I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG LỤT BÃO - GIẢM NHẸ THIÊN TAI NĂM 2005 TRÊN LƯU VỰC SÔNG HỒNG – SÔNG THÁI BÌNH
 

I- Diễn biến thiên tai trong năm 2005 trên lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình:

Trong năm 2005, thiên tai ở nước ta nói chung và trên lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình nói riêng diễn ra phức tạp với tất cả các loại hình, liên tục, dồn dập và bất thường, gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản, công trình hạ tầng, gây nhiều khó khăn cho sản xuất, đời sống của nhân dân, phá huỷ môi trường sinh thái.

Một số loại thiên tai điển hình đã xảy ra trong năm 2005 trên lưu vực sông Hồng và sông Thái Bình như:

 1. Giá rét: Những tháng đầu năm, các tỉnh miền Bắc đã xảy ra rét đậm kéo dài, nhiều ngày có rét hại. Do nhiệt độ xuống thấp, đã có tuyết rơi và băng giá ở huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai và Mẫu Sơn thuộc tỉnh Lạng Sơn. Rét đậm, rét hại đã gây thiệt hại lớn đến sản xuất nông nghiệp cho vùng núi phía Bắc.

2. Nắng nóng, hạn hán xảy ra nghiêm trọng, kéo dài và trên diện rộng: Sáu tháng đầu năm mực nước các hồ chứa xuống thấp hơn nhiều so với các năm trước, cộng với nắng nóng kéo dài làm cho tình hình khô hạn và thiếu nước xẩy ra gay gắt trên diện rộng ở các tỉnh phía Bắc.

Đến cuối tháng 5, mặc dù đã hạn chế việc phát điện, nhưng mực nước của Hồ Hoà Bình đã xuống dưới mực nước chết và kéo dài nhiều ngày, có ngày thấp hơn mực nước chết tới 2m theo đó mực nước sông Hồng cũng bị hạ thấp nhất trong vòng 40 năm qua gây thiếu điện nghiêm trọng.

Nắng hạn đã làm một bộ phận dân cư thiếu nước sinh hoạt; ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản suất.

3. Giông, lốc xoáy, mưa đá: xảy ra ở nhiều địa phương, nhiều nơi đã xảy ra 3 đến 4 đợt lốc gây thiệt hại không nhỏ về nhà cửa, sản xuất và đời sống của nhân dân.

4. Bão và áp thấp nhiệt đới: xuất hiện sớm, nhiều và cường độ mạnh hơn so với trung bình nhiều năm: Năm 2005 có tới 9 cơn bão và 4 ATNĐ xuất hiện ở biển đông trong đó có 6 cơn bão và 2 ATNĐ ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta. Các trận bão mạnh khi vào ven biển gây ra gió mạnh cấp 10, 11, 12 giật trên cấp 12 trùng với thời điểm mực nước thuỷ triều lớn, nước biển dâng cao và sau đó là mưa lớn và lũ quét gây thiệt hại nghiêm trọng. Trong đó các cơn bão ảnh hưởng đến lưu vực sông Hồng – sông Thái Bình phải kể đến:

- Cơn bão số 2 đổ bộ vào địa phận tỉnh Thái Bình, Nam Định vào ngày 31 tháng 7 gây ra gió mạnh cấp 8, cấp 9, giật trên cấp 9 tại các tỉnh phía đông Bắc Bộ, gây mưa vừa, mưa to trên diện rộng ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Bão đổ bộ vào đất liền trùng với lúc triều cường gây nước dâng cao, sóng rất lớn nên đã làm hư hỏng một số tuyến đê biển thuộc TP. Hải Phòng và tỉnh Nam Định, trên 15.200 ha nuôi trồng thuỷ sản bị tràn, vỡ.v,v... Thiệt hại vật chất khoảng 365 tỷ đồng.

Cơn bão số 7 xảy ra ngay sau khi cơn bão số 6 (đổ bộ vào địa phận tỉnh Nghệ An), bão số 7 ảnh hưởng trực tiếp đến các tỉnh từ Quảng ninh đến Hà Tĩnh đêm 26 ngày 27/9 gây ra gió mạnh cấp 11, cấp 12m giật trên cấp 12 ở các tỉnh từ Thái Bình đến Thanh Hoá. Đây là cơn bão mạnh, duy trì trong thời gian dài, bão vào trùng triều cường nên đã gây sóng lớn, nớưc dâng cao từ 3.5 – 4.5m. Phá hỏng và vỡ nhiều tuyến đê biển thuộc các tỉnh từ Quảng Ninh đến Thanh Hoá đã làm 4 người chết thiệt hại vật chất khoảng 3.250 tỷ đồng.

5. Về lũ:

Lũ trên hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình năm 2005 ở mức thấp do tác động điều tiết của hồ Hoà Bình nên mực nước lũ cao nhất tại Hà Nội chỉ dưới báo động I. Tuy nhiên do mực nước xuống thấp nên tình hình sạt lở xảy ra mạnh hơn so với các năm, nhất là những tháng cuối năm.

6. Lũ Quét và sạt lở đất:

Năm 2005 đã xảy ra 12 trận lũ quét và sạt lở đất ở các khu vực sông, suối như: Quảng Ninh, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Cạn, Sơn La, Phú Thọ, Bắc Giang. Lũ quét và sạt lở đất đã gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản và hoa màu, phá hủy nhiều công trình thủy lợi và đường xá, một số trận điển hình:

 Sạt lở núi ở Bình Liêu, Quảng Ninh đêm 9/6 tại thôn Ngàn Vàng, xã Đồng Tâm thuộc huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh đã vùi lấp toàn bộ nhà cửa của một gia đình làm 11 người chết.

 Lũ quét do ảnh hưởng của bão số 7 trong hai ngày 27 - 28/9 trên sông, suối thuộc các tỉnh Yên Bía, Lào Cai, Hoà Bình, Phú Thọ. Đặc biệt tại tỉnh Yên Bái mực nước các sông suối lên rất nhanh và cao vượt mức lịch sử làm 64 người chết.

7. Tổng thiệt hại:

Mặc dù đã có sự cố gắng rất lớn trong công tác chỉ đạo phòng tránh, đối phó song thiệt hại do thiên tai gây ra vẫn rất lớn, nhất là về số lượng người chết, điều đó cho thấy thiên tai ngày càng khắc nghiệt, nguồn lực của chúng ta còn hạn chế. Tính đến cuối tháng 12 Năm 2005 thiệt hại do thiên tai gây ra trên phạm vi cả nước như sau:

- Về người: chết và mất tích 397 người (Trong đó do lũ quét và sạt lở 98 người, do lũ lụt là 246 người, do bão là 29 người, do lốc xoáy là 24 người)

- Về Dân sinh: Lũ đã làm ngập trên 210.500 ngôi nhà; trên 7.100 ngôi nhà bị đổ trôi, gần 5.000 phòng học, gần 250 cơ sở y tế bị đổ, trôi, hư hại;

- Về sản xuất Nông nghiệp: lũ làm ngập gần 497.000 ha lúa, trong đó mất trắng hơn 28.500 ha; gần 155.000 ha hoa màu các loại bị ngập, trong đó mất trắng gần 2.000 ha;

- Về Thuỷ sản: Tổng diện tích ao hồ nuôi trồng thuỷ sản bị ngập gần 54.000ha, gần 3.500 tấn cá tôm bị trôi mất; hơn 382 tầu thuyền bị trôi, mất.

- Về Giao thông: khối lượng đất bị sạt lở, cuốn trôi trên 3.223.000 m3, trên 200 cầu, cống bị sập, trôi, hư hại.

- Về Thuỷ lợi: trên 2.543.000 m3 đất các công trình thuỷ lợi bị sạt lở, bồi lấp; gần 700 công trình thuỷ lợi nhỏ bị trôi và hư hại.

Tổng thiệt hại ước tính trên 5.200 tỷ đồng (tương đương hơn 335 triệu đô la Mỹ).

II. Công tác chỉ đạo phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai:

Do tình hình thiên tai phức tạp, công tác đối phó thiên tai năm 2005 được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Chính phủ. Ngay đầu mùa lũ Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị Số 12/2005/CT-TTg về công tác phòng, chống lụt, bão và tìm kiếm cứu nạn năm 2005. Bộ Chính trị, Thủ tướng và các phó Thủ tướng Chính phủ đã giành thời gian trực tiếp đi kiểm tra và chỉ đạo công tác phòng chống và thăm hỏi đồng bào bị nạn trong lụt bão ở một số tỉnh trọng điểm. Mỗi khi dự báo có bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt Chính phủ đều có công điện chỉ đạo các Bộ, ngành và địa phương thực hiện mọi biện pháp đối phó với thiên tai, Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ đều quan tâm chỉ đạo sâu sát, trực tiếp đến các địa phương để chỉ đạo đối phó và khắc phục hậu quả thiên tai.

Trong năm 2005 Chính phủ đã quyết định huy động vật tư, phương tiện, trang thiết bị phục vụ công tác hộ đê, cứu hộ, cứu nạn; xuất dự trữ Quốc gia để hỗ trợ các địa phương khắc phục hậu quả thiên tai.

Khi dự báo có các tình huống bão, lũ đã nắm chắc diễn biến tình hình, dự kiến các tình huống xấu nhất có thể xảy ra để tham mưu cho Chính phủ chỉ đạo, đối phó, và trực tiếp xuống các địa bàn xung yếu để cùng với địa phương chỉ đạo đối phó kịp thời và có hiệu quả.

Ngay sau mỗi đợt thiên tai xảy Ban chỉ đạo PCLBTW đều tổ chức rút kinh nghiệm trong chỉ đạo đối phó và khắc phục hậu quả thiên tai; Phối hợp với các Bộ, ngành hữu quan tổ chức đánh giá thiệt hại, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ kịp thời hỗ trợ cho các địa phương và Bộ ngành.

Nhờ có sự quan tâm, chỉ đạo kiên quyết và kịp thời của Thủ tướng Chính phủ; sự phối hợp chặt chẽ giữa Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung Ương, Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn, Bộ Nông nghiệp và PTNT và các Bộ, Ngành liên quan cộng với sự cố gắng, nỗ lực của chính quyền các cấp và sự chủ động phòng tránh của nhân dân; nhất là việc tổ chức sơ tán dân và hộ quyết liệt nên đã hạn chế thiệt hại đến mức thấp nhất ở các địa phương có bão đổ bộ trức tiếp.

Trong việc đối phó với bão, ATNĐ năm 2005 đã sử dụng mọi phương thức kể cả dùng máy bay trực thăng để thông báo và hướng dẫn tàu thuyền về nơi trú tránh. Sau khi thiên tai xảy ra, các địa phương đã nhanh chóng khắc phục hậu quả: cứu chữa người bị thương, mai táng người chết, cứu đói cho dân, xử lý ô nhiễm môi trường, khôi phục các công trình hạ tầng, tổ chức sản xuất ổn định đời sông nhân dân.v.v

Tuy vậy qua việc đối phó vói 3 cơn bão liên tiếp ở các tỉnh ven biển Bắc Bộ trong năm 2005 cho thấy:

+ Hệ thống đê biển đã bộc lộ rõ nhiều nơi còn yếu, chưa đủ sức chống đỡ với các trận bão lớn trong điều kiện có triều cường.

+ Phương tiện, vật tư, lực lượng cứu hộ, cứu nạn còn bất cập với yêu cầu đặt ra. Ban chỉ đạo đã trực tiếp làm việc với một số Bộ, ngành để xây dựng kế hoạch và thúc đẩy chuẩn bị đối phó với bão lụt, tổ chức kiểm tra đôn đốc việc triển khai các nhiệm vụ PCLB năm 2005 của một số địa phương;

III. Nhận xét chung về công tác phòng chống lụt bão

1. Ưu điểm:

            - Công tác chuẩn bị đã được các cấp, các ngành thực hiện tốt hơn các năm trước đây, từ việc xây dựng phương án, kế họach, bố trí lực lượng, vật tư theo phương châm 4 tại chỗ. Đã có sự chuyển hướng mạnh mẽ từ bị động đối phó sang chủ động phòng ngừa nên đã góp phần giảm thiểu được nhiều tác hại của lũ, bão.

- Sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, sự phối hợp giữa Ban Chỉ đạo PCLBTW và Uỷ Ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn, với Quân đội, Công An, các Bộ, ngành và địa phương tốt hơn, đã nêu cao được tinh thần trách nhiệm của cả bộ máy chính trị trước nhân dân trong đối phó với lũ, bão và đã mang lại hiệu quả cao.

- Công tác dự báo, cảnh báo đã có bước tiến bộ đáng kể như: Dự báo sớm, chất lượng dự báo chính xác hơn. Cảnh báo kịp thời, sử dụng nhiều phương thức để cảnh báo như: công điện, điện thoại, phương tiện thông tin đại chúng, máy bay, tầu Hải quân, đèn tín hiệu, bắn pháo hiệu... để thông tin cảnh báo bão, lũ đến người dân, nhất là việc gọi tầu thuyền vào nơi trú ẩn.

            - Công tác kêu gọi tầu thuyền vào nơi trú ẩn và việc bố trí, sắp xếp tầu thuyền đã được làm kiên quyết nờn khụng cú tàu thuy?n b? d?m ngoài khoi và trong khu neo d?u; không có ngư dân chết do bão.

            - Công tác sơ tán dân ra khỏi vùng trực tiếp ảnh hưởng của bão, lũ được triển khai kiên quyết, kịp thời nên nên đã giảm thiểu đến mức thấp nhất số người chết do bão, lũ.

            - Công tác hộ đê được triển khai quyết liệt nên đã hạn chế được số lượng các tuyến đê biển bị vỡ, hư hỏng và giảm được thiệt hại về dân sinh kinh tế ven biển. Các địa phương, cơ quan được điều động vật tư, phương tiện phục vụ cống lụt bão đã chấp hành nghiêm chỉnh lệnh điều động góp phần vào thắng lợi chung của công tác phòng chống lụt, bão.

- Sơ kết rút kinh nghiệm, bàn biện pháp khắc phục hậu quả, đề xuất mức trợ giúp của Chính phủ đã được làm kịp thời sau mỗi trận bão, lũ; có tác dụng thiết thực.Đây là một nét mới trong công tác chỉ đạo đối phó với thiên tai năm 2005.

- Công tác tổ chức thường trực chặt chẽ, theo dõi sát diễn biến của thiên tai nên đã ứng phó kịp thời những tình huống xấu do thiên tai gây ra.

2. Nhược điểm và tồn tại:

Tuy chúng ta đã nhận thức được phương châm “ Chủ động phòng tránh, đối phó kịp thời, khắc phục khẩn trương và có hiệu quả” và đã có những kết quả nhất định. Song việc đầu tư cho giai đoạn phòng ngừa còn hạn chế như: đầu tư cho đê điều, hồ đập chỉ đủ tu sửa hư hỏng hàng năm, chưa có đầu tư nhiều cho nâng cấp đặc biệt là hệ thống đê biển, cơ sở neo đậu trú tránh cho tàu thuyền còn quá yếu; việc đầu tư cho các công trình hạ tầng nhiều công trình chưa đủ tiêu chuẩn an toàn trước thiên tai; quy hoạch xây dựng các khu du lịch, công nghiệp, khu dân cư, đường giao thông… chưa tính toán đầy đủ các yếu tố thiên tai; chất lượng các công trình xây dựng còn thấp đó là các yếu tố chủ quan gây thiệt hại rất lớn mỗi khi thiên tai xảy ra.

- Phương tiện, vật tư, lực lượng cứu hộ cứu nạn còn bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác tìm kiếm cứu nạn trong các tình huống có lũ, bão lớn nhất là phương tiện cứu hộ trên biển.

 - Công tác dự báo, cảnh báo tuy đã có nhiều tiến bộ, song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế, nhất là dự báo lũ quét; cảnh báo ở cấp cơ sở vẫn còn nhiều bất cập, nhiều thông tin cảnh báo về thiên tai vẫn chưa đến được người dân vùng sâu vùng xa nên còn để xảy ra nhiều trường hợp chết người do bất ngờ, đặc biệt là đối với lũ quét và sạt lở.

- Công tác khắc phục hậu quả nhiều địa phương còn thiếu chủ động, chưa phát huy được vai trò của cộng đồng trong việc xử lý môi trường, đời sông sau thiên tai.

- Việc tuyên truyền giáo dục cộng đồng cho người dân và tổ chức quản lý phòng tránh thiên tai lũ quét, sạt lở ở miền núi; quản lý giao thông đi lại trên sông, suối, trên các đoạn đường bị ngập; việc tổ chức giữ trẻ và hướng dẫn học sinh đi học trong mùa lũ ở cơ sở nhiều nơi làm chưa tốt để xảy ra chết nhiều người rất thương tâm.    

IV. Chủ trương và biện pháp PCLB – GNTT trong thời gian tới

Sự diễn biến phức tạp của thiên tai qua các sự kiện xảy ra trên thế giới cũng như ở Việt Nam các năm qua đặc biệt là năm 2005 cho chúng ta nhận thức sâu sắc thêm về phương châm PCLB: “ Chủ động phòng tránh, đối phó kịp thời, khắc phục khẩn trương và có hiệu quả” trong đó lấy công tác phòng là chính. để thực hiện phương châm trên cần tập trung thực hiện một số biện pháp chung sau đây:

- Củng cố, nâng cấp đảm bảo an toàn hệ thống đê điều; xây dựng các hồ chứa cắt giảm lũ cho hạ du; quản lý thoát lũ, trồng rừng phòng hộ đầu nguồn; phân lũ, chậm lũ;; thực hiện quy hoạch kiểm soát lũ.

- Xây dựng khu neo đậu cho tàu thuyền trú tránh bão, đăng kiểm, quản lý tàu thuyền trên sông, trên biển và tổ chức thông tin kêu gọi tàu thuyền khi có bão, ATNĐ.

- Quy hoạch xây dựng các khu công nghiệp, du lịch, dân cư, công trình giao thông, thuỷ lợi và công trình hạ tầng khác theo hướng né tránh bão, lũ, lũ quét, sạt lở.

- Tổ chức tốt công tác cứu hộ, cứu nạn giảm thiệt hại về tính mạng và tài sản khi thiên tai xảy ra.

V. Biện pháp PCLB – GNTT ở các khu vực cụ thể

Do đặc điểm về địa lý, địa hình và khí hậu ở LVSH-STB có thể chia thành các vùng có loại hình thiên tai điển hình khác nhau và biện phòng chống cũng khác nhau đó là:

1.      Khu vực đồng bằng Bắc bộ:

Phòng chống lụt bão ở khu vực này chủ yếu là phòng chống lũ, úng ngập. 

Đồng bằng Bắc bộ chủ yếu chịu ảnh hưởng của lũ hệ thống sông Hồng, sông Thái bình. Toàn vùng đồng bằng được bảo vệ bởi hệ thống đê điều. Các biện pháp đảm bảo an toàn cho khu vực này đã được thực hiện trong nhiều năm bao gồm: Cũng cố, nâng cấp đảm bảo an toàn hệ thống đê điều; xây dựng các hồ chứa cắt giảm lũ cho hạ du; quản lý thoát lũ, trồng rừng phòng hộ đầu nguồn; phân lũ, chậm lũ; tổ chức hộ đê trong mùa lũ.

2. Khu vực trung du, miền núi

Nhiệm vụ trọng tâm phòng chống lụt bão đới với vùng trung du miền núi như sau:

             - Nghiên cứu và xây dựng tiêu chí xác định các khu vực có nguy cơ xảy ra lũ quét; biên soạn tài liệu chuyên môn, tổ chức tập huấn về công tác phòng tránh lũ quét.

             - Tổ chức điều tra, thống kê các địa bàn dân cư, những bản làng, hộ dân sinh sống ở khu vực dễ bị ảnh hưởng trực tiếp của lũ quét (khu vực ven sông, ven suối, ven sườn đồi núi tầng đất mặt mỏng, dễ bị sạt lở…) để tổ chức cắm biển cảnh báo nguy hiểm ở những khu vực này để nhân dân có ý thức chủ động phòng tránh.

             - Lắp đặt, hướng dẫn sử dụng dụng cụ đo mưa đơn giản tại chỗ, trước mắt triển khai ở một số thôn, bản trọng điểm để cảnh báo cho nhân dân chủ động phòng tránh đồng thời rút kinh nghiệm nhân rộng ra địa phương khác.

            - Tổ chức các lực lượng cứu hộ tại chỗ của các địa phương để xử lý khi có tình huống.

            - Quy hoạch dân cư và chỉ đạo thực hiện quy hoạch; di dời trong nội bộ thôn,bản các hộ dân đang sống ở những nơi có nguy cơ cao về lũ quét, sạt lở đến nơi an toàn theo thống kê phân loại của các tỉnh.

- Phát triển diện tích rừng phòng hộ, nâng cao độ che phủ của rừng. ưu tiên vốn đầu tư của dự án trồng 5 triệu ha rừng để trồng mới, khoanh nuôi, bảo vệ diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn; khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển nhanh rừng sản xuất để góp phần nâng cao độ che phủ của rừng.

- Đầu tư xây dựng, nâng cấp các tuyến đường giao thông phải đảm bảo kiên cố, chống sạt trượt; cầu qua sông suối phải đủ khẩu độ thoát lũ lớn.

           - Tiếp tục xây dựng mới các hồ chứa tham gia cắt giảm lũ và cấp nước cho hạ du như; đảm bảo an toàn các hồ chứa trong mùa lũ.

Năm 2006 là năm có nhiều sự kiện trọng đại của đất nước, cũng là năm mà tình hình thời tiết vẫn diễn biến phức tạp, đề phòng lũ lớn trên hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, công tác phòng chống lụt bão nói chung và công tác quản lý đê điều giữ vai trò hết sức quan trọng giữ vững hệ thống đê điều, vận hành tốt các công trình phòng chống lũ và tăng cường công tác dự báo, cảnh báo và góp phần trong việc đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững.

                                                                                                                                                  Nguyễn Sỹ Nuôi

Phó văn phòng Ban chỉ đạo PCLBTW

 
CÁC TIN KHÁC
  BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TÍCH CỰC THAM GIA PHÒNG, CHỐNG VÀ KHẮC PHỤC CƠN BÃO SỐ 7 VÀ LŨ KÈM THEO
  TOÀN CẢNH CƠN BÃO SỐ 7 VÀ CÔNG TÁC KHẮC PHỤC HẬU QUẢ
  NHỨC NHỐI THỰC TRẠNG ĐÊ BIỂN VIỆT NAM
  HẬU QUẢ CỦA CƠN BÃO SỐ 7/2005
  ẢNH HƯỞNG CỦA CƠN BÃO SỐ 6/2005 ĐẾN CÁC TỈNH THUỘC LƯU VỰC

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn