I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
KẾT QUẢ CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT NĂM 2005 TỈNH NAM ĐỊNH
 
I- Những kết quả đạt được:

            Công tác thuỷ nông trên địa bàn tỉnh Nam định đến nay đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu sản xuất nông nghiệp với diện tích tưới, tiêu cho lúa hàng năm khoảng gần 160.000 ha, trong điều kiện thời tiết bình thường.

            Ngoài phục vụ tưới, tiêu cho lúa, công tác thuỷ nông đã đáp ứng một phần cho diện tích cây mầu và cây vụ đông với diện tích canh tác gần 17.000 ha cây vụ đông, trong đó nhiều vùng trồng cây vụ đông xuất khẩu.

            Đối với vùng ven biển như Nghĩa hưng, Giao thuỷ, Hải hậu, Xuân trường đã hình thành các khu vực nuôi trồng thuỷ sản với diện tích gần 3000 ha( số liệu thống kê năm 2004) tạo điều kiện cho tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích canh tác, cải thiện đời sống nhân dân.

Mạc dù năm 2005 là năm thời tiết diễn biến phức tạp, đầu năm ít mưa, mực nước sông thấp, nước thuỷ triều cao hơn cùng kỳ năm trước từ  (0,3¸0,45)m nhưng độ mặn cao hơn cùng kỳ từ (11¸16)%o lấn sâu vào các triền sông gây khó khăn cho việc khai thác nguồn nước tưới. Giữa năm bị ảnh hưởng trực tiếp của nhiều cơn bão có sức gió mạnh cấp 9 đến trên cấp 12 gây mưa to làm đổ dập lúa và gây ngập úng trên phạm vi toàn tỉnh, vụ mùa năm 2005 năng suất lúa bị giảm lớn do ảnh hưởng của gió bão làm đổ dập lúa nhưng ngay sau bão các công ty KTCTTL đã tích cực khắc phục những hư hỏng của hệ thống CTTL để đảm bảo công tác tưới tiêu. Sở Nông nghiệp & PTNT tăng cường chỉ đạo các Công ty KTCTTL trong việc điều hành tiêu nước đệm, linh hoạt vận hành hệ thống theo qui trình khai thác nguồn  nước tưới, tiêu trong toàn tỉnh đã không để xảy ra diện tích ruộng bị thiếu nước sản xuất, không bị ngập úng góp phần giành thắng lợi lớn vụ đông xuân 2004- 2005.

 

II- Tình hình thiên tai- Các biện pháp khắc phục:

1/ Tình hình hạn:

            Vụ xuân năm 2005 tỉnh Nam định gieo cấy gần 79 ngàn ha, trong đó vùng phía bắc tỉnh tưới tiêu bằng động lực có diện tích gieo cấy trên 25 ngàn ha; vùng phía nam tỉnh tưới tiêu bằng trọng lực, ảnh hưởng thuỷ triều có diện tích gieo cấy trên 53 ngàn ha.

Vùng ảnh hưởng thuỷ triều, mực nước thấp hơn trung bình nhiều năm, mặn tiến sâu hơn và nồng độ mặn cao hơn trung bình nhiều năm nên một số cống và số giờ mở cống lấy nước bị thu hẹp trên toàn bộ các tuyến sông. Vì vậy diện tích lấy nước đổ ải rất thấp, không đạt kế hoạch đề ra.

Đối với các huyện vùng phía bắc tỉnh tưới tiêu bằng động lực, mực nước ngoài sông và bể hút các trạm bơm điện lớn đều thấp hơn trung bình nhiều năm từ (75 ¸ 90)cm; nên các trạm bơm điện lớn không đủ nguồn để chạy máy, nhiều lúc phải giảm bớt máy chạy, mực nước tại các bể hút trạm bơm không đạt mực nước theo quy trình nên thời gian tưới phải kéo dài, diện tích tưới chủ động bị thu hẹp. Các trạm bơm điện nhỏ, dã chiến không có nguồn để chạy máy.

 

Biện pháp:

+ Sở Nông nghiệp & PTNT đã tham mưu cho UBND tỉnh thành lập Ban chỉ đạo chống hạn của tỉnh, giao nhiệm vụ và phân công từng thành viên phụ trách từng địa bàn cụ thể. UBND tỉnh đã chỉ đạo các huyện, thành, các địa phương thành lập Ban chỉ đạo chống hạn, từ đó các Công ty KTCTTL tham mưu để các địa phương xây dựng đề án chống hạn một cách cụ thể, sát thực tế.

+ Trên cơ sở đề án chống hạn các địa phương đã triển khai nạo vét những cửa cống lấy nước, các đoạn kênh bị tắc nghẽn, tôn cao bờ vùng ngăn và giữ nước, giải toả các vi phạm, khai thông dòng chảy, khối lượng nạo vét kênh mương trong chiến dịch thuỷ lợi nội đồng là: 2.964.100 m3, huy động trên 1.700 máy bơm các loại hiện có, các phương tiện đấu tát thủ công, kéo đường dây điện phục vụ chống hạn.

+ Trong chỉ đạo điều hành, Sở Nông nghiệp & PTNT Nam định đã phối hợp với UBND các huyện, thành chỉ đạo các công ty KTCTTL bám sát diễn biến thời tiết, thuỷ văn để tranh thủ số cống và số giờ mở cống lấy nước để lấy được lượng nước lớn nhất, đảm bảo chất lượng nước. Đối với các huyện vùng bơm động lực, khi mực nước ngoài sông lớn, các trạm bơm điện lớn đã giảm số máy chạy hoặc ngừng bơm để nhập nước vào kênh tiêu, tạo điền kiện cho các trạm bơm điện nhỏ hoạt động.

+ Việc điều hành nước trên các tuyến kênh được thực hiện theo quy trình vận hành đã duyệt dựa trên nguyên tắc: Vùng động lực ưu tiên tưới vùng cao, vùng xa, vùng cát. Vùng trọng lực, vùng cao lợi dụng con triều có đầu nước cao để tưới trước; vùng vàn, vùng thấp trũng lợi dụng những con triều có đầu nước thích hợp tưới sau. Các công ty KTCTTL đã thành lập các tổ kiểm tra, vận hành công trình để sử lý kịp thời các sự cố, hỏng hóc, không để nước từ kênh tưới chảy xuống kênh tiêu.

2/ Tình hình úng:

Năm 2005 là năm thời tiết có nhiều diễn biến phức tạp, lượng mưa phân bố không đều; lượng mưa bình quân toàn tỉnh 6 tháng đầu năm là 209mm, chỉ riêng 3 tháng 7,8,9 lượng mưa là 1.116mm cao hơn trung bình nhiều năm 183 mm

Đã có 5 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến tỉnh ta là bão số 2, 3 và 6, 7, 8; đặc biệt là 2 cơn bão số 6, 7 ảnh hưởng trực tiếp gây mưa lớn chỉ trong vòng 10 ngày từ 17 - 27/9 với gió cấp 11-12 giật trên cấp 12 và lượng mưa 336mm, riêng tháng 9 lượng mưa là 502mm đã gây ngập úng 35363 ha lúa( bão số 2 và số 3) và mưa do bão số 8 ngày 03/11/2005 gây úng cho 10.962 ha lúa mùa chưa thu hoạch và 6.196 ha cây vụ đông, thiệt hại lớn đến hệ thống công trình thuỷ lợi tỉnh Nam định, một số đoạn đê biển ở các huyện Hải hậu, Giao thuỷ, Nghĩa hưng bị tràn, vỡ. Hệ thống công trình thuỷ lợi nội đồng bị hư hởng nhiều, một số công trình xây đúc bị đổ, vỡ, nhiều kênh mương bị sạt lở, bồi lắng. Do ảnh hưởng trực tiếp của cơn bão đã làm đổ, dập lúa và ngập úng trên diện rộng vào đúng thời kỳ lúa mùa chính vụ làm đòng trỗ bông và đã làm ảnh hưởng lớn đến năng suất lúa mùa. Thiệt hại sau bão số 7 theo kiểm tra và báo cáo của các Công ty KTCTTL về hệ thống công trình thuỷ lợi là: 35,338 tỷ đồng, thiệt hại về thất thu thuỷ lợi phí vụ mùa 2005 là: 10.500 tỷ đồng.

Biện pháp:

+ Sở Nông nghiệp & PTNT đã kiểm tra và chỉ đạo trực tiếp các huyện phía Nam tranh thủ mở cống tiêu nước và huy động các phương tiện bơm tát chống úng

Để phục hồi và đảm bảo tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, UBND tỉnh đã có chỉ thị về việc phát động chiến dịch làm thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp thành phong trào sâu rộng  trong từng thôn, xóm, đội sản xuất, hợp tác xã, xã, thị trấn. Triển khai các công trình xây dựng mới, tu sửa nâng cấp công trình thuỷ nông, củng cố, nạo vét kênh tưới tiêu, cửa cống, đắp bờ vùng bờ thửa, khoanh vùng dầm ải, có biện pháp chống lãng phí điện, nước. Giải toả vật cản để giải phóng dòng chảy. Tiếp tục KCHKM bằng nhiều nguồn vốn, trước hết ở những vùng chuyên sản xuất giống, vùng chuyển đổi cơ cấu và những vùng đặc biệt khó khăn về tưới tiêu bằng động lực.

 

III- Các vấn đề phát sinh trong lưu vực- kiến nghị:

1/ Các vấn đề phát sinh trong lưu vực, khó khăn, tồn tại:

- Các Công ty KTCTTL thu không đủ chi nhưng không được cấp bù, không có vốn để tu bổ sửa chữa công trình. Mới thu ở sản xuất nông nghiệp, các hộ hưởng lợi khác chưa thu hoặc thu quá thấp.

- Hệ thống CTTL, đặc biệt công trình đầu mối do xây dựng từ lâu nên bị xuống cấp nhiều, nguồn vốn duy tu sửa chữa hàng năm không đồng bộ với sự xuống cấp. Hệ thống kêng mương dẫn nước bị bồi lấp, ách tắc hư hỏng nhiều, đặc biệt bị ảnh hưởng sau bão số 7 chưa được đầu tư sửa chữa. Trình độ dân trí, ý thức cộng đồng về tài nguyên nước, nhất là sự cần thiết quản lý khai thác tổng hợp tài nguyên nước còn rất thấp, những vi phạm Pháp lệnh Bảo vệ và KTCTTL vẫn tái diễn và phát triển, hiệu quả của chiến dịch giải toả khơi thông dòng chảy còn thấp làm giảm năng lực của hệ thống công trình.

- Quản lý hệ thống công trình, quản lý nước tưới còn yếu, thất thoát nước tưới. Thực hiện phân vùng tưới, tiêu có nơi chưa triệt để,.....

- Việc phục vụ tưới tiêu cho các vùng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cây vụ đông còn hạn chế do chưa qui hoạch thành các vùng tập trung mà còn nhỏ, lẻ, manh mún.

- Hiện tượng bồi lấp nhanh một số sông tự nhiên làm giảm khả năng cấp nước ngọt cho sản xuất nông nghiệp trong mùa kiệt, giảm khả năng thoát lũ về mùa mưa lũ, không khai thác được thế mạnh giao thông thuỷ (sông Ninh , sông Đáy và sông Sò).

- Sự thay đổi chế độ thuỷ văn vùng hạ lưu sau khi công trình thuỷ điện Sông Đà đi vào hoạt động. Tuy mực nước mùa kiệt các sông có được nâng lên ít chút, theo tài liệu đo đặc của các công ty thuỷ nông. Song mực nước trung bình mùa lũ dâng cao, chân lũ kéo dài làm cho năng lực tiêu trên các công trình đã xây dựng trên các tuyến sông giảm

- Chất lượng nước phát triển có hướng xấu đi, do biến đổi các quy luật tự nhiên, do chưa có quy hoạch khai thác tổng hợp, do cơ sở hạ tầng khai thác tài nguyên nước còn lạc hậu, xuống cấp, chưa đủ điều kiện khai thác tiềm năng.

- Nước cho mục tiêu phát  triển kinh tế nông nghiệp:       

+Vùng đồng chiêm trũng phía Bắc nguồn tưới sử dụng chủ yếu nước tái sinh(sử dụng nước kênh tiêu để tưới), trong khi nguồn nước phù sa phong phú suốt vụ mùa trên sông Hồng, sông Đào, sông Đáy không đủ điều kiện khai thác.

+Vùng ảnh hưởng thuỷ triều hiện tượng nhiễm mặn, tái nhiễm mặn có nguy cơ phát triển( mặn tiến sâu theo các sông tự nhiên, bịt nhiều cửa cống, lượng rò rỉ qua các cửa cống lớn, làm mực nước ngầm tầng mặt dâng cao, khi gặp hạn độ mặn nước mặt ruộng và nước trong tầng đất canh tác tăng nhanh, diện  tích tưới tiêu riêng biệt, tưới tiêu linh hoạt bị thu hẹp, phương thức tưới tiêu mở rộng, không đáp ứng được việc hạ thấp mực nước ngầm, phòng chống úng hạn thâm canh và những đòi hỏi nghiêm ngặt phục vụ chuyển đổi cơ cấu giống, công nghệ gieo cấy của sản xuất nông nghiệp .

-Hệ thống khai thác nước các mục tiêu: nuôi trồng hải sản, sản xuất muối, phát triển lâm nghiệp ven biển, cây công nghiệp còn sử dụng chung. Không có hệ thống dẫn, tháo nước riêng đáp ứng cho từng mục tiêu. Do đó nhìn chung hiệu quả khai thác không cao.

- Hệ thống đê kè phòng chống bão lũ: mức bảo đảm thấp, lại xuống cấp, nhiều ẩn hoạ chưa đáp ứng được yêu cầu đối phó với lũ bão.

2/ Đề xuất, kiến nghị:

- Rà soát, tháo gỡ thực sự những vướng mắc về cơ chế chính sách, đặc biệt là chính sách tài chính để các doanh nghiệp vươn lên hoạt động có hiệu quả.

- Bộ Nông nghiệp & PTNT cho bổ sung rà soát quy hoạch thuỷ lợi trên địa bàn toàn tỉnh để có hướng đầu tư, sửa chữa, nâng cấp, xây dựng mới hệ thống các công trình thuỷ lợi phù hợp với hướng phát triển chung của tỉnh.

- Rà soát, bổ xung quy hoach tổng thể khai thác vùng lấn biển vào mục đích nuôi trồng hải sản, phát triển nông, lâm nghiệp.

- Thuỷ nông:  Xây dựng dự án chỉnh trị một số sông thiên nhiên, tổ chức nạo vét những đoạn tắc nghẽn như cửa Mom rô, cửa Đáy, sông Sò nhằm tăng nguồn tưới về mùa kiệt và tăng khả năng thoát lũ

+ Thay thế, bổ sung, cải tạo những công trình đầu mối, đập điều tiết, đáp ứng yêu cầu thâm canh tăng năng suất cây trồng.

            - Đê điều: Coi trọng chương trình nâng cấp hệ thống đê kè chủ động giảm nhẹ thiên tai: thực hiện tiêu chuẩn hoá đê, hình thành đường tràn cứu hộ ở một số trọng điểm xung yếu.

 

Bùi Sỹ Sơn

PHÓ GIÁM ĐỐC SỞ NÔNG NGHIỆP & PTNT

 
CÁC TIN KHÁC
  CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG, TÌNH HÌNH THIÊN TAI TỈNH LÀO CAI
  KẾT QUẢ CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT NĂM 2005 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TÂY
  KẾT QUẢ CÔNG TÁC THUỶ LỢI TRONG NĂM 2005 CỦA TP HÀ NỘI
  ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG TRÊN ĐIA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG TRONG NĂM 2005
  KẾT QUẢ CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG CỦA NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN TRONG NĂM 2005

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn