I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
TÌNH HÌNH THIÊN TAI NĂM 2005 VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC CỦA TỈNH QUẢNG NINH
 

1.                   Kết quả công tác thủy lợi phục vụ sản xuất và đời sống trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Năm 1963, toàn tỉnh mới có 17 hồ chứa nước vừa và nhỏ với tổng dung tích 8,8 triệu m3 nước, 15 đập dâng các loại, 10 trạm bơm tưới và 100 công trình thủy lợi nhỏ khác. Trong thời kỳ đổi mới được Bộ Nông nghiệp và PTNT, tỉnh quan tâm đầu tư vốn xây dựng, đến nay đã có 52 hồ chứa nước các loại vừa và lớn với tổng dung tích chứa 313 triệu m3 nước, 37 đập dâng trên sông suối, 68 trạm bơm tưới, 300 công trình thủy lợi nhỏ khác; 18 công trình cấp nước sinh hoạt, cùng với nguồn vốn đóng góp của dân đã kiên cố hóa được 713/200 km kênh tưới, nâng diện tích được tưới từ 41% (năm 1964) tăng lên 70,8% (năm 2005) so với diện tích gieo trồng. Năm 2005: chuẩn bị cho khởi công hồ Đầm Hà động với giá trị 298 tỉ đồng, nâng cấp hồ Yên Lập 234 tỉ đồng, nâng cấp đê biển Hà Nam 120 tỉ đồng. Củng cố, tu bổ hàng trăm km đê, xây mới hàng chục hồ chứa nước nhỏ và đập dâng, nâng cấp sửa chữa hàng trăm công trình thủy lợi vừa và nhỏ… đảm bảo phục vụ cho tốt sản xuất nông nghiệp. Tổng diện tích được tưới 53.475 ha (tăng 2.856 ha so với năm 2000) so với diện tích gieo trồng chiếm 70,8%, trong đó tưới cho lúa 44,166 ha chiếm 93,5% diện tích cấy lúa. Tổng diện tích được tiêu 33.844 ha (tăng 852 ha so với năm 2000). Xây dựng tốt các phương án diễn tập, cứu hộ cứu nạn trên bộ, trên biển, phương án PCLB ở các vùng trọng điểm, do đó đã hạn chế thấp nhất thiệt hại do bão gây ra.

Đây là một thành công lớn trong công tác thủy lợi, nhờ đó đã góp phần quan trọng trong việc mở rộng diện tích đất canh tác sản xuất nông nghiệp, là yếu tốt quyết định để chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng đầu tư thâm canh tăng năng suất cây trồng trên diện rộng.

Mặt khác, chú trọng đầu tư xây dựng các tuyến kè biên giới, Móng Cái, Hải Hà, Bình Liêu chống xâm lấn đất, bảo vệ lãnh thổ chủ quyền quốc gia.

2.                   Tình hình thiên tai và các biện pháp khắc phục của địa phương:

Do đặc điểm địa hình của tỉnh Quảng Ninh có ¾ diện tích là đồi núi, bờ biển dài gần 300 km, nên Quảng Ninh chịu ảnh hưởng của các hình thái thời tiết như lũ sông, bão biển, lốc xoáy…

2.1.             Về lũ:

Các huyện miền Tây của tỉnh chịu ảnh hưởng lũ của hệ thống sông Thái Bình, đáng kể nhất là huyện Đông Triều, thời gian lũ có khi kéo dài cả tháng trời. Năm 1971, lũ lớn đã tràn vào làm vỡ đê ở khu vực Bình Dương, Nguyễn Huệ. Lũ gây ngập diện tích 4 xã Nguyễn Huệ, Bình Dương, Thủy An, Việt Dân với hàng ngàn ha, hàng ngàn hộ gia đình bị ngập nước. Tình hình úng lụt ở huyện Đông Triều hầu như năm nào cũng xảy ra. Vài năm trở lại đây, do được đầu tư xây dựng 5 trạm bơm tiêu: Hồng Phong, Việt Dân, Đạm Thủy, Đức Chính, Kim Sơn nên tình hình úng lụt cơ bản đã được khống chế.

Các huyện miền đông của tỉnh chịu ảnh hưởng lũ của các sông Ba Chẽ (1000 km2), sông Tiên Yên (700 km2), sông Bắc Luân (700 km2) và một số sông suối vừa và nhỏ khác: sông Hà Cối, sông Đường Hoa, sông Hà Thanh, sông Đầm Hà… Do phần lớn các sông ngắn và dốc, lượng mưa lớn (trung bình khoảng 2.500 mm/năm) nên về mùa mưa thường xuất hiện lũ với biên độ lớn; cá biệt có nơi xảy ra lũ quét hoặc sạt lở đất đá, gây nhiều thiệt hại cho nhân dân địa phương.

2.2.             Về bão:

Hàng năm Quảng Ninh trực tiếp hoặc chịu ảnh hưởng từ 3 đến 5 cơn bão. Bờ biển dài là lợi thế cho việc phát triển kinh tế biển nhưng về mùa mưa cũng là nỗi lo canh cánh của những người làm công tác phòng chống lụt bão. Với tổng số 442 km đê biển bảo vệ dân sinh kinh tế, hơn 300 km đê thủy sản, gần một vạn tàu đánh cá hàng ngày hoạt động trên biển (ước tính trên vùng biển Quảng Ninh hàng ngày có khoảng 3 vạn người làm ăn trên biển) đều chịu tác động rất lớn của bão biển. Năm nào cũng có sự cố về đê điều và người chết trên biển do bão.

2.3.             Về lốc xoáy:

Lốc xoáy là hình thái thời tiết đặc biệt. Đến nay chúng ta chưa dự báo được, theo thống kê những năm gần đây trên vùng biển vịnh Hạ Long năm nào cũng xảy ra lốc xoáy. Thiệt hại trong các năm như sau: Năm 1999: 6 tàu thuyền bị đắm, 8 người chết. Năm 2000: 1 tàu đắm, 7 người chết. Năm 2001: đắm 4 tàu, rất may không có người chết. Năm 2002: đắm 12 tàu thuyền, xà lan. Năm 2004: đắm 1 thuyền, 16 người chết. Năm 2005: đắm 4 tàu và 4 người chết.

2.4.             Lũ quét và sạt lở đất đá:

Tuy không thường xuyên nhưng cũng đã xảy ra ở một vài huyện miền núi. Tháng 8/2001, lũ quét ở huyện Đông Triều làm 8 người chết. Tháng 6 năm 2005 sạt lở đất ở huyện Bình Liêu làm 11 người chết.

Riêng năm 2005 có 9 cơn bão và 3 áp thấp nhiệt đới hoạt động trên biển đông, trong đó ảnh hưởng đến Quảng Ninh có 5 cơn bão: 2, 3, 5, 6, 7. Do bão lớn xảy ra trên phạm vi rộng nên tuy chỉ bị ảnh hưởng nhưng thiệt hại do bão gây ra tương đối lớn. Thiệt hại do bão, lốc xoáy và sạt lở đất đá năm 2005 được thống kê như sau:

-          Người chết và mất tích: 24 người (Bình Liêu: 13; Cẩm Phả: 3; Hạ Long: 4; Vân Đồn: 2; Uông Bí: 1; Yên Hưng: 1)

-          Người bị thương: 3 người (huyện Tiên Yên)

-          Nhà đổ: 20 chiếc

-          Nhà tốc mái: 300 chiếc

-          Đầm thủy sản bị vỡ, ngập: 8.000 ha

-          Đê điều bị sạt: 10 tuyến

-          Hồ, đập, cống tiêu bị sự cố: 4

-          Lúa và hoa màu bị ngập, đổ: 7.500 ha

-          Giao thông bị hư hại: 10 tuyến

-          Cột điện đổ: 30 chiếc

Tổng thiệt hại ước tính:           120 tỉ, trong đó

  - ngành thủy sản:           70 tỉ (đê bao 20 tỉ; tôm cá 50 tỉ)

  - ngành nông nghiệp: 25 tỉ (đê điều 15 tỉ, lúa và hoa màu 10 tỉ)

  - ngành giao thông:        15 tỉ

  - thiệt hại khác:  10 tỉ

Công tác khắc phục hậu quả:

Ngay sau khi bão lũ xảy ra, các địa phương đã khẩn trương khắc phục hậu quả, ổn định đời sống nhân dân, ổn định sản xuất, với phương chậm dựa vào sức mình là chính. Năm 2005, chính phủ trợ cấp cho Quảng Ninh 2 lần với kinh phí 9 tỉ đồng, tỉnh cấp kinh phí 3 tỉ đồng (tổng cộng là 12 tỉ đồng) để khắc phục hậu quả bão lũ, được phân bổ như sau:

- Hỗ trợ công trình đê điều:                     9.259 triệu

- Hỗ trợ công trình thủy lợi:                     845 triệu

- Hỗ trợ công trình giao thông:                 888 triệu

- Hỗ trợ mua vật tư PCLB:                                  450 triệu

- Hỗ trợ nhà đổ:                                    90 triệu

- Hỗ trợ nhà tốc mái:                              232 triệu

- Hỗ trợ bệnh viện, trường học bị đổ:       236 triệu

Đến nay, tuy mùa mưa bão đã qua nhưng còn rất nhiều gia đình gặp khó khăn, nhất là các hộ nuôi trồng thủy sản, nhiều gia đình trắng tay đang rất cần sự quan tâm giúp đỡ của Nhà nước và cộng đồng dưới các hình thức như: giãn thời gian hoàn trả vốn ngân hàng, tiếp tục cho vay với lãi suất ưu đãi, hoặc miễn giảm thuế. Tin tưởng rằng với sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, với tinh thần chịu thương chịu khó và đùm bọc lẫn nhau, nhân dân ở các vùng bị thiên tai sớm ổn định đời sống, sản xuất.

3.                   Các vấn đề phát sinh trong lưu vực, những khó khăn tồn tại và các kiến nghị của địa phương đối với Ban QLQHLV sông Hồng – Thái Bình:

-          Các vấn đề phát sinh: Quy hoạch hệ thống công trình thủy lợi ở Quảng Ninh đã được nghiên cứu từ nhiều năm trước đây. Tuy nhiên đến cuối tháng 12 năm 2004 mới chính thức được Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt tại quyết định số 4693 QĐ/BNN-KH ngày 30/12/2004. Đây là khung pháp lý, là cơ sở để xây dựng hệ thống công trình thủy lợi. Trong quy hoạch có rất nhiều công trình được xây mới hoặc nâng cấp, mà diện tích lưu vực của các công trình này là những khu dân cư, hoặc là có công trình của Nhà nước (hồ Đá Cổng, hồ 12 Khe ở Uông Bí, hồ Lưỡng Kỳ ở Hoành Bồ…). Các khu dân cư này vẫn đang phát triển cả về quy mô và cấp độ (nhiều nhà được xây dựng khang trang). Một vấn đề nữa cần đặt ra là bảo vệ môi trường, việc chặt phá khai thác rừng thiếu quy hoạch sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn sinh thủy, làm tăng dòng chảy lũ và giảm dòng chảy kiệt.

-          Những khó khăn: những vấn đề phát sinh trên không những ảnh hưởng mà dưới góc độ kinh tế đôi khi còn quyết định đến tính hiện thực của quy hoạch. Ví dụ, muốn xây dựng hồ Đá Cổng cần di dời 2 đường điện cao thế, hàng trăm gia đình công nhân mỏ với cơ ngơi xây dựng khang trang. Và nếu như không có biện pháp hạn chế, đến khi chúng ta có điều kiện xây dựng công trình thì số hộ không phải vài trăm nữa mà lên đến ngàn hộ. Kinh phí giải phóng đền bù sẽ rất lớn buộc chúng ta phải tìm hướng giải quyết khác. Tương tự Hồ 12 Khe và các hồ khác cũng như vậy.

-          Kiến nghị: Thông thường, quy hoạch ngành dựa trên quy hoạch tổng thể của tỉnh. Hiện nay quy hoạch tổng thể có những thay đổi do tầm nhìn, do phát triển kinh tế có thay đổi hoặc nhiều lý do khác nữa. Vì vậy quy hoạch ngành cần có sự điều chỉnh cho phù hợp. Mặt khác, đơn giá trong xây dựng cơ bản thay đổi thường xuyên (thường thay đổi theo chiều hướng gia tăng), nên chỉ sau vài năm kinh phí trong các kỳ quy hoạch đã trở nên lạc hậu, chính vì vậy cần có sự điều chỉnh bổ sung./

Trần Văn Lãng

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT

 

 
CÁC TIN KHÁC
  ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ TRONG NĂM 2005
  KẾT QUẢ CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH TRONG NĂM 2005:
  KẾT QUẢ CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT NĂM 2005 TỈNH NAM ĐỊNH
  CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG, TÌNH HÌNH THIÊN TAI TỈNH LÀO CAI
  KẾT QUẢ CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT NĂM 2005 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TÂY

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn