I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
MỘT VÀI HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN TRONG LƯU VỰC SÔNG HỒNG – THÁI BÌNH NĂM 2005
 

1. Một số diễn biến điều kiện tự nhiên năm 2005 về mặt tài nguyên và môi trường

1.1   Tình hình khí tượng – thời tiết

- Từ tháng 1 đến hết tháng 4 - 2005, có 14 đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến nước ta. Đợt rét đậm, rét hại đầu tiên trong đông xuân 2004 - 2005 kéo dài hơn 20 ngày, bắt đầu từ 31-12-2004. Nhiệt độ thấp nhất trong năm tại Sa Pa là - 0,7oC, ngày 2/1/2005.

- Từ tháng 4 đến tháng 8, xuất hiện 10 đợt nắng, nóng trên diện rộng, điển hình là 2 đợt nắng nóng từ 29/4 đến 6/5 và từ 10/5 đến 20/5. Nhiệt độ cao nhất phổ biến từ 36 – 39 0C.

- Trong 6 tháng đầu năm đồng thời xảy ra khô hạn và thiếu nước trên diện rộng, nhiều hồ chứa bị cạn kiệt, nhiều nơi nguy cơ cháy rừng ở mức cao. Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình đã phải vận hành dưới mực nước chết đến 14 ngày – lâu nhất kể từ khi đi vào vận hành đến nay.

- Ngày 31/7, bão số 2 đổ bộ vào địa phận tỉnh Thái Bình, Nam Định và ảnh hưởng trực tiếp đến các tỉnh phía đông Bắc Bộ, gây gió mạnh cấp 9, giật cấp 10 – 11 ở vịnh Bắc Bộ và vùng ven biển Hải Phòng đến Nam Định, làm sạt lở khoảng 200 m đê biển tại Cát Hải (Hải Phòng), nước biển tràn vào một số đầm nuôi tôm ở Thái Bình, gây sạt lở mái nghiêm trọng tại nhiều đoạn trên tuyến đê biển ở Nghĩa Hưng (Nam Định) ... . Tiếp theo, cơn bão số 7, đổ bộ vào Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ vào cuối tháng 9 – 2005, cũng gây ra nhiều thiệt hại nặng nề cho các tỉnh vùng ven biển.

1.2 Tình hình thuỷ văn: Lượng dòng chảy trên các sông đều nhỏ hơn trung bình nhiều năm cùng thời kỳ từ 20 – 30 %, có nơi từ 40 – 50 %.

Hầu hết các sông thuộc hệ thống sông Hông – Thái Bình không xuất hiện lũ tiểu mãn. Mực nước tại Hà Nội ngày 8/3/2005 xuống đến 1,58m, xấp xỉ mức thấp nhất kỷ lục xảy ra vào 27/3/1956. Nếu không có sự bổ sung nước từ hồ Hoà Bình phục vụ chống hạn, mực nước có thể xuống thấp hơn.

Nhìn chung, lũ trên sông Hồng – Thái Bình đều thuộc loại nhỏ hơn so với trung bình nhiều năm. Mực nước cao nhất tại Hà Nội là 9,52m ngày 14/8. Tuy nhiên, đã xuất hiện lũ quét tại một số nơi như Sơn La, Yên Bái, Lào Cai gây thiệt hại nặng nề.

1.3 Một số hoạt động kinh tế – xã hội.

- Ngày 2/12, sau một thời gian dài tiến hành các công tác chuẩn bị, công trình thuỷ điện Sơn La, công trình lớn nhất cả nước đã được khởi công xây dựng bắt đầu cho việc thực hiện mục tiêu phát điện, phòng lũ và cải thiện điều kiện cấp nước cho hạ du.

- Tình trạng khai thác cát tự phát diễn ra ở nhiều nơi. Ở Hải Dương, nhu cầu san lấp mặt bằng để phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị mới, đòi hỏi từ 3,5 đến 4 triệu m3 cát. Phần lớn số lượng cát này được khai thác tự do từ sông Thái Bình và sông Kinh Thày. Tình trạng khai thác cát trái phép cũng diễn ra ở dọc tuyến sông Cầu, gây ra sạt lở bờ vào sát chân đê ở khu vực xã Việt Thống, huyện Quế Võ. Trên sông Đuống, khu vực gần cầu Phù Đổng, hàng ngày hàng trăm m3 cát cũng được lấy từ lòng sông.

- Tình trạng ô nhiễm do hoạt động của các làng nghề ở Bắc Ninh, Hà Tây, Bắc Giang ..., các nhà máy, đặc biệt là các nhà máy hoá chất tiếp tục gây ra những ảnh hưởng xấu đến môi trường, mà điển hình như ở Thạch Sơn – Phú Thọ.

Tại Hà Nội, nồng độ bụi lơ lửng ở một số nơi như Văn Điển, Pháp Vân và Mai Động vượt mức cho phép từ 2,5 – 4,5 lần. Chất lượng môi trường không khí biểu hiện sự thoái hoá rõ rệt, đáng chú ý là nồng độ CO2 gia tăng rõ rệt do hoạt động xây dựng và giao thông đô thị gia tăng mạnh với hơn 100.000 xe ô tô các loại và khoảng 1,3 triệu xe máy tham gia giao thông.

Tổng lượng nước thải sinh hoạt khu vực nội thành Hà Nội khoảng 500.000 m3/ngày đêm, trong đó khoảng 100.000 m3 /ngày đêm là nước thải từ các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và bệnh viện. Toàn bộ lượng nước thải này hầu như không được xử lý, đều được đổ vào 4 con sông tiêu chính của thành phố là Tô Lịch, Lừ, Sét, Kim Ngưu.

Nước ngầm ở Hà Nội được khai thác theo 2 quy mô chính. Đó là khai thác tập trung, quy mô lớn do công ty kinh doanh nước sạch Hà Nội đảm nhiệm với công suất từ 400.000 đến 450.000m3/ngày đêm và quy mô nhỏ, phân tán do các nhà máy, xí nghiệp và các hộ dân tự khai thác. Tổng lượng nước ngầm khai thác hàng ngày có thể đến 650.000 – 700.000 m3/ngày đêm, tức là đã gần đến giới hạn khai thác an toàn của nước ngầm.

Chất thải công nghiệp, đặc biệt là chất thải nguy hại cũng là một vấn đề lớn. Lượng chất thải rắn hàng ngày tại khu vực nội thành Hà Nội là 2.300 tấn/ngày. Lượng chất thải công nghiệp gia tăng hàng năm là 5%, trong đó khoảng 38% là chất thải nguy hại, có thể gây ra áp lực lớn đối với chất lượng nước mặt và nước ngầm.

Thành phố Nam Định mỗi ngày thải hơn 60.000 m3, trong đó 58% là nước thải sinh hoạt, 1,8% nước thải bệnh viện, còn lại là nước thải công nghiệp. Nước thải một phần đổ vào các hồ như hồ Vị Xuyên, Truyền Thống, hồ Xăng Dầu, một phần theo hệ thống mương thoát nước ra sông Đào mà không qua xử lý. Điều này gây ảnh hưởng đến chất lượng nước sông Đào. Kết quả phân tích nước sông Đào cho thấy, nồng độ các chất ô nhiễm tăng lên ở phần trung lưu và giảm đi một phần ở hạ lưu.

2. Một số hoạt động quản lý của ngành tài nguyên và môi trường.

2.1 Với chức năng quản lý ngành, các hoạt động quan trắc và điều tra trên hệ thống lưới trạm khí tượng thuỷ văn trên toàn lưu vực sông được liên tục thực hiện, bảo đảm theo dõi sự biến động của các yếu tố khí tượng thuỷ văn trên toàn lưu vực, đồng thời cung cấp số liệu phục vụ cho công tác dự báo, đáp ứng yêu cầu của công tác phòng tránh và giảm nhẹ thiệt hại do lũ, bão, khô hạn, bảo vệ môi trường.

Việc cung cấp những thông tin dự báo khá chính xác đường đi và diễn biến của các trận bão, đặc biệt bão số 2 và số 7, góp phần đáng kể giảm bớt thiệt hại do bão gây ra ở các tỉnh ven biển đồng bằng Bắc Bộ.

2.2 Sửa đổi quy chế báo bão, lũ ban hành ngày 25/7/1997 cho phù hợp với tình hình mới. Bản quy chế báo áp thấp nhiệt đới, bão, lũ đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 25/11/2005.

2.3 Ngày 11/6/2005, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản. Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) cũng đã được thông qua và có hiệu lực thi hành từ 1/7/2006 với một số điều khoản tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động bảo vệ môi trường nước. Hiện đang hoàn chỉnh quy hoạch mạng lưới điều tra cơ bản tài nguyên và môi trường nhằm củng cố hệ thống các trạm quan trắc những yếu tố cơ bản về điều kiện tự nhiên và môi trường như khí tượng, thuỷ văn, chất lượng nước, không khí ... .

Đã ban hành Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước. Đang hoàn thiện và trình duyệt hướng dần thi hành Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản; về quy chế thu thập, quản lý, khai thác, sử dụng dữ liệu thông tin về tài nguyên nước. Đồng thời cũng đang khẩn trương hoàn chỉnh Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước. Xây dựng đề cương Quy hoạch lưu vực sông Cầu.

2.4 Tiến hành thẩm định một số báo cáo đánh giá tác động môi trường như việc xây dựng nhà máy nước – lấy nước sông Đà sau công trình thuỷ điện Hoà Bình, phục vụ cấp nước cho Hà Nội. Các công trình thuỷ điện Huội Quảng, Bản Chát trên sông Nậm Mu, công trình cầu Vĩnh Tuy và Nhật Tân trên sông Hồng. Đang triển khai việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường công trình thuỷ điện Sơn La.... Đây là những công trình có quy mô lớn, có thể gây ra những tác động lớn đến tài nguyên nước và hệ sinh thái nói chung trên lưu vực sông.

2.5 Đã tiến hành khảo sát một số cơ sở sản xuất gây ô nhiễm, đặc biệt cụm nhà máy hoá chất ở khu vực Thạch Sơn – Phú Thọ như Công ty Supe phốt phát và hoá chất Lâm Thao, Công ty pin Vĩnh Phú và nhà máy giấy Bãi Bằng.

Nhìn chung, trong năm 2005, công tác quản lý tài nguyên và môi trường trên phạm vi lưu vực sông Hồng – Thái Bình được tăng cường so với năm 2003 và 2004, chủ yếu trên phạm vi tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản và môi trường, trong đó công tác xây dựng các văn bản pháp luật phục vụ cho nhiệm vụ quản lý dành được sự quan tâm thích đáng. Công tác thanh tra, kiểm tra cũng được đẩy mạnh. Tuy nhiên, hiệu quả quản lý còn ở mức rất hạn chế. Những nguyên nhân cơ bản là:

- Một số văn bản hướng dẫn thực thi luật tài nguyên nước, luật khoáng sản, luật bảo vệ môi trường còn thiếu. Những văn bản (Nghị định, Thông tư) đã được ban hành nhưng chưa thực sự đi vào cuộc sống, một mặt do công tác phổ biến, tuyên truyền chưa rộng rãi, thường xuyên, mặt khác, bản thân người dân không thực sự quan tâm, ngay cả một số phạm vi liên quan trực tiếp đến quyền lợi hoặc đụng chạm đến quyền lợi.

- Tìm hiểu và làm theo luật pháp của cộng đồng chưa thực sự trở thành nếp sống, thói quen trong hoạt động thực tế. Không chỉ người dân mà cả cơ quan nhà nước vẫn cố tình vi phạm luật. Nhiều nơi người dân vẫn cho rằng nước là nguồn tự nhiên, có quyền sử dụng tự do không có ý thức bảo vệ.

- Lực lượng làm công tác còn rất mỏng, đặc biệt ở địa phương (tỉnh, huyện) không tương xứng với nội dung công việc và trách nhiệm được giao. Nhiều chức năng được phân cấp xuống tới địa phương. Nhiều sở tài nguyên và môi trường chưa có cán bộ phụ trách công tác bảo vệ tài nguyên nước, khí tượng thuỷ văn. Mặc dầu vậy, chưa có sự phối hợp chặt chẽ, giữa Trung ương và địa phương trong quá trình thực thi nhiệm vụ.

- Nhiều nội dung trong phạm vi quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường cũng là những nội dung trong phạm vi quản lý lưu vực sông. Tuy nhiên, đây là một hoạt động có tính chất đa ngành, liên quan đến các bộ như Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Xây dựng; Giao thông vận tải; Thuỷ sản .... Theo chức năng được phân công, các bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý chuyên ngành song sự phối hợp giữa các ngành chưa được phát huy đầy đủ, phần nào làm hạn chế hiệu lực quản lý. Các vần đề về lưu vực sông Cầu, sông Nhuệ – Sông Đáy chậm được giải quyết.

3. Một vài đề xuất

Để góp phần thúc đẩy hoạt động quản lý tổng hợp lưu vực sông Hông – Thái Bình, trước hết là quản lý tài nguyên nước, cần thiết chú ý tới các nhiệm vụ sau:

- Tiếp tục nghiên cứu hoàn chỉnh và ban hành các cơ chế chính sách về quản lý tổng hợp lưu vực sông nói chung cũng như lưu vực sông Hông – Thái Bình nói riêng.

- Tạo một cơ chế rõ ràng về đầu tư và xây dựng nguồn nhân lực.

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cộng đồng về trách nhiệm bảo vệ tài nguyên môi trường nói chung và tài nguyên nước nói riêng.

- Thiết lập một cơ chế phối hợp giữa các ngành liên quan từ trung ương đến địa phương trong công tác quản lý và khai thác tài nguyên trên lưu vực trên cơ sở xác định những nội dung ưu tiên trong từng giai đoạn phát triển 2006 – 2010 và 2015 – 2020./.

Ngô Trọng Thuận

      Vụ KTTV – Bộ TNMT

 
CÁC TIN KHÁC
  THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG QUY TRÌNH VẬN HÀNH LIÊN HỒ CHỨA TRÊN SÔNG ĐÀ, SÔNG LÔ PHỤC VỤ ĐA MỤC TIÊU, ĐẢM BẢO AN TOÀN VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
  KẾT QUẢ CÔNG TÁC THUỶ LỢI TỈNH SƠN LA NĂM 2005
  ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC THỦY LỢI; TÌNH HÌNH THIÊN TAI VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC CỦA ĐỊA PHƯƠNG NĂM 2005 Ở TỈNH YÊN BÁI
  CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH TRONG NĂM 2005
  KẾT QUẢ CÔNG TÁC THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2005

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn