I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
BÁO CÁO TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH 115/2008/ND-CP CỦA SỞ TÀI CHÍNH TỈNH NAM ĐỊNH
 

Để thực hiện theo Nghị định 115/2008/NĐ-CP ngày 14/11/2008 của Chính phủ, Sở Tài chính Nam Định đã phối hợp với Phòng Nông nghiệp và PTNT và UBND các huyện, xã hướng dẫn các đơn vị quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi tiến hành xác định diện tích, biện pháp tưới, tiêu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp. Trên cơ sở báo cáo của các đơn vị, Sở đã tiến hành thẩm định để báo cáo UBND tỉnh Nam Định ban hành Quyết định số 719/QĐ-UBND ngày 12/5/2011 về việc phê duyệt  diện tích  miễn thủy lợi phí, biện pháp tưới, tiêu nước và mức thu năm 2011 tỉnh Nam Định .

Căn cứ diện tích miễn thủy lợi phí tại Quyết định 719/QĐ-UBND ngày 12/5/2011 và số kinh phí theo Thông báo của Bộ tài chính, Sở Tài chính Nam Định phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT đã chủ trì xây dựng phương án phân bổ kinh phí cấp bù do miễn thu thuỷ lợi phí báo cáo UBND tỉnh Nam Định ban hành Quyết định số 767/QĐ-UBND ngày 20/5/2011 về việc bổ sung kinh phí thực hiện chính sách miễn thu thủy lợi phí năm 2011.

            Đối với chính sách miễn thuỷ lợi phí theo Nghị định 115/2008/NĐ-CP, Sở Tài chính Nam Định có một vài ý kiến sau:

Ưu điểm:

- Chính sách miễn thủy lợi phí theo Nghị định 115/2008/NĐ-CP đã giải quyết được một số hạn chế khi thực hiện Nghị định 154/2007/NĐ-CP như việc thực hiện miễn giảm cả hệ thống công trình thủy lợi được đầu tư bằng nguồn vốn ngoài ngân sách. Do đó đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ của đông đảo nông dân, góp phần làm giảm chi phí đầu vào của sản xuất nông nghiệp.

- Nguồn kinh phí cấp bù do miễn thu thủy lợi phí đã giúp cho các đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy lợi chủ động trong công tác khai thác hệ thống công trình thủy lợi phục vụ sản xuất, nhất là trong công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả của thiên tai và những diễn biến bất thường của thời tiết như bão gió, hạn hán, mưa lũ, bên cạnh đó việc tu bổ, sửa chữa hệ thống công trình thủy lợi cũng đã được quan tâm thực hiện, góp phần tăng năng suất của vật nuôi, cây trồng và phục vụ tốt cho đời sống dân sinh trên địa bàn.

Tồn tại, hạn chế:

a. Về mức thu thủy lợi phí: Nhìn chung mức thu thủy lợi phí theo Nghị định 115/2008/NĐ-CP đối với diện tích mặt đất, mặt nước tưới tiêu từ công trình thủy lợi đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước đã đáp ứng được nhu cầu kinh phí để chi cho các hoạt động vận hành hệ thống công trình thủy lợi phục vụ sản xuất trên địa bàn. Tuy nhiên, Nghị định được ban hành và triển khai thực hiện đã được trên 02 năm, trong thời gian qua giá cả của hầu hết các mặt hàng đều có xu hướng tăng, vì vậy mức cấp bù của một số diện tích còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu chi để phục vụ cho hoạt động tưới tiêu, để đáp ứng tình hình thực tế của công tác vận hành hệ thống công trình thủy lợi phục vụ sản xuất.

b. Việc xác định vị trí cống đầu kênh theo qui định tại Thông tư số 65/2009/TT-BNN ngày 12/10/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn còn một số khó khăn, vướng mắc như:

- Việc xác định tỷ lệ và mức trích kinh phí cấp bù miễn thu thủy lợi phí cho các tổ chức hợp tác dùng nước hoặc hộ gia đình quản lý công trình, kênh mương có qui mô diện tích phục vụ lớn hơn qui mô cống đầu kênh theo qui định cụ thể của UBND Tỉnh gặp nhiều khó khăn, dễ xảy ra các tranh chấp giữa các tổ chức hợp tác dùng nước hoặc hộ gia đình với các Công ty TNHH một thành viên khai thác công trình thủy lợi  do chưa có các tiêu chí cụ thể và quy định cơ quan quản lý làm nhiệm vụ giám sát việc phân chia này.

- UBND tỉnh Nam Định đã có Quyết định số 13/2010/QĐ-UBND ngày 21/7/2010 về việc phân cấp công tác quản lý, khai thác, vận hành và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Nam Định. Tuy nhiên việc triển khai thực hiện còn gặp nhiều khó khăn do các tài sản được đầu tư từ nguồn vốn của tập thể xã viên các Hợp tác xã, vì vậy khi bàn giao công trình thủy lợi cho các Công ty TNHH một thành viên quản lý, khai thác gặp khó khăn về việc xử lý tài chính của các tài sản do các Hợp tác xã đã đầu tư.

- Việc xác định mức trần phí dịch vụ lấy nước (thủy lợi phí nội đồng) của các đơn vị còn gặp nhiều khó khăn và lúng túng, mức thu của các đơn vị trên cùng địa bàn chưa được đồng đều, chưa tạo được sự công bằng giữa các đơn vị có diện tích được các Công ty TNHH một thành viên khai thác công trình thủy lợi tưới tiêu đến mặt ruộng và các đơn vị phải lấy nước tưới tiêu từ cống đầu kênh đến mặt ruộng, dẫn đến việc thu thủy lợi phí nội đồng còn gặp nhiều khó khăn.

c. Công tác quản lý hệ thống công trình thủy lợi.

- Việc vi phạm, lấn chiếm hành lang hệ thống công trình thủy lợi diễn ra ngày càng nhiều và có chiều hướng phức tạp, do người dân không có ý thức trong việc bảo vệ; Bên cạnh đó các cấp chính quyền và các ngành chức năng chưa thực sự vào cuộc trong việc ngăn chặn, xử lý các hành vi này, cá biệt một số nơi còn né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Các nguyên nhân trên dẫn tới việc quản lý, vận hành hệ thống công trình thủy lợi của các đơn vị gặp nhiều khó khăn.

- Diễn biến của khí hậu những năm gần đây có dấu hiệu bất thường, nạn úng lụt, hạn hán thường xuyên xảy ra. Bên cạnh đó do đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nên nhiều công trình hạ tầng được xây dựng như các khu, cụm công nghiệp, đường giao thông, các công trình dân sinh. Vì vậy hệ thống công trình thuỷ lợi không còn phù hợp để đáp ứng yêu cầu tưới tiêu phục vụ sản xuất, nhất là các đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy lợi thuộc các huyện phía nam Tỉnh do hệ thống công trình thủy lợi được xây dựng chủ yếu để lấy nước thủy triều để phục vụ sản xuất.

d. Thẩm quyền phê duyệt các công trình, dự án đầu tư xây dựng, sửa chữa: Các văn bản pháp qui chưa đồng bộ, nhất quán, dẫn tới lúng túng trong quá trình thực hiện. Nguồn kinh phí thực hiện miễn thu thuỷ lợi phí của các đơn vị quản lý công trình trong ngân sách nhà nước tương đối lớn, trong khi đó việc phân cấp quản lý vốn của các đơn vị trên hiện nay chưa được đồng bộ, thống nhất. Do đó việc triển khai công tác duy tu, sửa chữa các công trình thuỷ lợi từ nguồn kinh phí miễn thu thuỷ lợi phí còn chậm, chưa tạo được tính chủ động cho các đơn vị làm nhiệm vụ này.

Kiến nghị

Ngoài các nội dung dự kiến nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Nghị định số 115/2008/NĐ-CP của Bộ Tài chính, Sở Tài chính tỉnh Nam Định đề nghị bổ sung một số nội dung sau:

1. Đề nghị điều chỉnh về mức cấp bù do miễn thu thuỷ lợi phí.

- Đề nghị điều chỉnh tăng mức thu chung của các biện pháp tưới, tiêu lên 20% so với quy định hiện tại để phù hợp với tình hình thực tế biến động của giá cả thị trường.

- Mức thu cho các diện tích tưới tiêu lợi dụng thủy triều theo qui định tại Nghị định 115/2008/NĐ-CP bằng 70% mức phí tưới tiêu bằng trọng lực, đề nghị tăng lên bằng 80% mức phí tưới tiêu bằng trọng lực.

- Mức thu đối với diện tích mạ, rau, màu, cây công nghiệp ngắn ngày, cây vụ đông theo qui định tại Nghị định 115/2008/NĐ-CP bằng 40% mức thu thủy lợi phí đối với đất trồng lúa, đề nghị tăng lên bằng 50% mức thu thủy lợi phí đối với đất trồng lúa.

- Mức thu thủy lợi phí áp dụng đối với sản xuất muối theo qui định tại Nghị định 115/2008/NĐ-CP  tính bằng 2% giá trị muối thành phẩm, đề nghị tăng lên bằng 3% giá trị muối thành phẩm.

2. Về thẩm quyền quyết định thực hiện công tác đầu tư xây dựng cơ bản (xây dựng mới, sửa chữa lớn, sửa chữa thường xuyên) đối với các công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất bằng nguồn vốn của các Công ty quản lý: Các đơn vị trực thuộc UBND Tỉnh quản lý thì do UBND Tỉnh quyết định mức cụ thể để phù hợp với các qui định hiện hành của Luật doanh nghiệp, các văn bản pháp qui và tình hình thực tế.

3.  Đề nghị có chế tài qui định rõ trách nhiệm của các cấp chính quyền và người sử dụng nước trong công tác bảo vệ, quản lý, khai thác hệ thống công trình thủy lợi, tránh việc đùn đẩy, tránh né trách nhiệm và nâng cao ý thức của người sử dụng, nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên nước và hệ thống công trình thủy lợi.

4. Thực hiện miễn giảm toàn bộ phần thu phí dịch vụ lấy nước từ sau cống đầu kênh đến mặt ruộng (thủy lợi phí nội đồng), mức cấp bù bằng 50 – 60% so với mức miễn giảm thủy lợi phí của biện pháp tưới tiêu bằng động lực.

(Sở Tài chính tỉnh Nam Định)

 
CÁC TIN KHÁC
  HỆ THỐNG THỦY LỢI VÀ KHẢ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
  CÔNG TÁC CHUYỂN GIAO QUẢN LÝ KHAI THÁC BẢO VỆ CÔNG TRÌNH THUỶ LỢI TẠI TỈNH TUYÊN QUANG
  MỘT VÀI HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN TRONG LƯU VỰC SÔNG HỒNG – THÁI BÌNH NĂM 2005
  THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG QUY TRÌNH VẬN HÀNH LIÊN HỒ CHỨA TRÊN SÔNG ĐÀ, SÔNG LÔ PHỤC VỤ ĐA MỤC TIÊU, ĐẢM BẢO AN TOÀN VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
  KẾT QUẢ CÔNG TÁC THUỶ LỢI TỈNH SƠN LA NĂM 2005

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn