I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH TRONG NĂM 2005
 

Thái Bình nằm trong châu thổ sông Hồng bao bọc 3 mặt sông, 1 mặt biển

Diện tích mặt bằng: 163.900 ha

Diện tích canh tác: 103.034 ha

Diện tích cấy lúa: 82.000-84.000 ha

+ Dân số trên 1,8 triệu người mật độ 1.185 người/km2, sản xuất nông nghiệp giữa vai trò chủ đạo, nên công tác thủy lợi luôn là biện pháp hàng đầu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong quá khữ, hiện tại cũng như tương lai.

+ Hệ thống thủy lợi của tỉnh Thái Bình hình thành từ sông ngòi tự nhiên, được bổ sung hoàn thiện theo thời gian, tập trung vào những năm (1930-1940) và thời kỳ hoàn chỉnh thủy nông (1972-1978); nhằm khai thác lũ sông, triều biển để tưới, tiêu thau chua rửa mặn, tạo nên vùng đất màu mỡ sản xuất lúa nước, có truyền thống luôn đứng vào tốp đầu về năng suất, chất lượng.

+ Công trình thủy lợi của tỉnh bao gồm 584 km đê, 244 cống dưới đê, gần 90 kè, 1936km sông dẫn, 1953 cống đập nội đồng, 1194 trạm bơm điện với tổng công suất trên 280m3/s và hơn 14220 km kênh mặt ruộng.

+ Trong điều kiện thời tiết bình thường tưới tiêu cho toàng bộ diện tích, bảo đảm không úng, cấp đủ nước cho sinh hoạt, công nghiệp và một phần cho nuôi trồng thủy sản. Đồng thời góp phần cải tạo đất, giữ gìn môi trường sinh thái nước trong sạch bền vững. Hệ thống đê điều: đê sông chống được lũ 1971 không có bão. Đê biển chống được bão số 6 và đặc biệt là bão số 7 xảy ra trong tháng 9 vừa không không để vỡ đê bảo đảm tính mạng và tài sản cho nhân dân.

+ Khi thời tiết bất thường hệ thống thủy lợi của tỉnh Thái Bình đã bộc lộ nhiều bất cập.

-          Bão lũ trùng hợp, hoặc bão cấp 11, 12 hệ thống đê khó có thể giữ vững, và sẽ xảy ra những hiểm họa là khôn lường.

-          Hạn hán vụ Xuân 1999,2003, 2004 và 2005 làm hơn 10.000 ha lúa bị thiếu nước, nguồn nước bị nhiễm mặn nhiều ngày ở vùng cửa sông thuộc hai huyện Thái Thụy, Tiền Hải.

+ Những đợt mưa lớn trong vụ mùa nhiều năm qua đã gây ngập úng nghiêm trọng trên diện rộng làm thiệt hại nặng nề cho sản xuất nông nghiệp và đời sống xã hội.

-          Đợt mưa tháng 9/2003 ngập sau mưa 66.000 ha

Lúa chết phải cấy lại 20.000 ha làm ảnh hưởng lớn đến năng suất.

      -          Đợt mưa đầu vụ năm 2004 cũng đã làm ảnh hưởng lớn đến năng suất lúa vụ Mùa

-       Đợt mưa đầu tháng 11/2005 đã gây thiệt hại lớn cho vụ Đông ít khi xảy ra.

-       Hai đợt mưa tuy không lớn và bão số 6, số 7 gây ra đã làm úng cục bộ đặc biệt gây tác hại cho lúa đang trổ làm thiệt hại đáng kể cho các huyện ven biển Tiền Hải, Thái Thụy, Kiến Xương.

Nói tóm lại liên tục trong các năm qua thiên tai xảy ra với Thái Bình cũng như một số tỉnh khác rất khắc nghiệt và đã gặp tổn thất nặng nề về kinh tế cho tỉnh.

 Tồn tại trên có nhiều lý do chủ quan và khách quan, nhưng tập trung chủ yếu vào một số nguyên nhân sau:

-       Quản lý khai thác công trình thủy lợi phụ thuộc chặt chẽ vào thiên nhiên (lũ, triều, mưa, bão…), yếu tố này biến động bất thường và có xu thế ngày càng phức tạp và khắc nghiệt, nên nhiều lúc nhiều nơi năng lực của hệ thống thủy lợi quá nhỏ bé.

+ Quy hoạch thủy lợi còn nhiều bất cập chưa bắt kịp trước sự phát triển của công nghiệp, ngư nghiệp, cũng như việc xây dựng cánh đồng có giá trị kỹ thuật cao. Đặc biệt trước yêu cầu khai thác tổng hợp, phục vụ đa mục tiêu đã và đang đặt ra cho công tác thủy lợi của Thái Bình những thách thức rất lớn.

-          Hệ thống công trình thủy lợi chưa được đầu tư đúng mức ch tu bổ, sửa chữa nâng cấp nên dẫn đến hậu quả là:

+ Cống đầu mối, trong đó có các cống tiêu nước cũ nát năng lực chỉ đạt 60-65% so với yêu cầu.

+ Các trụ dẫn sông, hẹp ách tắc do bồi lấp xâm phạm, lấn chiếm và bị cản trở bởi bèo muống trên 90% các sông của Thái Bình chỉ đáp ứng được 40-60% so với nhiệm vụ tưới tiêu.

+ Trạm bơm tưới quá manh mín phân tán, nhiều trạm vẫn sử dụng máy bơm ly tâm trục ngang đã lắp đặt cách đây 20-30 năm. Trạm bơm tiêu nước qua đê xây dựng từ những năm 70-80 của thế kỷ trước, phần xây đúc hư hỏng nặng. Và chỉ thiết kế bơm khi nước sông dưới báo động 3. Máy bơm cũ, lạc hậu về công nghệ, hiệu suất bơm thấp, tiêu thụ điện năng lớn.

 Đề phòng úng hoặc thiên tai, Thái Bình đã thực hiện các biện pháp:

-          Chống hạn: khơi thông dòng chảy để tận dụng khả năng trữ nước, tưới luân phiên, tiết kiệm nước, hạn chế thay nước, huy động mọi khả năng bơm tát khi có nguồn.

 Những vùng quá khó khăn chuyển sang trồng màu, trồng cây dài ngày v.v…

-          Chống úng: triệt để lợi dụng triều tiêu tự chảy kết hợp với mở cống, giải phòng dòng chảy. Những vùng úng trũng năng suất lúa thấp chuyển sang nuôi trồng thủy sản hoặc một vụ lúa một vụ cá.

-          Tất cả các trạm bơm tiêu qua đê bơm hết công suất, bơm kết hợp với phân vùng, quây vùng kết hợp động lực lớn tiêu bớt nước, các phương tiện tiêu tát nhỏ, thủ công của từng nhóm, từng hộ tiêu nước để tiếp cứu lúa.

-          Chống lũ bão: đã gần 10 năm lũ bão không diễn ra ác liệt đối với Thái Bình. Nhưng nếu lũ bão tổng hợp hoặc bão trên cấp 9 kết hợp triều dâng thì vỡ đê có thể xảy ra vì nhiều đoạn đê sông của Thái Bình nằm trên nền yếu mềm, một sóo chưa có cây chắn sóng v.v... đê biển còn thấp hơn cao trình chống bão cấp 9 không có triều dâng. Biện pháp nâng cấp đê, trồng cây chắn sóng cứng hóa mặt đê để chống nước tràn v.v... cần được áp dụng.

 Các vấn đề liên quan đến nhu cầu nước

 Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, từ một tỉnh nông nghiệp Thái Bình đang phát triển công nghiệp, dịch vụ, cơ sở hạ tầng đô thị với tốc độ cao. Đồng thời thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, phát triển nuôi trồng thủy sản trong đồng và vùng bãi triều. hệ thống thủy lợi từ cấp nước cho sản xuất nông nghiệp là chính, nay phải cung cấp cho nhiều nhu cầu khác nhau như: nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản và nước sinh họat v.v... Đồng thời với tăng trường kinh tế là tăng thêm các nhân tố gây ô nhiễm, cạn kiệt nguồn nước, phá với cân bằng sinh thái nước. vấn đề liên quan đến nhu cầu nước là gìn giữ môi trường sinh thái nước bền vững và cung cấp nước có chất lượng cho sản xuất và đời sống. Thái Bình có đặc thù thuộc vùng ven biển. khi nước ô nhiễm từ sông ra biển sẽ làm hủy hoại trực tiếp vùng bãi triều rộng lớn và nhiều  tiềm năng. Đây là vấn đề khó giải quyết và phải được cân nhắc và tính toán kỹ.

 Tình hình ô nhiễm chất lượng nước ở Thái Bình.

      -          Do các yếu tố tự nhiên: do triều cường xâm nhập sâu nội đồng gây nhiễm mặn nguồn nước (đặc biệt vùng hạ được sông thuộc thái thụy, tiền hải trong vụ Đông Xuân).

-          Các lý do nhân tạo: dư lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật dùng trong nông nghiệp, nước thải không qua xử lý từ khu công nghiệp, từ đô thị, từ các làng nghề đã làm nhiều nguồn nước ô nhiễm nặng: sông Kỳ bá, Bồ Xuyên, Pari thuộc thành phố Thái Bình được ví như sông Tô Lịch của Hà Nội, Xã Nam Cao, Xã Thái Phương v.v... Ô nhiễm nguồn nước ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống gây hậu quả xấu khó lường. Hàng ngàn ha lúa thuộc 2 huyện ven biển trong vụ Xuân 2004 đã giảm năng suất do bị mặn và theo đó nhiều năm rửa mặn đất mới có thể ngọt hóa trở lại.

 Nhiều lần nước tiêu từ Trà Linh, Từ Lân đã gây hại cho thủy sản của các vùng lân cận vì nguồn nước từ các cống này đã bị ô nhiễm.

 Công tác thủy lợi phục vụ chuyển đổi cơ cấu sản xuất cây trồng vật nuôi.

 Tỉnh có chủ trường chuyển 15% đất trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng cây con đạt hiệu quả cao và xây dựng cánh đồng thu nhập cao 50 triệu và trên 50 triệu đồng/ha với 40% diện tích canh tác vào năm 2010.

 Diện tích đã chuyển đổi gần 3000 ha. Nhưng chưa có một quy hoạch thủy lợi nào cho vùng chuyển đổi chỉ có một số công trình đơn chiếc được xây dựng mang tính cục bộ tự phát. Mặc dù tỉnh ủy, UBND tỉnh có chủ trương quy hoạch lại cơ sở hạ tầng cho vùng chuyển đổi và vùng cánh đồng cao sản cánh đồng 50 triệu, song thực tế chưa thực hiện được vì chỉ đạo chưa sát sao, kinh phí đầu tư vì chưa nhận thấy vai trò quan trọng của thủy lợi trong sản xuất, trong chuyển đổi cơ cấu v.v...

 Để có hệ thống thủy lợi phục vụ cho chính sách chuyển đổi cần phải xây dựng quy hoạch và bố trí vốn đầu tư nhằm bổ xung nâng cấp cải tạo hệ thống thủy lợi cũ, từ phục vụ lúa là chính sang phục vụ cây trồng, vật nuôi đa dạng.

 Phương hướng đầu tư nâng cấp công trình của Thái Bình

 Phương hướng đầu tư nâng cấp công trình của Thái Bình tập trung vào các vấn đề thực chất sau:

 + Phòng chống lũ bão: củng cố nâng cấp đê biển để có sức chống đỡ an toàn hơn, kết hợp với cứng hóa mặt đê, củng cố kè với rừng cây chắn sóng để tăng độ bền vững của đê chống đỡ được lũ bão, triều cường có cường suất lớn.

 + Chống úng: tăng cường khả năng tiêu úng tự chảy bằng biện pháp nạo vét sông dẫn từ trục đến mặt ruộng đặc biệt là hệ thống thủy nông. Xây lại và mở rộng cống tiêu từ đầu mối đủ năng lực tiêu nước: Trà Linh, Hoàng Môn, Cống Khổng, Thiên Kiều v.v...

 Nâng cấp những trạm bơm tiêu qua đê đã cũ nát xuống cấp: Tịnh Xuyên, Hậu Thượng, Nguyên Tiến Đoài, Đông Tây Sơn, Đại Nẵm và xây mới trạm bơm Quỳnh Hoa.

 + Tưới nước: bảo đảm đủ nước tưới cho các vùng, các lưu vực xây mới cống Tân Đệ, mở rộng cống Tịnh Xuyên, Đại Nẵm, Dục Dương, Cự Lâm Cũ. Cải tạo một số cống hạ được để tăng cường cấp tự chảy vào vụ mùa: cống Cá, cống Hệ, cống Khổng v.v...

 + Khai thác tổng hợp:

      -          Quy hoạch nguồn nước cấp cho nuôi trồng thủy sản ngọt trên 6000 ha và vùng bãi triều trên 5000ha. Đồng thời hạn chế nguồn nước xả thải ảnh hưởng đến vùng bãi triều ven biển và vùng đất ngập nước đặc hữu.

-          Quy hoạch nguồn nước phục vụ công nghiệp, làng nghề, nước sinh hoạt và nước sách.

 + Môi trường nước: phải có quy hoạch xử lý nước thải từ khu công nghiệp, đô thị để đảm bảo không ô nhiễm nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững nước cho nội đồng và vùng ven biển.

 Giải quyết những vấn đề bức xúc trên trong năm 2005 sở nông nghiệp và PTNT đã làm một số công việc sau:

      -          Xây dựng 5 bộ định mức kinh tế kỹ thuật dùng trong QLKTCTTL.

-          Thực hiện cơ bản việc sát nhập các công ty theo Quyết định 155/2004/QĐ-TTg.

-          Về quy hoạch: kết hợp với Viện Quy Hoạch Thủy Lợi thực hiện rà soát quy hoạch lưu vực sông Hồng – sông Hóa.

-          Điều tra thu thập về hệ thống thỷ nông nội đồng phạm vi toàn tỉnh.

-          Về công trình: củng cố một số tuyến đê, kè do con bão số 6,7 gây ra, nguồn ngân sách tỉnh tập trung nạo vét sa bồi các cống để bảo đảm đủ nước vụ Xuân.

-          Triển khai trình duyệt dự án nâng cấp các tuyến đê biển số 5,6,7,8.

-          Triển khai các bước đệ trình duyệt dự án xây lại cống Trà Linh I và cống Tân đệ

 Với vốn đầu tư của tỉnh và 240.000 ngày công ích, các huyện đã huy động hàng ngàn ngày công nạo vét củng cố kênh, mương, đường vùng và để phòng chống hạn vụ Đông – Xuân 2004-2005.

 Nguồn đầu tư so với yêu cầu là quá nhỏ, không đủ để bảo đảm công trình không xuống cấp và giảm năng lực phục vụ nhưng đã khơi dậy mặt tiềm năng cả cộng đồng quan tâm đến công tác thủy lợi.

 

Đinh Quang Định

Phó giám đốc SỞ NÔNG NGHIỆP & PTNT THÁI BÌNH

 

 

 
CÁC TIN KHÁC
  KẾT QUẢ CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2005
  CÔNG TÁC THỦY LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG NĂM 2005 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG
  CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG LƯU VỰC SÔNG CẦU
  TÌNH HÌNH THIÊN TAI NĂM 2005 VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC CỦA TỈNH QUẢNG NINH
  ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ TRONG NĂM 2005

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn