I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ PHÒNG, CHỐNG HẠN VỤ ĐÔNG XUÂN 2004-2005 Ở CÁC TỈNH THUỘC LƯU VỰC SÔNG HỒNG – THÁI BÌNH
 

I.                 Giới thiệu về l­ưu vực sông Hồng-Thái bình

 

1.1. Khái quát

  - diện tích lưu vực 169.020 km2.

  - phần lãnh thổ việt nam là 86.720 km2 chiếm 51%.

  - 2 vùng kinh tế lớn: đồng bằng bắc bộ và miền núi, trung du bắc bộ.

  - tổng l­ượng n­ước 117 tỷ m3/năm.

 

1.2. Vùng trung du và miền núi Bắc bộ

-          Gồm 15 tỉnh.

-          Tổng diện tích tự nhiên:                         100.459 Km2

-          Dân số:                                                      11,349 triệu ng­ười.

-          Diện tích đất nông nghiệp:                    1.305.050 ha.

-          Sản l­ượng 3,37 triệu tấn, bình quân    297,2 Kg/ng­ười năm.

-          Có 1.750 hồ chứa vừa và nhỏ, 40190 đập dâng, hàng trăm công trình thuỷ điện, thuỷ luân, 379 trạm bơm điện, hàng vạn công trình tiểu thuỷ nông.

-          Diện tích thiết kế là:                                 263.067 ha.               

-          Cấp cho:                                                    30 vạn dân.

-          Cấp n­ước công nghiệp.

1.3. Vùng Đồng bằng Bắc bộ

-          Gồm 11 tỉnh.

-          Tổng diện tích tự nhiên:                         14.784 Km2

-          Dân số:                                                      17,24 triệu ng­ười

-          Diện tích đất nông nghiệp:                    857.515 ha.

-          Sản l­ượng 6,66 triệu tấn, bình quân    386 Kg/ng­ười năm.

-          Có 55 hệ thống thuỷ nông lớn và vừa; 500 cống d­ới đê; 1700 trạm bơm điện và hơn 3500 trạm bơm nội đồng

-          Nhiều sông và kênh trục chính dài hơn 5 vạn km

-          35 hồ chứa (0.5 đến 230 triệu m3) và nhiều hồ chứa nhỏ

 

II. Một số đặc điểm thời tiết, nguồn n­ước vụ ĐX2004-2005

-          Tháng 6,7/2004 xuất hiện nhiều đợt nắng nóng kèo dài và gay gắt.

-          Bão và ATNĐ đến sớm, số cơn bão ảnh h­ưởng đến n­ước ta không nhiều và trái quy luật.

-          Mùa m­a năm 2004 kết thúc sớm hơn 1 tháng, l­ượng m­a phổ biến ở mức thấp hơn TBNN, vùng miền núi trung du thiếu hụt 30-40%, vùng đồng bằng sông Hồng thiếu hụt 20-40%.

-          Lũ năm 2004 chỉ xuất hiện 2-3 đợt nhỏ. Lũ cao nhất trên sông Hồng d­ưới báo động 3, trên sông Thái bình cao hơn báo động 3.

-          Mực n­ước và dòng chảy các sông đều ở mức thấp hơn TBNN cùng kỳ.

-          Mực n­ước lúc 7h ngày 10/01/2005:

    + Hồ Hoà Bình là 110,32m thấp hơn cùng kỳ năm 2004 là 1,68m.

    + Hồ Thác Bà là 54,96m thấp hơn cùng kỳ năm 2004 là 0,82m.

    + Sông Hồng tại Hà Nội là 2,08m thấp hơn cùng kỳ năm 2004 là 26cm

-          Mực n­ước các hồ chứa vừa và lớn thấp, dung tích chỉ đạt 75-80% dung tích thiết kế, nhiều hồ chứa đạt rất thấp nh­ư Vân Trúc 21% (1,81 triệu /8,58 triệu m3), Đại Lải 27% (8,04 triệu/29,4 triệu m3), Chúc Bài Sơn 30% (4,55 triệu/15triệu m3), Xạ H­ương 34% (4,55 triệu/13,24 triệu m3), Đồng Mô 43% (26,65 triệu/61,9 triệu m3)...

-          Các hồ chứa nhỏ và đập dâng ở miền núi trung du chỉ đạt 50-60% dung tích thiết kế, một số nơi đạt rất thấp như­ Tuyên Quang còn 50%, một số đập dâng trong tỉnh đã cạn kiệt; Cao Bằng, Phú Thọ 30-50%; huyện Yên Thế (Bắc Giang) 39-50%; các huyện Lập Thạch, Tam D­ương, Bình Xuyên, Tam Đảo (Vĩnh Phúc) 30-40%; vùng bán sơn địa tỉnh Hà Tây, Hải D­ương, Hà Nội đạt 25-50%).

Trung tâm dự báo KTTVTW nhận định:

Vụ đông xuân 2004-2005 ở Bắc bộ:

-          L­ượng m­ưa ở mức thấp hơn TBNN, tập trung vào cuối vụ.

-          Dòng chảy các sông suối nhỏ hơn TBNN cùng thời kỳ khoảng 20-50% (đầu vụ từ 30-50%, giữa và cuối vụ từ 20-30%). Dòng chảy hạ lưu sông Hồng có khả năng hụt so với TBNN khoảng 15-45%, mực n­ước tại Hà Nội thấp nhất có khả năng ở mức 1,90 ¸ 2,10m vào tháng 2, tháng 3/2005 (nếu điều kiện xả n­ước của hồ Hoà Bình, Thác Bà như­ kế hoạch).

Như­ vậy, tình hình thiếu n­ước và hạn trong vụ đông xuân 2004-2005 xẩy ra nghiêm trọng trên diện rộng và diễn biến phức tạp.

 

III. Kế hoạch thuỷ lợi phục vụ t­ưới vụ đX 2004-2005

3.1. Sản xuất cây vụ đông

  Theo báo cáo của các địa ph­ương đến cuối tháng 12/2004, diện tích gieo trồng cây vụ đông: 475.660ha/ 583.300 ha KH; đảm bảo t­ới 483.700 ha (trong đó trung du và ĐBSH là 283.400 ha /300.200 ha, đảm bảo t­ưới là 276.800ha).

3.2. Sản xuất lúa ĐX

  Theo kế hoạch, lúa đông xuân vùng miền núi trung du và ĐBSH đ­ược đảm bảo t­ới bằng công trình thuỷ lợi là 792.880 ha/811.510 ha gieo cấy, trong đó bơm điện 421.130 ha, tự chảy 263.290 ha, biện pháp khác 108.460 ha.

 

TT

Vùng sản xuất

Diện tích
gieo cấy

(ha)

Diện tích tưới (ha)

Tổng số

Trong đó

Tự chảy

Bơm điện

BP khác

1

MNTD

248.630

234.090

169.960

42.270

21.860

2

DBSH

562.880

558.790

93.330

378.860

86.600

 

Cộng

811.510

792.880

263.290

421.130

108.460

Diện tích lúa xuân muộn (chủ yếu ở ĐBTDBB) chiếm tỷ lệ lớn (93%). Diện tích đất để ải nhiều, đ­ược ải, thời vụ làm đất gieo cấy tập trung trong thời gian ngắn từ 20/01 đến 20/02/2005. Nh­ vậy yêu cầu n­ước để làm đất tập trung trong thời gian ngắn và đồng loạt

3.3. Diện tích và nhu cầu điện năng bơm t­ưới

-          Kế hoạch tư­ới ải của các tỉnh miền núi trung du Bắc bộ là 629.230 ha, trong đó vùng bơm điện là 413.520 ha.

-          Yêu cầu điện năng cho bơm tưới cả vụ là 109.281.060 kwh, trong đó riêng tư­ới ải là 48.003.550 kwh.

 

Vùng

Kế hoạch tưới ải (ha)

Yêu cầu điện (kwh)

Tổng DT làm ải

DT ải được tưới

Trong đó bơm điện

Cho cả vụ

Trong đó cho đổ ải

MNTD

98.000

98.000

38.790

10.895.800

3.390.000

DBSH

531.230

531.230

374.730

98.385.260

44.613.550

Cộng

629.230

629.230

413.520

109.281.060

48.003.550

 

3.4. Nạo vét kênh m­ương và làm thuỷ lợi nội đồng

  Để phục vụ sản suất ĐX 2004-2005, các địa ph­ương triển khai nạo vét cửa khẩu, đào đắp, tu bổ kênh m­ương các cấp và làm thuỷ lợi nội đồng.

  Khối khối l­ượng thực hiện là 19.257.040 m3, trong đó thuỷ lợi nội đồng là 13.803.570 m3.

 

IV. Một số giải pháp thuỷ lợi phục vụ sản xuất vụ ĐX2004-2005

4.1. Đối với vùng t­ới bằng hồ chứa và đập dâng

   Phần lớn diện tích lúa ở các tỉnh miền núi, trung du và một phần ở các tỉnh thuộc ĐBSH được t­ưới n­ước bằng hồ chứa và đập dâng (khoảng 362.480 ha). Đây là vùng có nhiều khó khăn nhất về đảm bảo n­ước tư­ới trong vụ ĐX, tr­ước tình hình n­ước hồ thiếu, nguồn sinh thuỷ suy giảm, các địa ph­ương đã:

-          Theo kết quả kiểm tra công trình sau lũ, đã khẩn cấp sửa chữa hoặc làm lại để đảm bảo an toàn và kịp phục vụ đông xuân, nhất là những hư­ hỏng, rò rỉ mất n­ước.

-          Kiên quyết xoá bỏ hiện t­ượng ng­ười dân địa ph­ương tuỳ tiện chặn dòng, xả n­ước các hồ chứa để bắt cá, thay n­ước ao cá, chạy thuỷ điện gia đình ....

-          Tranh thủ tận dụng nguồn n­ước sông suối khi còn nguồn sinh thuỷ để chứa vào vùng trũng, tích cực làm mới và gia cố các phai đập tạm để tăng l­ượng trữ n­ước, sửa chữa phục hồi các bơm thuỷ luân, cọn n­ước; tổ chức các lực l­ượng nạo vét kênh m­ương nội đồng đảm bảo n­ước thông suốt từ đầu mối đến mặt ruộng.

-          Các công trình hồ, phai đập dù là nhỏ đều phải có chủ quản lý theo qui chế huyện, xã để theo dõi chặt chẽ nguồn n­ước, phân phối hợp lý và sử dụng tiết kiệm nguồn n­ước, ngăn chặn các hiện t­ượng lãng phí n­ước trong sản xuất và sinh hoạt.

-          Riêng vùng Trung du và vùng núi thấp nh­ Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh phúc và vùng bán sơn địa Hà Tây là vùng hay thiếu n­ước ở đuôi kênh và hồ đập nhỏ đã thực hiện ph­ương án chuyển n­ước từ nguồn khác hỗ trợ cho vùng hồ bị thiếu n­ước như: tiếp nước hồ Núi Cốc (Thái Nguyên) cho hệ thống sông Cầu (Bắc Giang); từ hồ Pe Luông, Hồng Sạt cho cuối hệ thống Nậm Rốm (cánh đồng Điện Biên-Lai Châu), từ Liễn Sơn xuống Mê Linh (Vĩnh phúc); dùng trạm bơm Phù Sa tiếp cho vùng bán sơn địa Hà Tây...

-          Thông báo rộng rãi khả năng thiếu n­ước trên những diện tích cần chuyển đổi cây trồng để nhân dân chủ động thực hiện. Tranh thủ sử dụng n­ước sông suối tưới cho vụ đông, để dành n­ước hồ chứa cho t­ưới d­ưỡng lúa đông xuân.

4.2. Vùng t­ới tự chảy bằng thuỷ triều

-          Tích cực nạo vét phù sa bồi lắng ở cửa khẩu lấy n­ước, nạo vét kênh m­ương nội đồng đủ sức dẫn n­ước. Lắp đặt máy bơm dã chiến để bơm khi nguồn n­ước xuống thấp.

-          Quản lý theo dõi, kiểm tra chặt chẽ nguồn n­ước và chất l­ượng n­ước (mặn, chua) tại các cửa lấy n­ước vùng triều; ngăn mặn giữ ngọt, đóng mở đúng lúc, không để ảnh hưởng đến nguồn n­ước tuới như­ cống Trà Linh, Cầu Xe..., thông báo kịp thời để nhân dân tranh thủ khi điều kiện cho phép lấy đủ n­ước ngọt vào đồng ruộng, không để mặn xâm nhập.

4.3. Đối với vùng t­ới bằng bơm từ các hệ thống sông Hồng-Thái Bình

-          Cùng với các việc phải làm hàng năm như­ trữ n­ước vào vùng trũng thấp, bảo d­ưỡng máy móc thiết bị, chuẩn bị ph­ương án chống hạn. Nắm chắc diện tích cần t­ới, thực hiện phân phối n­ước luân phiên, vận động nông dân sử dụng n­ước tiết kiệm, căn cứ vào mực n­ước thấp nhất của sông Hồng tại Hà Nội là 2,0-2,3m làm tiêu chuẩn để nạo vét các cửa lấy n­ước, các kênh trục, bể hút trạm bơm, việc nạo vét đã hoàn thành trước ngày 25/12/2004 với khối l­ượng 6.385.800 m3 và hệ thống kênh m­ương nội đồng đảm bảo dẫn đủ lưu l­ượng n­ước tưới vào đồng ruộng.

-          Những tuyến kênh đã đ­ược kiên cố hoá đ­ược làm sạch, phát quang để phát huy tối đa hiệu quả tiết kiệm n­ước và tiết kiệm điện năng cho bơm n­ước t­ới như­ các Công ty KTCTTL Liễn Sơn, Tam Đảo (Vĩnh Phúc), huyện Quế Võ, Yên Phong, Tiên Du, Gia Bình (Bắc Ninh) đã làm.

-          Các Công ty KTCTTL phối hợp chặt chẽ với ngành Điện ở các địa ph­ương củng cố các loại máy biến áp, đ­ường dây để đảm bảo dẫn điện trên l­ới 24 giờ/24 giờ.

 

V. Tổ chức thực hiện

-          Phối hợp chặt chẽ với Tổng công ty điện lực Việt Nam để xả n­ước hợp lý hồ Hoà Bình và Thác Bà giữ mực n­ước sông Hồng tại Hà Nội trên 2,3m từ ngày 20/1/2005 đến ngày 10/3/2005.

-          Kiện toàn Ban chỉ đạo phòng chống hạn các cấp tỉnh, huyện có đủ hiệu lực để điều hành công việc, kiểm tra cập nhật tình hình kịp thời th­ường xuyên báo cáo cấp trên. Tăng c­ường củng cố tổ đội thuỷ nông, tổ đ­ường n­ước để kết hợp với các Công ty KTCTTL sử dụng n­ước hiệu quả, tiết kiệm.

-          Kiểm tra đánh giá nguồn n­ước ở mỗi hệ thống công trình, mỗi khu vực, để cân đối chặt chẽ kế hoạch sản xuất với khả năng cấp n­ước của từng công trình thuỷ lợi.

-          Xây dựng ph­ương án phòng chống hạn; chuẩn bị tốt các biện pháp dự phòng để đối phó với hạn hán, đáp ứng nhu cầu n­ước phục vụ sản xuất đông xuân. Trong ph­ương án phòng chống hạn đảm bảo toàn diện cho sản xuất lúa, rau màu và cây công nghiệp, đặc biệt chú ý cân đối n­ước sinh hoạt cho nhân dân.

-          Tổ chức ra quân làm thuỷ lợi để nạo vét kênh m­ương, khơi thông dòng chảy, củng cố bờ vùng.

-          Các Sở Nông nghiệp & PTNT báo cáo với UBND tỉnh bố trí kinh phí sự nghiệp kinh tế, dự phòng và kinh phí dự trữ để trang trải các chi phí phát sinh và ứng tr­ước vốn thuỷ lợi nhỏ cho sửa chữa công trình. Tập trung thi công nhanh và dứt điểm những công trình thuộc vốn xây dựng cơ bản có thể phát huy tác dụng phòng chống hạn ngay từ vụ ĐX 2004-2005.  

-          Th­ường xuyên theo dõi tình hình thời tiết, nguồn n­ước, hạn hán, vận hành công trình thuỷ lợi, cập nhật kịp thời các số liệu, thông tin để tổng hợp và có những giải pháp xử lý kịp thời.

 

VI. Kết quả đã đạt đ­ược

-          Đảm bảo gieo cấy hết diện tích theo kế hoạch trong khung thời vụ tốt nhất.

-          Nhiều đoạn kênh m­ương bị bồi lắng ách tắc đ­ược nạo vét khơi thông.

-          Các nhu cầu n­ước khác trên sông Hồng - Thái Bình như­ cấp n­ước sinh hoạt vẫn được đảm bảo, giao thông thuỷ có gặp khó khăn trong một số ngày n­ước thấp, tàu thuyền trọng tải lớn không đi lại đ­ược. Công suất thuỷ điện trong khoảng 10 ngày đầu tháng 5/2005 thiếu hụt do hồ Hòa Bình và Thác Bà cạn gây khó khăn cho sản xuất và đời sống 1 số vùng.

-          Có thêm kinh nghiệm trong phối hợp điều tiết hồ chứa lớn trong lưu vực và hoạt động của các hệ thống thuỷ lợi. Đặc biệt là sự phối hợp giữa ngành thuỷ lợi và điện lực.

Kết luận

Việc đảm bảo nguồn n­ước cho đời sống và sản xuất trong vụ đông xuân 2004-2005 tuy gặp nhiều khó khăn, song với những kinh nghiệm chống hạn trong những năm tr­ước đây và sự chủ động, quyết liệt của các địa ph­ương, nên những thiệt hại do hạn gây ra đ­ược giảm nhẹ và đã giành đ­ược thắng lợi trong vụ đông xuân 2004-2005.

TS. Nguyễn Đình Ninh

Phó Cục trưởng Cục Thủy lợi - Bộ Nông nghiệp và PTNT

 

 
CÁC TIN KHÁC
  TÌNH HÌNH ĐIỀU PHỐI NGUỒN NƯỚC PHÒNG, CHỐNG HẠN VỤ ĐÔNG XUÂN 2004-2005 Ở CÁC TỈNH THUỘC LƯU VỰC SÔNG HỒNG-THÁI BÌNH
  MIỀN BẮC THOÁT KHỎI HẠN HÁN
  5 tỉnh miền Bắc được hỗ trợ 20 tỷ đồng để chống hạn
  Nguy cơ vỡ đê sông Hồng giữa mùa khô
  Chuột cứ đào đê, còn xã tiếp tục chờ...

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn