I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
TÌNH HÌNH ĐIỀU PHỐI NGUỒN NƯỚC PHÒNG, CHỐNG HẠN VỤ ĐÔNG XUÂN 2004-2005 Ở CÁC TỈNH THUỘC LƯU VỰC SÔNG HỒNG-THÁI BÌNH
 

Ở các tỉnh miền Bắc, vụ đông xuân là vụ sản xuất chính có năng suất cao và tương đối ổn định. Tuy nhiên vụ đông xuân 2004-2005 tình hình nguồn nước đặc biệt khó khăn cho sản xuất và dân sinh.

I.        THỜI TIẾT, NGUỒN NƯỚC

1.      Thời tiết

-               Năm 2004: tháng 6 và tháng 7/2004, xuất hiện nhiều đợt nắng nóng kéo dài và gay gắt, nhiệt độ cao nhất đã lên đến 37-390C, nền nhiệt độ phổ biến ở mức xấp xỉ TBNN cùng kỳ.

Bão và ATNĐ đến sớm hơn mọi năm nhưng số cơn bão ảnh hưởng đến nước ta lại không nhiều và không theo quy luật (ví dụ cơn bão số 2 xuất hiện trong tháng 6 đổ bộ vào Quảng Ngãi, Bình Định).

-               Các tháng đầu năm 2005, xuất hiện nhiều đợt rét đậm, rét hại kéo dài, nhiệt độ thấp nhất xuống đến 4-5oC (vào thời kỳ đầu tháng 01/2005). Đặc biệt bão năm 2005 đến sớm hơn bình thường và trái quy luật (bão số 1 từ ngày 17-19/3/2005 ảnh hưởng khu vực Quảng Ngãi đến Bình Thuận).

2.      Mưa

Mùa mưa năm 2004 kết thúc sớm hơn 1 tháng, không có các đợt mưa kéo dài. Mưa phân bố không đều, lượng mưa từ tháng 5¸10/2004 phổ biến ở mức thấp hơn TBNN:

-               Khu vực miền núi trung du thiếu hụt từ 30-40% so với TBNN (Tiên Yên thiếu 741mm, Bắc Giang 570mm, Sa Pa 565mm, Yên Bái 552mm, Phú Thọ 531mm, Sơn La 425mm, Tuyên Quang 409mm).

-               Khu vực đồng bằng sông Hồng chỉ có một đợt mưa lớn từ ngày 19-24/7/2004, ngoài ra hầu như không mưa, vì vậy lượng mưa so với TBNN thiếu hụt từ 20-40% (Thái Bình thiếu 634mm, Nam Định 418mm, Phủ Liễn 257mm).

Từ tháng 1 đến tháng 5/2005, lượng mưa thiếu hụt từ 100-180mm (Lai Châu hụt 249mm, Hà Giang 182mm; Phú Thọ 148mm, Thái Bình 161mm, Nam Định 202mm...)

3. Nguồn nước sông, suối

Trên hệ thống các sông ở Bắc bộ chỉ xuất hiện 2-3 đợt lũ nhỏ. Mực nước và dòng chảy các sông đều ở mức thấp hơn so với TBNN cùng thời kỳ; sông Lô tại Tuyên Quang mực nước thấp hơn TBNN khoảng 1,5m và thấp hơn cùng kỳ năm 2003 là 1,1m; sông Đà lượng nước đến hồ Hoà Bình lớn nhất là 9.400 m3/s (22/7), từ 15/8/2004 hồ Hoà Bình đã bắt đầu tích nước. Mực nước lúc 7h ngày 10/01/2005: hồ Hoà Bình là 110,32 m thấp hơn cùng kỳ năm 2004 là 1,68m; hồ Thác Bà là 54,96m, thấp hơn cùng kỳ năm 2004 là 0,82m. Từ ngày 22/5 đến 6/6/2005 (14 ngày) hồ Hoà Bình đã xuống dưới mực nước chết, thấp nhất đã xuống đến 77,9m (ngày 28/5), đây là lần đầu tiên kể từ khi đưa hồ vào khai thác.

Lũ cao nhất trên hệ thống sông Hồng năm 2004 ở dưới mức BĐIII; trên hệ thống sông Thái Bình cao hơn mức BĐIII. Từ đầu tháng 9/2004 đến 01/2005, mực nước các sông xuống nhanh và ở mức thấp. Mực nước Hà Nội lúc 7h ngày 10/01/2005 là 2,08 m (thấp hơn cùng kỳ năm 2004 khoảng 26 cm và thấp hơn TBNN khoảng 96cm); lúc 7h ngày 8/3/2005 là 1.58 m (thấp nhất trong vòng 102 năm có số liệu quan trắc)

4. Hồ chứa và đập dâng.

Do mưa ít, nguồn sinh thuỷ kém, đồng thời phải cấp nước tưới nên lượng nước trữ của các hồ chứa cuối mùa mưa rất thấp, ngoài một số hồ đạt 75-80% dung tích thiết kế (DTTK) như Pa Khoang, Tà Keo, Cấm Sơn, Núi Cốc; các hồ còn lại phổ biến ở mức rất thấp so với dung tích thiết kế như Vân Trục đạt 21% (1,81 triệu /8,58 triệu m3), Đại Lải 27% (8,04 triệu/29,4 triệu m3), Chúc Bài Sơn 30%(4,55 triệu/15triệu m3), Xạ Hương 34% (4,55 triệu/13,24triệu m3), Đồng Mô 43% (26,65 triệu/61,9 triệu m3)...

Các hồ chứa nhỏ và đập dâng ở miền núi trung du chỉ đạt 50-60% DTTK, một số nơi đạt rất thấp như Tuyên Quang còn 50% DTTK, một số đập dâng trong tỉnh đã cạn kiệt; Cao Bằng, Phú Thọ 30-50% DTTK; huyện Yên Thế (Bắc Giang) 39-50% DTTK; các huyện Lập Thạch, Tam Dương, Bình Xuyên, Tam Đảo (Vĩnh Phúc) 30-40% DTTK; vùng bán sơn địa tỉnh Hà Tây, Hải Dương, Hà Nội đạt 25-50%).

II.       KẾ HOẠCH THUỶ LỢI PHỤC VỤ TƯỚI VỤ ĐÔNG XUÂN 2004-2005

1.      Đảm bảo tưới cho cây vụ đông và lúa ĐX

-               Gieo trồng cây vụ đông 2004 ở Bắc bộ đạt kết quả tốt. Theo báo cáo của các địa phương đến cuối tháng 12/2004, diện tích gieo trồng cây vụ đông là 475.660ha/ 583.300 ha KH; đảm bảo tưới 483.700 ha (trong đó trung du và ĐBSH là 283.400 ha /300.200 ha, đảm bảo tưới là 276.800ha).

-               Diện tích lúa xuân muộn (chủ yếu ở đồng bằng trung du Bắc bộ) chiếm tỷ lệ lớn (93%) diện tích gieo cấy. Vụ đông xuân năm nay diện tích đất để ải nhiều, được ải, thời vụ làm đất gieo cấy lại tập trung trong thời gian ngắn từ 20/01 đến 20/02/2005. Như vậy yêu cầu nước để làm đất tập trung trong thời gian ngắn và đồng loạt. Theo kế hoạch, lúa đông xuân được đảm bảo tưới bằng công trình thuỷ lợi là 792.880 ha/811.510 ha gieo cấy, trong đó bơm điện 421.130 ha, tự chảy 263.290 ha, biện pháp khác 108.460 ha, cụ thể các khu vực như sau:

 

TT

Vùng sản xuất

Diện tích gieo cấy

(ha)

Diện tích tưới

Tổng số

Trong đó

Tự chảy

Bơm điện

BF Khác

1

Miền núi trung du

248.630

234.090

169.960

42.270

21.860

2

ĐBSH

562.880

558.790

93.330

378.860

86.600

 

Cộng

811.510

792.880

263.290

421.130

108.460

2.      Diện tích và nhu cầu điện năng bơm tưới

Theo dự kiến, kế hoạch tưới ải của các tỉnh miền núi trung du Bắc bộ là 629.230 ha, trong đó vùng bơm điện là 413.520 ha. Yêu cầu điện năng cho bơm tưới cả vụ là 109.281.060 kwh (riêng tưới ải là 48.003.550 kwh). Cụ thể ở từng khu vực như sau:

 

          Vùng

Kế hoạch tưới ải (ha)

Yêu cầu điện (kwh)

 

Tổng
DT làm ải

DT ải được tưới

trong đó bơm điện

Cho cả vụ

Trong đó cho đổ ải

Miền núi-TDBB

98.000

98.000

38.790

10.895.800

3.390.000

ĐB Bắc Bộ

531.230

531.230

374.730

98.385.260

44.613.550

Cộng

629.230

629.230

413.520

109.281.060

48.003.550

 

III.  MỘT SỐ GIẢI PHÁP THUỶ LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT VỤ ĐX 2004-2005

Để hạn chế thiệt hại do hạn hán, một số giải pháp cụ thể đã được thực hiện như sau:

1.            Phối hợp với Tổng công ty Điện lực Việt Nam huy động tối đa các nguồn nhiệt điện và tuốc bin khí để giữ nước các hồ chứa thuỷ điện, tập trung xả nước phát điện ở 02 hồ Hoà Bình và Thác Bà theo kế hoạch các tháng mùa khô:

                                                                                                                                        Đơn vị: m3/s

Tháng

1

2

3

4

5

TB

Hoà Bình

696

677

583

752

769

696

Thác Bà

166

156

183

167

200

175

Tổng xả

862

833

767

920

970

870

2.            Kiện toàn Ban chỉ đạo phòng chống hạn của các địa phương và thực hiện các giải pháp phòng chống hạn theo tình hình cụ thể của các vùng.

           a.            Đối với vùng tưới bằng hồ chứa và đập dâng.

Phần lớn diện tích lúa ở các tỉnh miền núi, trung du và một phần ở các tỉnh thuộc ĐBSH được tưới nước bằng hồ chứa và đập dâng (khoảng 362.480 ha). Đây là vùng có nhiều khó khăn nhất về đảm bảo nước tưới trong vụ ĐX, trước tình hình nước hồ thiếu, nguồn sinh thuỷ suy giảm, các địa phương đã thực hiện:

-               Trên cơ sở kết quả kiểm tra công trình sau lũ, tính toán khối lượng, kinh phí lập kế hoạch cụ thể để tổ chức thực hiện. Những công trình hư hỏng, rò rỉ mất nước đã được sửa chữa khẩn cấp, kịp thời trước khi vào vụ tưới.

-               Hiện tượng người dân địa phương tuỳ tiện chặn dòng, xả nước các hồ chứa để bắt cá, thay nước ao cá, chạy thuỷ điện gia đình .... được ngăn chặn hiệu quả.

-               Tranh thủ tận dụng nguồn nước sông suối khi còn nguồn sinh thuỷ để chứa vào vùng trũng, tích cực làm mới và gia cố các phai đập tạm, tăng lượng trữ nước, sửa chữa phục hồi các bơm thuỷ luân, cọn nước; tổ chức các lực lượng, nạo vét kênh mương nội đồng đảm bảo nước thông suốt từ đầu mối đến mặt ruộng.

-               Các công trình hồ, phai đập dù là nhỏ đều có chủ quản lý theo qui chế, theo dõi chặt chẽ nguồn nước, phân phối hợp lý và sử dụng tiết kiệm nguồn nước, ngăn chặn các hiện tượng lãng phí nước trong sản xuất và sinh hoạt.

-               Riêng vùng Trung du và vùng núi thấp như Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh phúc và vùng bán sơn địa Hà Tây là vùng hay thiếu nước ở đuôi kênh và hồ đập nhỏ đã tính toán kỹ phương án chuyển nước từ nguồn khác hỗ trợ cho vùng hồ bị thiếu nước bằng các biện pháp công trình như: tiếp nước hồ Núi Cốc (Thái Nguyên) cho hệ thống sông Cầu (Bắc Giang); từ hồ Pe Luông, Hồng Sạt cho cuối hệ thống Nậm Rốm (cánh đồng Điện Biên-Lai Châu), từ Liễn Sơn xuống Mê Linh (Vĩnh phúc); dùng trạm bơm Phù Sa tiếp cho vùng bán sơn địa Hà Tây...

-               Thông báo rộng rãi khả năng thiếu nước trên những diện tích cần chuyển đổi cây trồng để nhân dân chủ động thực hiện. Tranh thủ sử dụng nước sông suối tưới cho vụ đông, để dành nước hồ chứa cho tưới dưỡng lúa đông xuân.

          b.             Vùng tưới tự chảy bằng thuỷ triều:

-               Tích cực nạo vét phù sa bồi lắng ở cửa khẩu lấy nước, nạo vét kênh mương nội đồng đủ sức dẫn nước. Sử dụng nhiều máy bơm dã chiến để bơm khi nguồn nước xuống thấp.

-               Quản lý theo dõi, kiểm tra chặt chẽ nguồn nước và chất lượng nước (mặn, chua) tại các cửa lấy nước vùng triều; có biện pháp ngăn mặn giữ ngọt, đóng mở đúng lúc, không để ảnh hưởng đến nguồn nước tưới như cống Trà Linh, Cầu Xe..., thông báo kịp thời để nhân dân tranh thủ khi điều kiện cho phép lấy đủ nước ngọt vào đồng ruộng, không để mặn xâm nhập.

          c.             Đối với vùng tưới bằng bơm từ các hệ thống sông Hồng-Thái Bình.

-               Cùng với các việc phải làm hàng năm như trữ nước vào vùng trũng thấp, bảo dưỡng máy móc thiết bị, chuẩn bị phương án chống hạn. Nắm chắc diện tích cần tưới, thực hiện phân phối nước luân phiên, vận động nông dân sử dụng nước tiết kiệm thì công việc hàng đầu được tập trung cao là căn cứ vào mực nước thấp nhất của sông Hồng tại Hà Nội là 2,0-2,3m làm tiêu chuẩn để nạo vét các cửa lấy nước, các kênh trục, bể hút trạm bơm, việc nạo vét đã hoàn thành trước ngày 25/12/2004 với khối lượng 6.385.800 m3 và hệ thống kênh mương nội đồng đảm bảo dẫn đủ lưu lượng nước tưới vào đồng ruộng. Các cửa khẩu lấy nước lớn như Xuân Quan, Liên Mạc đã nạo vét xong sớm so với các năm trước 15 ngày phục vụ lấy, trữ nước.

-               Những tuyến kênh đã được kiên cố hoá được làm sạch, phát quang để phát huy tối đa hiệu quả tiết kiệm nước và tiết kiệm điện năng cho bơm nước tưới như các Công ty KTCTTL Liễn Sơn, Tam Đảo (Vĩnh Phúc), huyện Quế Võ, Yên Phong, Tiên Du, Gia Bình (Bắc Ninh).

-               Các Công ty KTCTTL phối hợp chặt chẽ với ngành Điện ở các địa phương củng cố các loại máy biến áp, đường dây để đảm bảo dẫn điện trên lưới 24 giờ/24 giờ. Trong giai đoạn tưới dưỡng khi nguồn điện thiếu phải cắt điện luân phiên, các Công ty KTCTTL đã tranh thủ bơm vào giờ thấp điểm đêm, giảm căng thẳng cho ngành Điện.

3.                           Quản lý chặt chẽ nước trên ruộng, chống thất thoát và lãng phí nước.

IV.                     NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Vụ ĐX2004-2005 là vụ hạn hán rất nghiêm trọng, trên diện rộng thuộc lưu vực sông Hồng; nhưng với sự điều phối nước hợp lý, khoa học cùng với sự nỗ lực của các địa phương, hạn hán đã được giảm nhẹ:

1.            Toàn bộ diện tích theo kế hoạch là 811.510 ha đã hoàn thành trong khung thời vụ tốt nhất, hầu như không có diện tích phải bỏ hoang không canh tác hoặc chuyển đổi sang cây trồng khác do thiếu nước.

2.            Nhờ đảm bảo nguồn nước và kết hợp với các biện pháp nông nghiệp khác nên các tỉnh trong lưu vực sông Hồng-Thái Bình đã thu hoạch một vụ đông xuân thắng lợi trên cả 3 mặt: diện tích - năng suất - sản lượng. Theo báo cáo sơ bộ của Sở Nông nghiệp & PTNT, bình quân năng suất lúa đông xuân các tỉnh miền Bắc đạt 58.2 tạ/ha (ĐBSH 63.2 tạ/ha; Tây bắc 53.3 tạ/ha; Đông bắc 50.1 tạ/ha), năng suất của một số tỉnh trọng điểm lúa như sau:

 

Tỉnh

Bắc Ninh

Hải Dương

Hà Nam

Thái Bình

Nam Định

ĐX 2003-2004

59.1

63.7

58.1

70.2

69.6

ĐX 2004-2005

59.8

65.0

60.0

70.6

70.0

 

3.            Nhiều công trình thuỷ lợi được quan tâm đầu tư sửa chữa, nạo vét, giải phóng ách tắc không những phục vụ chống hạn vụ ĐX2004-2005 mà còn phát huy hiệu quả trong các vụ sau, năm sau.

4.            Có thêm những bài học kinh nghiệm quý báu trong phối hợp với Tổng công ty Điện lực Việt Nam để điều tiết nước hồ Hoà Bình, Thác Bà và giải quyết nguồn nước cho những vùng khó khăn thuộc lưu vực sông Hồng-Thái Bình trong mùa khô./.

 

TS. Nguyễn Đình Ninh,

Phó cục trưởng Cục Thuỷ lợi, Bộ Nông nghiệp & PTNT

 
CÁC TIN KHÁC
  MIỀN BẮC THOÁT KHỎI HẠN HÁN
  5 tỉnh miền Bắc được hỗ trợ 20 tỷ đồng để chống hạn
  Nguy cơ vỡ đê sông Hồng giữa mùa khô
  Chuột cứ đào đê, còn xã tiếp tục chờ...

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn