I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC THỦY LỢI; TÌNH HÌNH THIÊN TAI VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC CỦA ĐỊA PHƯƠNG NĂM 2005 Ở TỈNH YÊN BÁI
 

 

 

I. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC THỦY LỢI NĂM 2005 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH YÊN BÁI

            Yên Bái là một tỉnh miền núi có diện tích đất nông nghiệp là 70.445 ha (chiếm 10,2% diện tích đất tự nhiên), trong đó diện tích đất trồng lúa là 19.300 ha. Trong những năm qua, được sự quan tâm của các cấp từ Trung ương đến địa phương và sự đóng góp của nhân dân các dân tộc trong toàn tỉnh, tổng số có 887 công trình thủy lợi trong đó có 193 công trình do Nhà nước đầu tư. Trong tổng số các công trình nói trên có 313 công trình đầu mối kiên cố còn 574 công trình là đầu mối tạm và với tổng chiều dài kênh chính 1.670 km mới kiên cố hóa được 73 km còn 1.597 km mương đất chưa được kiên cố hóa. Kênh nhánh nội đồng 2.100 km, hiện nay đã kiên cố được 750 km, còn 1.350 km chưa được kiên cố.

Năm 2005 là năm bị thiệt hại nặng nề nhất do bão lũ gây ra, hàng trăm công trình bị phá hỏng, có những huyện các công trình thủy lợi gần như bị phá hỏng hoàn toàn. Với sự giúp đỡ của Trung ương và các tổ chức trong và ngoài nước, sự nỗ lực của địa phương trên toàn tỉnh đã đầu tư sửa chữa được 111 công trình thủy lợi, với tổng số vốn đầu tư 25,6 tỉ đồng. Đến nay các công trình thủy lợi trên đã được xây dựng cơ bản hoàn thành, dự kiến quý I năm 2006 sẽ bàn giao toàn bộ cho đơn vị quản lý. Tổng số diện tích được tưới bằng các công trình thủy lợi là 14.500 ha, trong đó diện tích tưới chắc là 12.232 ha đạt 86% năng lực thiết kế. Về lương thực, tổng sản lượng quy ra thóc năm 2005 đạt 215 ngàn tấn, trong đó sản lượng thóc đạt trên 160.000 tấn, năng suất lúa đạt 89 tạ/ha.

II. TÌNH HÌNH THIÊN TAI VÀ CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC CỦA ĐỊA PHƯƠNG NĂM 2005

-          Lưu vực sông Hồng có 48 ngòi, tổng diện tích lưu vực là 2.700 km2, gồm:

            + Ngòi Thia: lón nhất trong tỉnh Yên Bái, bắt nguồn từ dãy núi Púng Luông thuộc huyện Trạm Tấu, chảy qua huyện Văn Chấn đổ vào hữu ngạn sông Hồng tại xã Yên Hợp (huyện Văn Yên) với chiều dài 95 km, lưu vực là 1.570km2.

            + Ngòi Hút bắt nguồn từ cuối dãy Hoàng Liên Sơn thuộc huyện Mù Cang Chải chảy qua Văn Chấn đổ vào bờ hữu sông Hồng tại Đông An (Văn Yên) với diện tích lưu vực là 632 km2.

            + Ngòi Lâu bắt nguồn từ cuối dãy Hoàng Liên Sơn thuộc huyện Trấn Yên đổ vào bờ hữu sông Hồng tại Âu Lâu (Trấn Yên) có lưu vực là 250 km2.

            + Ngòi Lao bắt nguồn từ Văn Chấn chảy sang Phú Thọ ở xã Bình Thuận (Văn Chấn) có diện tích lưu vực là 250 km2.

            Năm 2005 do ảnh hưởng của hoàn lưu 2 cơn bão số 6 và 7, các trận lũ quét xảy ra đều năm trong lưu vực sông Hồng, gây hậu quả rất nặng nề.

1. Sơ lược diễn biến bão, lũ tại tỉnh Yên Bái năm 2005

Mùa mưa năm 2005 tại tỉnh Yên Bái có 4 trận mưa to đến rất to, đặc biệt từ tháng  đến tháng 9 có 3 trận mưa liên tiếp, gây tổn thất lớn về người và tài sản:

-          Trận mưa đêm 11/7/2005 do ảnh hưởng nhiễu động thời tiết gây mưa to ở các huyện phía đông, đặc biệt là thành phố Yên Bái bị ngập lụt, lũ quét gây tổn thất nặng nề về người, tải sản, nhà cửa của nhân dân.

-          Trận mưa từ ngày 17 đến 19 tháng 9 do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 6 gây mưa rất to ở hầu hết các vùng trong tỉnh gây thiệt hại về người, tài sản, nhà cửa của nhân dân

-          Đặc biệt là trận mưa tối ngày 27 đến ngày 28 tháng 9 năm 2005, do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 7 gây mưa rất to nhiều giờ liền ở các huyện phía tây của tỉnh. Do mưa to, cường độ mạnh gây lũ quét rất lớn ở tại tất cả các suối, khe của các huyện: Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải và thị xã Nghĩa Lộ, thành phố Yên Bái và các huyện ven sông Hồng cũng bị ảnh hưởng và thiệt hại do nước lũ sông Hồng lên cao trên báo động số 3.

Đây là những trận lũ quét lớn nhất trong khoảng thời gian trên 60 năm trở lại đây ở tỉnh Yên Bái, gây thiệt hại thảm khốc nhất và chưa từng thấy.

2. Tình hình thiệt hại

a/ Về người:

-          Tổng số người chết và mất tích là 76 người, trong đó: do lũ quét 32 người; do sạt lở đất 36 người; do chết đuối 8 người, gồm: huyện Văn Chấn 43 người; huyện Trạm Tấu 15 người; huyện Mù Cang Chải 5 người; thị xã Nghĩa Lộ 1 người; huyện Lục Yên 4 người; thành phố Yên Bái 7 người; huyện Yên Bình 1 người. Đến nay vẫn còn 6 người chưa tìm thấy xác ở huyện Văn Chấn (xã Cát Thịnh 4 người, xã Bình Thuận 2 người).

-          Số người bị thương là 15 người do cứu vớt được.

b/ Về nhà ở:

-          Nhà ở bị đổ hoàn toàn lũ cuốn trôi mất: 435 nhà, chủ yếu là ở huyện Văn Chấn

-          Nhà bị hư hỏng nặng: 1875 cái, chủ yếu ở Văn Chấn và thành phố Yên Bái

-          Nhà ở chỉ bị hư hỏng nhưng tài sản bị cuốn trôi hết là 196 nhà ở huyện Văn Chấn

-          Số nhà phải di dời ngay là 150 nhà

c/ Về giao thông:

-          Khối lượng đất sụt ta luy dương là 133.000 m3, sụt ta luy âm + hỏng kè tại 49 vị trí với chiều dài 800m; hỏng 6 cầu bê tong, 3 ngầm, trôi một cống và hỏng 25 cái, trôi mất 1.200 m hộ lan mềm, trôi và hỏng 34 cầu treo. Ngoài ra trên tuyến quốc lộ 32 tại thị trấn huyện Mù Cang Chải xuất hiện cung trượt khối lượng khoảng 600.000 m3.

-          Đường quốc lộ 32 từ ngã ba xã Cát Thịnh đi thị xã Nghĩa Lộ, Mù Cang Chải bị sập đường, gây tắc nghẽn giao thông 15 đoạn, đầu Cầu Thia đến thị xã Nghĩa Lộ bị vỡ dài trên 30m, sau nhiều ngày mới thông xe ô tô.

-          Các tuyến đường trong tỉnh như: Nghĩa Lộ đi huyện Trạm Tấu, thành phố Yên Bái đi Khe Sang, An Bình đi Lâm Giang cũng bị ngập lụt, sạt đát nhiều đoạn, phải một số ngày sau mới thông xe ô tô đi lại được.

d/ Về công trình thủy lợi:

-          Hư hỏng nặng 4 công trình thủy lợi vừa và lớn, chủ yếu ở huyện Trạm Tấu, huyện Văn Chấn và thị xã Nghĩa Lộ. Vỡ 3.000 m mương thủy lợi, hỏng năng hàng trăm phai đập nhỏ, diện tích ruộng, màu bị ảnh hưởng nước tưới trên 3.000 ha.

-          Hỏng nặng 17 công trình cấp nước sinh hoạt, chủ yếu ở huyện Trạm Tấu, Văn Chấn.

e/ Sản xuất nông nghiệp:

-          Lúa mùa bị ngập úng + lũ quét 2.607 ha, trong đó thiệt hại về năng suất 1.200 ha, đất ruộng + màu không có khả năng khôi phục sản xuất trên 400 ha.

-          Rau màu các loại bị ngập úng + lũ quét là 1.055 ha, trong đó mất trắng 996 ha.

-          Ngoài ra còn nhiều tài sản, gia súc, gia cầm của dân bị cuốn trôi không thống kê đầy đủ.

f/ Điện lực và bưu điện:

-          Đổ gãy 184 cột bê tông của ngành bưu điện, đứt 5.050 m cáp quang, 17.700 m cáp đồng, 1 bể cáp ngầm, 38 tủ hộp cáp và nhiều loại vật tư khác của ngành bưu điện.

-          Đổ gãy 9 cột điện cao thế, 320 cột điện hạ thế, đứt hỏng 14.200m dây điện và hỏng một trạm biến áp.

3. Những khó khăn trong quá trình khắc phục hậu quả

a/ Đánh giá mức độ ảnh hưởng

Mức độ thiệt hại do bão, lũ quét gây ra tại tỉnh Yên Bái, đặc biệt là các huyện, thị phía Tây của tỉnh về người, về của, về sản xuất nông, lâm nghiệp về xã hội là rất nặng nề. Cơ sở hạ tầng nông thôn, nông nghiệp sau nhiều năm được nhà nước đầu tư thông qua dự án thủy lợi, dự án 135, dự án giảm nghèo, hội Bánh mì thế giới… và đầu tư công sức, tiền bạc của nhân dân hầu hết bị phá hủy hoặc hỏng nặng, đặc biệt là các công trình thủy lợi.

Tại huyện Văn Chấn có 11 công trình thủy lợi loại vừa bị hư hỏng nặng, trong đó có công trình bị xóa sổ như: thủy lợi Thác Hoa.

Tại huyện Trạm Tấu có 15 công trình thủy lợi loại nhỏ bị phá vỡ hoàn toàn.

Tại thị xã Nghĩa Lộ có 5 công trình thủy lợi loại vừa bị hư hỏng nặng.

Tại huyện Mù Cang Chải có 4 công trình thủy lợi loại nhỏ và vừa bị hỏng nặng, trong đó có công trình bị xoá sổ như thủy lợi Làng Sang.

Tổng thiệt hại khoảng 300 tỉ đồng do các cơn bão gây ra, trong đó riêng trận lũ quét đêm 27 tháng 9 ước thiệt hại 172 tỉ đồng, gồm: giao thông 80 tỉ, thủy lợi 45 tỉ, điện lực, bưu điện 10 tỉ, tài sản của dân 25 tỉ, nông nghiệp 12 tỉ đồng.

Sự thiệt hại về vật chất, đặc biệt là cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn của tỉnh Yên Bái là quá lớn, nếu không được đầu tư xây dựng lại và sửa chữa kịp thời thì rất khó khăn cho phát triển kinh tế - xã hội của các huyện thị phía tây của tỉnh Yên Bái và một số vùng của các huyện khác trong tỉnh.

b/ Những khó khăn trong quá trình khắc phục:

Khi xảy ra lũ quét diện rộng, đặc biệt là trận lũ quét tối ngày 29 tháng 9 năm 2005 gây thiệt hại quá nặng nề, nhất là số người bị chết khá nhiều, tỉnh Yên Bái đã tập trung cao độ sự lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện việc giải quyết hậu quả. Tỉnh Yên Bái cũng đã được sự quan tâm về tinh thần, về vật chất của Trung ương, của các tỉnh, của các tổ chức chính trị, xã hội trong và ngoài nước.

Chính phủ đã cấp hỗ trợ tỉnh Yên Bái 20 tỉ đồng và 120 tấn gạo, các tỉnh, đơn vị tổ chức tập thể, cá nhân đã ủng hộ Yên Bái được giá trị khoảng 6 tỉ đồng.

Toàn bộ kinh phí và vật chất tỉnh đã có chủ trương, chính sách rõ ràng để hỗ trợ cụ thể đến từng hộ dân bị thiệt hại. Đầu tư kinh phí để hỗ trợ dân sản xuất vụ đông, cải tạo đồng ruộng, đồng thời đã bố trí 6 tỉ đồng để sửa chữa cấp tốc các công trình thủy lợi có khả năng khắc phục được nhằm có nguồn nước tưới phục vụ cho vụ xuân tới và sửa chữa tạm một số cầu treo ở nông thôn để dân đi lại. Nói chung toàn bộ thiệt hại về cơ sở hạ tầng là rất lớn, các công trình bị hư hỏng nặng không thể sửa chữa nổi vì không có kinh phí khắc phục.

Ở các huyện, thị, thành phố, các xã đã tổ chức lao động, đóng góp tiền của, công sức để khắc phục hậu quả tại chỗ, chủ yếu là xây dựng lại nhà ở cho dân và hỗ trợ lương thực, hỗ trợ vật tư sản xuất.

Lực lượng quân đội và công an từ Trung ương đến địa phương cũng đã tham gia tích cực giải quyết hậu quả từ đầu, hiện nay vẫn đang tham gia xây dựng lại nhà ở cho dân…

Sự hỗ trợ của Trung ương, của các tổ chức và cá nhân, của tỉnh đầu tư bước đầu khắc phục hậu quả lũ bão, lũ quét là tích cực và tập trung. Song do thiệt hại cơ sở vật chất quá lớn nên ước cũng chỉ đáp ứng được khoảng 20-25% về cơ sở hạ tầng nông thôn.

Yên Bái là tỉnh miền núi nghèo, ngân sách chi chủ yếu là Trung ương cấp, đặc biệt về xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn. Các huyện, thị phía tây nơi bị  lũ quét lại là nghèo nhất của tỉnh, cụ thể tỉ lệ hộ nghèo của huyện Trạm Tấu là 71%, huyện Mù Cang Chải 76%, huyện Văn Chấn 42%, thị xã Nghĩa Lộ 32% (thời điểm tháng 4 năm 2005).

Do đó tuy có cố huy động sức dân thì cũng không đáng kể, nên rất cần sự đầu tư khẩn cấp của nhà nước, đặc biệt là việc khôi phục các công trình thuộc cơ sở hạ tầng nông thôn mà tập trung là các công trình thủy lợi và giao thông nông thôn.

4. Những giải pháp khắc phục hậu quả

a/ Giải pháp huy động nguồn lực trước mắt

-          Trong tỉnh: chủ yếu là tổ chức tìm kiếm người chết, người mất tích, trợ cấp vật chất cho các gia đình nạn nhân, ổn định cuộc sống cho nhân dân, trước mắt như làm nhà, sản xuất vụ đông…, đồng thời đầu tư kinh phí, công lao động tu sửa mương phai, đường giao thông và các công trình hạ tầng nông thôn khác.

Tuy nhiên, do tỉnh nghèo, ngân sách khó khăn nên đầu tư kinh phí khắc phục hậu quả ở mức thấp.

-          Ngoài tỉnh: ngoài phần được Trung ương hỗ trợ là 120 tấn gạo, 20 tỉ đồng và sự ủng hộ của đồng bào cả nước khoảng 6 tỉ đồng, hiện nay tỉnh đang tiếp tục xây dựng các dự án đề nghị Nhà nước và nước ngoài quan tâm đầu tư khắc phục hậu quả lũ quét.

-          Đóng góp của người dân: đã huy động tích cực, song chủ yếu là giúp đỡ làm nhà ở, khắc phục sản xuất vụ đông, việc đầu tư kinh phí để làm lại và sửa chữa các công trình xây dựng cơ bản chưa được thực hiện.

b/ Giải pháp khôi phục dài hạn

-          Giải pháp về kỹ thuật:

+ Quy hoạch và từng bước di dân ra khỏi vùng nguy hiểm sạt đất, lũ quét

+ Tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân đề phòng lũ lụt, lũ quét

+ Trang bị các hệ thống thông tin cần thiết như bộ đàm, cốc đo nước mưa, trống, kẻng báo động…

+ Trồng rừng và bảo vệ rừng đầu nguồn

+ Bố trí các phương tiện đảm bảo giao thông trong mùa mưa lũ

-          Giải pháp về kinh tế:

+ Đầu tư các dự án khẩn cấp để sửa chữa các công trình thủy lợi, giao thông… kịp thời phục vụ sản xuất ổn định kinh tế - xã hội

+ Kêu gọi nguồn lực huy động từ Trung ương, đặc biệt là nguồn vốn ODA của các tổ chức quốc tế.

III. MỘT SỐ KIẾN NGH

Yên Bái là tỉnh miền  núi nghèo, cơ sở hạ tầng thấp kém, địa hình phức tại, chịu ảnh hưởng của thiên tai rất lớn, đặc biệt là cơn bão số 6+7 đã gây ra hậu quả rất nặng nề về cơ sở hạ tầng nông thôn. Để sớm khắc phục cần có sự quan tâm đầu tư của Nhà nước và các cấp, các ngành.

Tổng vốn để khắc phục hậu quả lũ lụt phải vài trăm tỉ đồng mới có thể hoàn chỉnh được như trước đây đã xây dựng đến năm 2004.

Để tạo điều kiện ổn định cuộc sống của những địa phương bị ảnh hưởng do lũ quét gây ra, Sở NNPTNT Yên Bái đề nghị Ban QLQHLV sông Hồng:

-          Báo cáo với Chính phủ, các Bộ: Nông nghiệp và PTNT, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, và các Bộ, ngành liên quan quan tâm giúp đỡ bằng các nguồn vốn để đầu tư xây dựng lại cơ sở hạ tầng góp phần phát triển kinh tế, ổn định an ninh - quốc phòng trên địa bàn toàn tỉnh;

-          Giúp địa phương quy hoạch và lắp đặt các thiết bị cảnh báo sớm về hiện tượng lũ quét xảy ra trên lưu vực sông Hồng.

 

 

 
CÁC TIN KHÁC
  CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH TRONG NĂM 2005
  KẾT QUẢ CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2005
  CÔNG TÁC THỦY LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG NĂM 2005 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG
  CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG LƯU VỰC SÔNG CẦU
  TÌNH HÌNH THIÊN TAI NĂM 2005 VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC CỦA TỈNH QUẢNG NINH

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn