thuỷ sản, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, rau an toàn, trồng hoa có giá trị hàng hoá cao; tiêu thoát nước đáp ứng nhu cầu phát triển của các ngành công nghiệp, đô thị và phòng chống thiên tai bão lũ, bảo vệ môi trường sinh thái... Công tác thuỷ lợi hiện nay còn những tồn tại, cụ thể như sau:

- Vùng đồi gò huyện Sóc Sơn, vùng bãi huyện Đông Anh và Gia Lâm có đặc điểm địa hình phức tạp dẫn đến tỷ lệ diện tích được tưới trên diện tích sản xuất nông nghiệp hiện nay còn thấp.

- Lượng nước thải công nghiệp và sinh hoạt ngày càng tăng. Hiện nay, nguồn nước trên hệ thống thuỷ nông sông Nhuệ đã bị ô nhiễm nặng nề dẫn đến chất lượng nước tưới của vùng huyện Từ Liêm và đặc biệt huyện Thanh Trì không đảm bảo.

- Tốc độ đô thị hoá cao, phát triển mạnh các khu du lịch, dịch vụ, các làng nghề và công nghiệp đòi hỏi mức độ tiêu cao hơn, hệ số tiêu tăng lên. Mặt khác, do ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá đã làm cho diện tích sản xuất bị chia cắt, hệ thống thuỷ lợi bị thay đổi do phải nắn chỉnh tuyến, tình trạng vi phạm tăng cao, rác thải, chất thải đưa xuống hệ thống kênh mương ngày một gia tăng, cơ cấu cây trồng chuyển đổi không theo quy hoạch. Những nguyên nhân trên đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quy trình vận hành của hệ thống công trình thuỷ lợi cũng như công tác thực hiện nhiệm vụ tưới, tiêu.

- Nhiều công trình thuỷ lợi được xây dựng và khai thác quá lâu, trong giai đoạn năm 1960 - 1970 nên hiện nay đã bị xuống cấp nghiêm trọng. Hệ thống kênh mương bị sử dụng lâu ngày dẫn đến sạt lở nhiều, không đảm bảo mặt cắt thiết kế dẫn đến năng lực tưới kém. Các trục tiêu thoát nước chính bị bồi lắng ảnh hưởng đến tiêu thoát.

 - Trong những năm gần đây, mực nước các sông Hồng xuống rất thấp. Để đảm bảo cấp nước chống hạn cho vụ Đông Xuân, các công ty KTCT Thuỷ lợi đã tiến hành nối ống hút các tổ bơm, khai thông luồng dẫn, hạ thấp cao trình đáy bể hút... Tuy nhiên, biện pháp nêu trên chỉ mang tính ngắn hạn, các trạm bơm ngoài bãi hoạt động không đủ công suất, điện năng tổn thất lớn.

- Do có sự thay đổi về chế độ dòng chảy đã làm tỷ lệ phân lưu vào sông Đuống trong những năm qua tăng từ 24% - 25% lên 29%. Dẫn đến, cuối mùa lũ năm 2004 và mùa lũ năm 2005 đã xảy ra tình trạng sạt lở bờ sông Đuống (tại khu vực nhà máy Gạch Cầu Đuống, thị trấn Yên Viên).

Các đề xuất - kiến nghị

Để giải quyết các vấn đề nêu trên, chúng tôi xin có một số đề xuất với Ban QLQHLV sông Hồng - Thái Bình như sau:

Trước mắt, đề nghị Ban phối hợp với Tổng công ty Điện lực Việt nam có kế hoạch xả nước phát điện hồ Hoà Bình hợp lý để giữ mực nước hạ lưu sông Hồng thấp nhất cũng bảo đảm ở mức +2.0 đến +2.2 tại Hà Nội trong vụ đông xuân 2005 - 2006.

Hành lang thoát lũ vùng Hà Nội đã được nghiên cứu nhiều năm, kết quả nghiên cứu khá tập trung. Vì vậy, đề nghị Ban phối hợp trình Nhà nước xét duyệt sớm dể trở thành cơ sở pháp lý quản lý bãi sông.

Về lâu dài, đề nghị Ban chỉ đạo triển khai lập quy hoạch thuỷ lợi chi tiết cụ thể cho Thành phố Hà Nội đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng./.

 Hà Đức Trung

Phó Giám Đốc Sở Nông nghiệp và PTNT Hà Nội

 
CÁC TIN KHÁC
  ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG TRÊN ĐIA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG TRONG NĂM 2005
  KẾT QUẢ CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG CỦA NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN TRONG NĂM 2005
  CÔNG TÁC THỦY LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG
  KẾT QUẢ CÔNG TÁC THỦY LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH NĂM 2005
  ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC THỦY LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn