I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
THỰC TRẠNG CẤP NƯỚC ĐÔ THỊ VIỆT NAM CHƯƠNG TRÌNH, KẾ HOẠCH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
 

Trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng một cách nhanh chóng. Tỷ lệ GDP của nền kinh tế quốc doanh ngày càng cao. Tốc độ phát triển đô thị ngày càng nhanh, theo số liệu thống kê năm 2000 dân số đô thị cả nước là 17 triệu, đến năm 2005 sẽ là 22 triệu người. Xu hướng đô thị hoá trên cả nước ngày càng phát triển cả về số lượng và quy mô dân số, thu hút nhiều dân cư và các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ…Song cơ sở hạ tầng các đô thị còn yếu kém nhất là giao thông, cấp thoát nước và vệ sinh môi trường, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của các đô thị trong giai đoạn hiện nay.

I.               THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH CẤP NƯỚC TẠI CÁC ĐÔ THỊ - NHỮNG TỒN TẠI VÀ THÁCH THỨC

Trong thời gian qua, hệ thống cấp nước các đô thị Việt Nam đã được Đảng, Chính phủ quan tâm ưu tiên đầu tư cải tạo và xây dựng, nhờ vậy tình hình cấp nước đã được cải thiện một cách đáng kể. Nhiêù dự án với vốn đầu tư trong nước, vốn tài trợ của các Chính phủ, các tổ chức Quốc tế đã và đang được triển khai.

Hiện nay toàn bộ 64 thành phố, thị xã tỉnh lỵ trong cả nước đã có các dự án cấp nước ở các mức độ khác nhau. Tổng công suất thiết kế đạt 3,42 triệu m3/ngđ. Nhiều nhà máy được xây dựng trong thời gian gần đây có dây truyền công nghệ xử lý và thiết bị khá hiện đại. Trong 670 đô thị vừa và nhỏ (loại IV và loại V) đã có khoảng 200 thị xã, thị tứ có hệ thống cấp nước tập trung quy mô từ 500 đến 2000, 3000 m3/ngđ được xây dựng từ nhiều nguồn vốn và do nhiều cơ quan, doanh nghiệp quản lý.

Tuy nhiên tình hình cấp nước đô thị còn nhiều bất cập:

1.         Tỷ lệ cấp nước còn rất thấp: trung bình đạt 45% tổng dân số đô thị được cấp nước, trong đó đô thị loại I và loại II đạt tỷ lệ 67%, các đô thị loại IV và loại V chỉ đạt 10-15%.

2.         Công suất thiết kế của một số nơi chưa phù hợp với thực tế: Nhiều nơi thiếu nước, nhưng cũng có đô thị thừa nước, không khai thác hết công suất, cá biệt tại một số thị xã chỉ khai thác khoảng 15-20% công suất thiết kế.

3.         Tỷ lệ thất thoát thất thu nước còn cao: Sau Hội nghị cấp nước toàn quốc lần thứ III, các công ty cấp nước địa phương đã có nhiều cố gắng giảm tỷ lệ thất thoát thất thu nước đã được Bộ Xây dựng đề ra. Nhiều địa phương như Hải Phòng, Huế, Đà Lạt, Vũng Tàu, Tiền Giang, đạt được kết quả tốt, nhưng tại nhiều đô thị tỷ lệ thất thoát thất thu vẫn còn cao như Thái Nguyên, Hà Nội, Nam Định, Hà Tĩnh, Vinh…

Tỷ lệ thất thu cao không chỉ chứng tỏ sự yếu kém về mặt năng lực quản lý (cả tài chính và kỹ thuật) mà nó còn thể hiện kết quả của quá trình đầu tư không đồng bộ giữa việc tăng công suất với công tác phát triển mạng lưới đường ống. Bộ Xây dựng đã đề ra chỉ tiêu đến năm 2005: Đối với các đô thị có hệ thống cấp nước cũ tỷ lệ thất thoát thất thu dưới 40%, các đô thị có hệ thống cấp nước mới là nhỏ hơn 30%.

4.         Chất lượng nước: tại nhiều nhà máy chưa đạt tiêu chuẩn quy định, tình trạng nguồn nước ngầm, nước mặt bị ô nhiễm nặng nề ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhân dân. Theo số liệu thống kê, tổng công suất khai thác hiện nay là 2,9 triệu m3/ngđ (trong đó 66% là nước mặt, 34% là nước ngầm). Công tác khảo sát và quản lý nguồn nước nói chung do Bộ Tài nguyên - Môi trường và địa phương quản lý. Việc chất lượng nguồn nước có những biến động trong quá trình khai thác do nhiều nghuyên nhân:

-            Tình hình khí tượng thuỷ văn trong những năm gần đây có nhiều biến động phức tạp, tình hình, hạn hán, lũ lụt ngày càng nghiêm trọng do hậu quả của hiện tượng phá rừng kết hợp với ENNINO. Do ảnh hưởng của thuỷ triều, nhiều nguồn nước của các đô thị duyên hải (Đà nẵng, Nha Trang, Huế, Mỹ Tho, Cà Mau, Kiên Giang…) bị nhiễm mặn với thời gian kéo dài cả trên diện rộng và chiều sâu trên đất liền.

-            Công tác khảo sát nguồn nước chưa sát với tình hình thực tế, chưa dự báo được những biến động về mặt trữ lượng cũng như về mặt thuỷ địa hoá.

-            Công nghệ xử lý nước tại một số nhà máy nước chưa đồng bộ và hoàn chỉnh. Một số dự án công nghệ do tư vấn nước ngoài thiết kế chưa phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.

-            Vấn đề ô nhiễm nguồn nước do tác động của con người đang diễn ra ngày càng trầm trọng. Tình hình xả nước thải không qua xử lý ra sông hồ nơi cũng là nguồn cung cấp nước không được kiểm soát. Tại nhiều địa phương hàng ngàn, hàng vạn lỗ khoan mạch nông đang là nguồn gây ô nhiễm cho tầng chứa nước đang khai thác.

-            Công tác quản lý khai thác nguồn nước mặt và nước ngầm chưa được các cấp, các ngành quan tâm thích đáng. Tư duy “Nước trời cho” đã dẫn đến tình trạng buông lỏng quản lý, tác động xấu đến chất lượng nguồn nước mặt và nước ngầm.

5.         Cơ chế chính sách ngành nước còn nhiều bất cập, đặc biệt là cơ chế tài chính (giá nước) chưa phù hợp với tinh thần Chỉ thị số 40/1998/CT-TTg về việc tăng cường công tác quản lý và phát triển cấp nước đô thị, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu “phải xây dựng giá nước theo nguyên tắc tính đúng, tính đủ, phù hợp với khả năng chi trả của khách hàng và trả nợ vốn vay”. Hiện nay giá nước sinh hoạt tại các địa phương còn nhiêù bất cập, tạo ra sự thiếu hợp lý, không công bằng giữa người dân ở các đô thị lớn(Hà Nội, Đà Nằng. TP Hồ Chí Minh) và người dân ở các đô thị nhỏ kinh tế khó khăn nhưng lại thiếu nước trầm trọng. Điều quan trọng nhất phải đề cập đến là: giá nước sinh hoạt ở các đô thị hiện nay không thể hiện được nguyên tắc "nước cần được xem là hàng hoá kinh tế". Các Công ty cấp nước chưa thực sự chuyển đổi từ loại hình doanh nghiệp công ích sang hoạt động kinh doanh

Theo các chuyên gia cấp nước, nếu mức bình quân của gia nước sinh hoạt trên toàn quuốc hiện nay là 2.100 đ/m3 thì chi phí này mới chiếm 1,4%^ thu nhập thực tế của người dân, trong khi đó tại các nước ở khu vực phát triển tỷ lệ này là 3%. Nguyên nhân của tình trạng trên là do:

-            Nhận thức của Lãnh đạo địa phương còn hạn chế, tư duy "nước trời cho", nước là dịch vụ công ích, Chính phủ phải có trách nhiệm đầu tư và cung cấp nước "miễn phí" cho dân vẫn còn tồn tại phổ biến.

-            Cơ chế, chính sách tài chính trong cấp nước đô thị vẫn còn thiếu hoàn chỉnh và không đồng bộ. Tỷ lệ khấu hao tài sản cố định là vấn đề khó khăn lớn nhất trong quá trình tính giá thành. Một số doanh nghiệp còn rất lúng túng không biết tính khấu hao như thế nào vì chưa có hướng dẫn cụ thể .

-            Nhiều dự án vay của nước ngoài phải trả nợ theo lộ trình tăng giá nước nhưng điều kiện trả nợ lại không khả thi và khó thực hiện.

6.         Mô hình tổ chức, quản lý vận hành, đào tạo, nâng cao năng lực ngành nước cũng còn nhiều vấn đề cần phải giải quyết. Nhằm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 và Quyết định số 58/2002 ngày 26/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ các Công ty cấp nước sẽ chuyển sang hoạt động kinh doanh. Nhưng nước sạch là là sản phẩm tiêu dùng phục vụ sản xuất và dân sinh, vì vậy đòi hỏi khách quan về cơ chế, chính sách đối với kinh doanh nước sạch cũng cần có những thay đổi phù hợp, nhằm đảm bảo hoạt động sản xuất ổn định và phát triển lâu dài. Để khắc phục tình trạng trên, tháng 11 năm 2004 Bộ Xây dựng đã trình Thủ tướng Chính phủ Đề án cải tiến mô hình tổ chức Ngành nước Việt Nam.

II.              CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG

Để giải quyết khó khăn cho các đô thị, thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao mức sống cho nhân dân, vừa qua Chính phủ đã phê duyệt các Định hướng phát triển cấp nước, thoát nước đô thị đến năm 2020, Bộ Xây dựng đã cụ thể hoá trong Chương trình khung nhằm hướng dẫn các đại phương thực hiện. Mục tiêu của Định hướng phát triển cấp nước đô thị Việt Nam là đến năm 2020 có 100% dân số đô thị được cấp nước sạch với tiêu chuẩn 180 -200 l/người/ngày đối với các đô thị lớn và 120 -150 l/người/ ngày đối với các đô thị vừa và nhỏ.

Thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách về cấp nước cho các đô thị, Bộ Xây dựng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng các Bộ, Ban Ngành Trung ương đã tiến hành tiếp xúc với các tổ chức tài chính Quốc tế như WB, ADB cùng các nhà tài trợ khác tìm kiếm nguồn vốn đầu tư xây dựng và cải tạo mở rộng hệ thống cấp nước cho các đô thị. Trong những năm qua, Bộ Xây dựng đã và đang triển khai:

-            Chương trình cấp nước cho các thành phố, thị xã tỉnh lỵ.

-            Chương trình cấp nước cho các thị xã, thị trấn huyện lỵ.

-            Chương trình chống thất thoát thất thu nước.

Đối với các đô thị nhỏ từ năm 1996 đến năm 2000 Bộ Xây dựng đã triển khai chương trình cải tạo cấp bách hệ thống cấp nước cho 77 thị trấn bằng nguồn tài trợ của OECF (nay là JBIC) Nhật Bản với tổng vốn đầu tư khoảng 28 triệu USD. Chương trình này tuy đơn giản (xây bể chứa, thay thế máy bơm, đường ống) nhưng đã cải thiện đáng kể tình hình cấp nước cho các đô thị có dự án.

Để tiếp tục đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước cho các đô thị vừa và nhỏ giai đoạn 2001- 2010, Bộ Xây dựng đã có văn bản đề nghị và được Thủ tướng Chính phủ cho phép triển khai chương trình đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước cho 180 thị xã, thị trấn là huyện lỵ trên cả nước (công suất các trạm cấp nước từ 500 đến 3000 m3/ngđ) với tổng kinh phí dự kiến khoảng 200 triệu USD. Các tiêu chí để địa phương lựa chọn các đô thị ưu tiên cấp nước trong giai đoạn 1 là:

-            Các đô thị là trung tâm văn hoá, xã hội, là hạt nhân cho phát triển kinh tế tại địa phương.

-            Chưa có hệ thống cấp nước hoặc đã có nhưng chưa hoàn chỉnh.

-            Các đô thị nằm ở khu vực khó khăn thường xuyên bị ảnh hưởng của thiên tai (hạn hán, lũ lụt).

Để giải quyết nguồn lực tài chính, Bộ Xây dựng đã tiếp cận với các nhà tài trợ WB, ADB, Nhật, Pháp…đồng thời tổ chức các hội thảo để tìm kiếm sự giúp đỡ về tài chính. Bộ Xây dựng cũng quan tâm đến việc huy động các nguồn nội lực thông qua sự đóng góp của các doanh nghiệp Nhà nước, chính quyền địa phương và cộng đồng xã hội.

III.           NHỮNG ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ

Để thực hiện có hiệu quả các dự án cấp nước đô thị, tránh lặp lại các thiếu sót trong đầu tư, quản lý, vận hành, chúng ta phải đưa ra các phương thức quản lý đầu tư, vận hành mới phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Trong Hội thảo này có nhiều vấn đề cần nghiên cứu giải quyết như các vấn đề về tư vấn thiết kế, mô hình đầu tư, đặc biệt là vấn đề quản lý, vận hành và kế hoạch tài chính nhằm đảm bảo cho công trình đầu tư phát huy hiệu quả và phát triển bền vững.

1.         Công tác tư vấn thiết kế: Cần lựa chọn các cơ quan tư vấn chuyên ngành có kinh nghiệm và năng lực trong công tác thiết kế các hệ thống cấp nước để có thể xác định phương án chọn dây chuyền công nghệ xử lý nước phù hợp, đảm bảo chất lượng nhưng đơn giản trong vận hành, vật tư thiết bị có giá thành thấp, có thể cung cấp tại chỗ; Lựa chọn được nguồn nước hợp lý, ổn định; Bố trí trạm xử lý, mạng lưới đường ống phù hợp với mặt bằng địa hình và đặc thù phân bố dân cư của địa phương. Các đơn vị tư vấn phải chịu trách nhiệm về chất lượng hồ sơ thiết kế (bao gồm cả kinh tế và kỹ thuật).

2.         Quản lý đầu tư: Thực hiện chủ trương xã hội hóa ngành cấp nước của Chính phủ, nhiều thành phần kinh tế đã tham gia tích cực công tác xây dựng và quản lý các hệ thống cấp nước với mức độ và quy mô khác nhau. Hiện nay có nhiều mô hình quản lý đầu tư như chính quyền địa phương, doanh nghiệp Nhà nước, hợp tác xã, tư nhân…Qua thực tế chúng tôi nhận thấy rằng: trong giai đoạn hiện nay, các Công ty cấp nước địa phương có vai trò quan trọng vì hội đủ các điều kiện như năng lực về tài chính, khả năng quản lý quá trình đầu tư xây dựng cũng như quản lý vận hành hệ thống cấp nước, đảm bảo công trình làm việc ổn định, cấp nước an toàn, liên tục; Công ty cấp nước có trách nhiệm thu hồi vốn đầu tư đồng thời có kế hoạch phát triển hệ thống cấp nước cho tương lai. Để đáp ứng được nhiệm vụ trên, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố cần thống nhất giao công tác quản lý, vận hành hệ thống cấp nước đô thị cho một đầu mối đó là Công ty cấp nước Tỉnh. Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, Công ty cấp nước cần đề xuất các đô thị ưu tiên, xác định nhu cầu cấp nước, chuẩn bị cán bộ kỹ thuật và công nhân vận hành, đề xuất các phương án quản lý, phát triển hệ thống cấp nước cũng như kế hoạch hoàn trả vốn đầu tư. Trong quá trình thực hiện, chủ đầu tư được lựa chọn các nhà thầu là doanh nghiệp, HTX, tư nhân tham gia đấu thầu theo quy định hiện hành.

3.         Cơ chế tài chính: Tổ chức thực hiện các dự án đầu tư theo các quy định hiện hành. Cơ quan Tài chính và Ngân hàng có trách nhiệm quản lý, hướng dẫn giải ngân và thanh toán trả nợ cho các nhà tài trợ. Công ty cấp nước là đơn vị chủ đầu tư có trách nhiệm quản lý vận hành hệ thống cấp nước, kinh doanh đủ thu hồi vốn đầu tư và hoàn trả nợ. Để đảm bảo khả năng thu hồi vốn và trả nợ, giá nước phải đảm bảo bù đắp chi phí đầu tư, vận hành có lãi. Các hộ tiêu thụ ở các đô thị nhỏ thường có thu nhập thấp do đó Nhà nước cần có các chính sách ưu tiên trong quá trình đầu tư và quản lý như hỗ trợ về giải phóng mặt bằng, giảm các loại thuế như tài nguyên, thuế doanh nghiệp... Các địa phương cần có các chính sách huy động các nguồn vốn trong nhân dân, trong các doanh nghiệp để hỗ trợ đầu tư theo phương châm xã hội hoá ngành cấp nước đã được đề cập trong Định hướng phát triển cấp nước đô thị Việt Nam đến năm 2020. Hiện nay các Công ty cấp nước được xác định là doanh nghiệp kinh doanh, do vậy cần nghiên cứu sắp xếp tổ chức quản lý phù hợp, đặc biệt là cơ chế tài chính, đảm bảo lấy thu bù chi và tái đầu tư cho sản xuất. Vừa qua, nhằm sửa đổi Thông tư 03/1999 Bộ Xây dựng và Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 04/2004 ngày 08/11/2004 vê: "Hướng dẫn phương pháp xác định giá tiêu thụ nước sạch". Bộ Tài chính cũng đa dự thảo "Khung giá tiêu thụ nước sạch sinh hoạt" để lấy ý kiến tham gia của các Bộ, Ban. Ngành Trung uơng-địa phương, dự kiến cuối quý I/2005 sẽ ban hành.

Mặc dù trong nội dung còn chưa hoàn chỉnh nhưng các văn bản này thực sự có ý nghĩa quan trọng đối với các công ty cấp nước; đây là những cơ sở pháp lý giúp các doanh nghiệp tự chủ về tài chính, chuyển đổi hoàn toàn từ cơ chế "bao cấp, xin- cho" sang kinh doanh.

4.         Chương trình sản xuất máy thiết bị, vật tư ngành nước

Nội dung của chương trình này đã được khẳng định trong:

-            Định hướng cấp nước đô thị đến năm 2020 đã được Chính phủ phê duyệt;

-            Chỉ thị số 40/1998/CT-TTg ngày 14/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý và phát triển cấp nước đô thị

-            Chiến lược môi trường ngành Xây dựng đến năm 2020 xác định: xây dựng công nghệ ngành nước hiện đại đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.

5.         Đào tạo và nâng cao năng lực:

-            Tăng cường công tác đào tạo, nâng cao tay nghề cho đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật.

-            Xây dựng các công ty tư vấn dủ đội ngũ những nhà khoa học có khả năng áp dụng công nghệ mới, tiên tiến trong các dự án cấp thoát nước.

6.         Tổ chức thực hiện:

-            Chương trình cấp nước cho các đô thị được triển khai trên quy mô toàn quốc, vì vậy cần tổ chức điều hành tốt công tác quản lý. Uỷ ban nhân dân các tỉnh chỉ đạo Công ty cấp nước thực hiện trách nhiệm quản lý, vận hành, duy tu bảo dưỡng với yêu cầu an toàn và bền vững hệ thống cấp nước. Chính quyền địa phương cần quan tâm chỉ đạo công tác quản lý, xây dựng kế hoạch phát triển hệ thống cấp nước, điều hành mạng lưới đường ống.

-            Địa phương cần có chính sách phù hợp để xã hội hoá ngành cấp nước đặc biệt là công tác ghi thu và phân phối nước cho các hộ tiêu dùng. Cần tổ chức, huy động sự tham gia của mọi thành phần kinh tế và các tổ chức xã hội.

-            Làm tốt công tác khen thưởng và xử phạt hành chính để động viên, khuyến khích, lập lại kỷ cương trong quản lý cấp nước.

Toàn bộ các đề xuất trên nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mà Định hướng cấp nước đô thị Việt Nam đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và Chương trình khung đã được ban hành để Ngành nước đô thị Việt Nam thực hiện.

 

KS. Bùi Đình Khoa

Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu đô thị và phát triển hạ tầng

 

 
CÁC TIN KHÁC
  SÔNG HỒNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ NƯỚC TRONG QUY HOẠCH

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn