I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
DỰ ÁN THUỶ LỢI LƯU VỰC SÔNG HỒNG GIAI ĐOẠN 2 BIÊN BẢN GHI NHỚ CỦA ĐOÀN KIỂM TRA GIỮA KỲ
 

   I.     GIỚI THIỆU

1.         Một đoàn kiểm tra (Đoàn kiểm tra) gồm đại diện Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB), Cơ quan phát triển Pháp (AFD) và Chính phủ Hà Lan[1] cùng với đại diện của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (MARD – Cơ quan điều hành dự án ỬEAỨ[2] đã tiến hành kiểm tra giữa kỳ (MTR) Dự án Thuỷ lợi Lưu vực Sông Hồng Giai đoạn 2 (Dự án) từ ngày 13 đến 30/6/2005. Các chuyên gia quản lý dự án Phần A5 đã hỗ trợ cho Đoàn kiểm tra[3].

2.         Kiểm tra giữa kỳ, một mốc quan trọng trong quá trình thực hiện Dự án, nhằm kiểm tra: (i) Tiến độ dự án đến thời điểm kiểm tra, bao gồm đánh giá xã hội, huy động, và RDS; chất lượng của các kế hoạch tiểu dự án và của các thiết kế; các công trình thực hiện bước đầu; chất lượng thi công; và các lợi ích ban đầu; (ii) Các mục tiêu và kế hoạch thực hiện tiếp theo; (iii) phân bổ vốn cho các tiểu dự án và các hạng mục vốn vay; (iv) hiệu quả của hệ thống quản lý dự án và các cách bố trí thực hiện cũng như bất kỳ nhu cầu sửa đổi nào; (v) bất kỳ các vấn đề lớn về môi trường hay xã hội nào phát sinh trong tiểu dự án; và (vi) tình hình cải thiện về mặt chính sách và thể chế trong quản lý nguồn nước.

3.         Do các vấn đề thực hiện chủ yếu do Phần B tiến hành nên MTR chỉ tập trung vào phần này. Việc kiểm tra toàn diện đối với Phần A sẽ được tiến hành vào tháng 11/2005 khi Phần A hoàn thành giai đoạn hai. Nhận thức các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện, MARD đã gửi một đề xuất trước tới MTR để sửa đổi thiết kế và cách bố trí thực hiện của Phần B để đẩy nhanh việc thực hiện, xem Phụ lục 01.

4.         Đoàn kiểm tra đã có buổi thảo luận với các cơ quan liên quan của MARD, các Sở NN&PTNT (DARDs) và các Ban quản lý dự án (PIUs) của bảy (07) tỉnh[4]. Đoàn kiểm tra cũng gặp gỡ người hưởng lợi và những hộ gia đình chịu ảnh hưởng bất lợi từ dự án. Danh sách các cá nhân mà Đoàn đã tiếp xúc được liệt kê trong Phụ lục 2. MOU tổng kết các đánh giá của Đoàn kiểm tra, các vấn đề chính đã thảo luận cũng như những hiểu biết đã đạt được. MOU đã được thảo luận và hoàn thiện tại cuộc họp tổng kết ngày 30/6/2005. MOU sẽ được các cơ quan cao hơn của ADB, AFD, Chính phủ Hà Lan và MARD phê duyệt.

    II.               TỔNG QUAN

5.                  Dự án sử dụng vốn vay ADB, Khoản vay 1855 – trị giá 70 triệu USD, viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Hà Lan TA3892 – trị giá 10,6 triệu USD, và vốn vay AFD, Khoản vay CVN 1061 01C – trị giá 35 triệu EURO. Khoản vay ADB được phê duyệt ngày 03/11/2001, bắt đầu có hiệu lực ngày 15/5/2002 và dự kiến hết hạn rút vốn từ tài khoản vay ngày 30/6/2008. Khoản vay AFD được phê duyệt ngày 15/11/2001, bắt đầu có hiệu lực ngày 31/7/2002, và dự kiến hết hạn rút vốn từ tài khoản vay ngày 31/7/2008.

6. Dự án gồm 02 cấu phần: Phần A (vốn viện trợ không hoàn lại) giải quyết các vấn đề liên quan đến quản lý nguồn nước tổng hợp (IWRM) gắn với xây dựng thể chế, và Phần B (vốn vay ADB và AFD) nâng cấp cơ sở hạ tầng và các dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp cần thiết. Để đạt được hiệu ích cao nhất từ các dịch vụ nước, Dự án hỗ trợ các nhu cầu ưu tiên có liên quan do nông dân nghèo xác định thông qua các hoạt động hỗ trợ phát triển nông thôn bổ sung (RDS). Theo thiết kế ban đầu, Phần A do Cục Quản lý nước (DWR) thực hiện trong khi đó Phần B do Ban Quản lý TW Dự án thuỷ lợi thực hiện (Ban CPO) thực hiện.

7.                  So với dự án thực hiện trước đó – Khoản vay 1344-VIE(SF): Dự án Thuỷ lợi Đồng bằng Sông Hồng (RRDWRSP) – Dự án có một số yếu tố mới là: Phần A – thực hiện IWRM, bao gồm các tiểu dự án cho các tỉnh miền núi và các tiểu dự án phòng chống lũ; và cấu phần RDS. Thiết kế ban đầu của Dự án yêu cầu ít nhất 30% vốn Phần B dành cho đầu tư tiểu dự án phân bổ cho các tiểu dự án miền núi. Thiết kế cũng đòi hỏi ít nhất 25% vốn đầu tư cho các tiểu dự án tưới tiêu phân bổ cho cấu phần RDS trong khi đó RDS không bắt buộc đối với các tiểu dự án phòng chống lũ có vốn đầu tư đến 15%. Các tiêu chí sàng lọc và lựa chọn tiểu dự án – tổng số 22 tiêu chí – là không quá khắt khe bất thường đối với một dự án ngành ADB. Tuy nhiên, có 3 tiêu chí Ỏthống nhấtÕ, đó là (i) ít nhất 33% số người hưởng lợi của một tiểu dự án sống dưới mức nghèo theo tiêu chuẩn quốc tế - điều này nhằm đảm bảo trọng tâm giảm nghèo của Dự án, (ii) lập một kế hoạch O&M cho hệ thống nằm trong tiểu dự án; và (iii) chi phí đầu tư cho một tiểu dự án không vượt quá 05 triệu USD.

8.         Năm 2003 – 2004 đã tiến hành dự án JFPR bổ sung (JFPR 9046: Giảm nghèo ở hệ thống thủy lợi lưu vực sông Hồng). Dự án này nhằm kiểm tra thử nghiệm cách bố trí thực hiện đối với cấu phần RDS thuộc Phần B, một cấu phần dựa trên cách tiếp cận theo nhu cầu và có sự tham gia. Cùng lúc với thực hiện khoản vay, dự án JFPR được hy vọng sẽ được tiến hành trong năm đầu tiên thực hiện Dự án. Tuy nhiên, kế hoạch không thực hiện được do hai đề xuất JFPR trước đó không được các lãnh đạo JFPR thông qua. Việc thực hiện dự án JFPR chỉ bắt đầu vào giữa năm 2004 và một tổ chức phi chính phủ (CARE) đã được tuyển dụng để thực hiện thí điểm RDS từ tháng 11/2004. Hướng dẫn lập các ban RDS và kế hoạch cho các hoạt động RDS đang được hoàn tất.

9.         Dự án được thẩm định từ trước khi Đoàn kiểm tra hoàn thành dự án (PCR) của dự án RRDWRSP vào kiểm tra (năm 2002)[5]. Một kết luận quan trọng của PCR này là hiệu quả đầu tư dự án giảm do việc đầu tư không đầy đủ vào các hệ thống tiêu và các hệ thống kênh cấp thấp hơn. Về mặt này, PCR nhấn mạnh: “Đáng lẽ ADB nên có quan điểm cứng rắn hơn đối với chất lượng chuẩn bị tiểu dự án bằng việc đưa ra các tiêu chuẩn tối thiểu”. Những kiến nghị trong PCR không được phản ánh đầy đủ trong thiết kế Dự án và phù hợp với quan điểm của MTR:

 (i) Phạm vi tiểu dự án nên được xác định trên cơ sở khảo sát chẩn đoán có sự tham gia (PDS) toàn hệ thống bao gồm các cấp độ kênh: kênh chính, kênh cấp hai, kênh cấp ba và kênh nội đồng; khảo sát chẩn đoán nên xem xét cả về phương diện vật chất và phi vật chất có tính quyết định đối với tình trạng hiện tại của hệ thống và khả năng cải thiện;

(ii) không nên xác định các mức trần chi phí dự toán cho tiểu dự án để tránh phân tách các hoạt động trong cùng một hệ thống; và

(iii)       Tổ chức tham khảo toàn diện với sự tham gia của tất cả các bên liên quan (nông dân, hội nông dân và hội phụ nữ cấp xã, các công ty khai thác các công trình thuỷ lợi (IDMCs) nên trở thành một phần không thể thiếu trong xác định, thiết kế và thực hiện tiểu dự án.

10.        Kết quả của PCR Khoản vay 1259 - Dự án Nâng cấp hệ thống tưới và phòng chống lũ đã hoàn thành tháng 7/2004 cũng phù hợp với MTR. PCR này kết luận việc đầu tư vào tưới “đã không nâng cấp được các cơ sở hạ tầng chính đến tiêu chuẩn đủ để đạt được các mục tiêu dự án đặt ra. Năng suất nông nghiệp hạn chế, cộng với giá gạo kinh tế giảm khiến cho hệ số EIRR thấp hơn dự đoán khi thẩm định. Các tiểu dự án tưới được đánh giá là phần nào thành công và các tiểu dự án phát triển tưới không thành công”. Đoàn đánh giá thực hiện tháng 5/2005 (OEM) đang chuẩn bị Báo cáo kiểm toán thực hiện dự án của Khoản vay 1259 có thể nâng cấp các tiểu dự án tưới đạt mức đáp ứng tiêu chuẩn. Tuy nhiên, OEM kết luận rằng bài học cơ bản có thể rút ra từ IFPRP là “mong muốn áp dụng cách tiếp cận tổng thể vào phát triển và nâng cấp hệ thống tưới”. Vì vậy, OEM kiến nghị một “cách tiếp cận tổng thể dựa trên nhu cầu nâng cấp cho hệ thống cấp thấp hơn cũng như các công trình đầu mối cho các công trình hệ thống chính, và cách tiếp cận đó sẽ giúp xác định được các yêu cầu cấp thấp hơn ở giai đoạn ban đầu và sẽ phác thảo một chương trình để giải quyết các khó khăn chủ yếu nhất. Điều này cho phép nâng cấp hệ thống tưới để tiếp tục theo phương thức có sự tham gia và có trật tự, chứ không phải phương thức tiếp cận từ trên xuống và không theo trật tự được đề ra trong thiết kế dự án”.

11.     Báo cáo chung của các nhà tài trợ ở Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam tháng 12/2003 nhấn mạnh vai trò của thuỷ lợi trong giảm nghèo. Tuy nhiên, báo cáo cũng thừa nhận các hệ thống tưới quy mô lớn đang gánh chịu việc quản lý sổ sách, tài chính yếu kém, và đình trệ trong duy tu. Sự tham gia của cấp địa phương thông qua các nhóm sử dụng nước có ý nghĩa sống còn đối với đảm bảo chất lượng dịch vụ và sử dụng tiết kiệm các nguồn nước hiện có.

12.       MARD vừa mới thông qua một hướng đi mới để cải thiện tình hình hoạt động của các hệ thống tưới tiêu. Tháng 12/2004, MARD đã ban hành kế hoạch quản lý tưới với tiêu đề “Đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý các công trình tưới”. Bốn lĩnh vực trọng tâm mà kế hoạch đề cập là:

·               Hoàn thiện cơ sở hạ tầng và hiện đại hoá kỹ thuật;

·               Chuyển sang quản lý có sự tham gia và tập trung hơn vào dịch vụ;

·               Cơ chế hoá tài chính để giảm các cấp phụ; và

·               Bảo vệ hiệu quả cơ sở hạ tầng khỏi xâm phạm.

13.        Xem xét chú trọng mới của MARD vào quản lý hệ thống, O&M và cách tiếp cận có sự tham gia, cũng như theo yêu cầu cụ thể của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT đầu năm 2005 đề nghị ADB hỗ trợ cải thiện hệ thống Bắc Hưng Hải, sau khi tham khảo ý kiến của tất cả các bên liên quan chính, ADB chấp thuận cấp một SSTA trị giá 150.000USD để đánh giá các vấn đề về thể chế và các khó khăn vật chất trong cải thiện tình trạng hoạt động của hệ thống. Trong năm 2005, SSTA này sẽ được chuẩn bị cùng với tư vấn của MARD.

14.        Đoàn kiểm tra đã xem xét đến nội dung trên và yêu cầu điều chỉnh thiết kế Phần B của MARD.

III         ĐÁNH GIÁ VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN DỰ ÁN TỔNG THỂ

15.       Dự án – cả Phần A và B - đang trải qua bước đầu chậm trễ ‘thông thường” của dự án từng thấy trong các dự án ADB thực hiện ở Việt Nam. Đến giữa tháng 6/2005, Phần A, tổng giá trị trao hợp đồng đạt 5,3 triệu USD và giải ngân được 2,6 triệu USD, tương ứng 50% và 24% tổng giá trị. Phần B, đã hết 50% thời gian cho phép rút vốn từ khoản vay, trong khi đó tổng tiến độ thực hiện chỉ đạt 14% cho thấy chậm trễ hơn hai năm. Đối với Khoản vay 1855, tổng giá trị trao hợp đồng đạt 6,7 triệu USD (8,6% giá trị thực của khoản vay)[6] và tổng giá trị giải ngân là 7,3 triệu USD (8,7% giá trị thực của khoản vay). Đối với Khoản vay AFD, tổng giá trị trao hợp đồng đạt 5,4 triệu USD (16,0% giá trị thực của khoản vay) và tổng giá trị giải ngân là 5,8 triệu USD (13,7% giá trị thực khoản vay).

16.        Đối với Phần A, các cán bộ quản lý dự án (PMEs) đã được Phần A5 huy động từ tháng 9/2002, chậm hơn kế hoạch (06) tháng. Tháng 8/2003, huy động tư vấn phần A1 – chậm hơn kế hoạch 18 tháng – để thực hiện giai đoạn “định hướng” ban đầu cho các cấu phần A1 – A4[7]. Hoàn thành từ tháng 3/2004, giai đoạn định hướng đã đưa đến nhất trí về các vấn đề chính trong quản lý nguồn nước tổng hợp (IWRM) ở Lưu vực sông Hồng. Trên cơ sở đó, các cấu phần A1 – A4 đã được hệ thống lại thành năm (05) cấu phần sau: (i) IWRM ở lưu vực sông Cầu đặt trọng tâm vào giảm thiểu khô hạn, (ii) IWRM thông qua cải thiện quản lý lũ chiến lược ở đồng bằng sông Hồng, (iii) IWRM ở các tiểu lưu vực miền núi lựa chọn ở tỉnh có tỷ lệ nghèo cao, (iv) IWRM ở tiểu lưu vực sông Đáy đặt trọng tâm vào quản lý chất lượng nước để giảm thiểu ô nhiễm công nghiệp và đô thị, và (v) IWRM thông qua sự hỗ trợ của các hoạt động RRBO. Việc hệ thống lại đã phản ánh sự chuyển giao trách nhiệm về thể chế sang quản lý chất lượng nước từ MARD sang MONRE năm 2002 và, kết quả là, MONRE trở thành cơ quan thực hiện cấu phần (iv).[8] Sau khi đã hệ thống lại, phần A gồm hai (02) giai đoạn: giai đoạn thiết kế & lập kế hoạch, và giai đoạn thực hiện. Giai đoạn thiết kế & lập kế hoạch bắt đầu từ đầu tháng 10/2004, bước khởi đầu đã hoàn thành vào tháng 3/2005 và giai đoạn này sẽ hoàn thành vào tháng 10/2005. Giai đoạn thực hiện dự kiến sẽ bắt đầu vào đầu năm 2006.

17.        Nhìn chung, giai đoạn thiết kế & lập kế hoạch đáp ứng về tiến độ dù có vấn đề về thể chế liên quan đến trách nhiệm đối với quản lý và quy hoạch lưu vực sông[9], vấn đề hỗ trợ đối tác không đầy đủ ở một số hoạt động, và mối quan hệ công việc khó hiểu giữa DWR và Viện Quy hoạch thuỷ lợi (IWRP)[10]. Các vấn đề này đã được đưa ra thảo luận và phần nào đã được giải quyết ở cuộc họp ba bên tổ chức ngày 7/6/2005. Đang nảy sinh một số đề xuất đối với việc thực hiện trong giai đoạn tới. ở cấu phần tiểu lưu vực sông Cầu, đã xác định được một vấn đề IWRM quan trọng có tính liên tỉnh liên quan đến hoạt động của hồ Núi Cốc xuất phát từ việc cạnh tranh nhu cầu về nước cho nông nghiệp, du lịch và môi trường. Các chuyến thăm thực địa cho cấu phần này cũng cho thấy tiểu dự án thuộc dự án RRDWRSP nhằm nâng cấp hệ thống tưới sông Cầu đã không đem lại cải thiện lớn cho hoạt động của hệ thống do hạn chế đầu tư vào các công trình đầu mối và đoạn đầu của kênh chính. Điều này chứng minh kiến nghị của PCR đối với Khoản vay 1344: cần thông qua nhu cầu về cách tiếp cận tổng thể hệ thống – mở trong chuẩn bị tiểu dự án của Phần B. Dự kiến giai đoạn hiện nay của Phần A sẽ đưa đến các đề xuất cho các tiểu dự án thuộc Phần B ở các tỉnh miền núi và trung du, và ở các tỉnh đồng bằng (với mục tiêu phòng chống lũ). Do các hướng dẫn cấp phép lấy nước và thải nước dự kiến sẽ được phê duyệt sớm, nên giai đoạn tiếp theo của Phần A dự kiến sẽ hỗ trợ thực hiện những hướng dẫn này ở các lưu vực sông Cầu và sông Đáy – Nhuệ.

18.        Cùng với sự trợ giúp của Phần A5, tháng 8/2004, Uỷ ban lưu vực sông Hồng (RRBC) đã lập và xác nhận Kế hoạch hành động ngành nước (WSAP)[11]. WSAP xác lập một khung ưu tiên cho các tiểu dự án thuộc Phần B liên quan đến tưới tiêu ở đồng bằng sông Hồng. Do thông tin không đầy đủ, nên việc lập WSAP cho các tiểu dự án tưới miền núi đã không được tiếp tục nữa[12]. Cũng với sự hỗ trợ của Phần A5, phương pháp khảo sát chẩn đoán có sự tham gia (PDS) đã được xây dựng nhằm xác định các vấn đề về hoạt động của hệ thống và đầu tư tiểu dự án theo mục tiêu cho các xã nghèo hơn ở khu vực cần có hệ thống. PDS – một trong những kiến nghị của PCR Khoản vay 1344 - được kiểm tra thí điểm thành công ở một tiểu dự án không phải là mẫu đề xuất. Việc kiểm tra đã chỉ ra những thiếu sót lớn trong nội dung thiết kế cơ bản của tiểu dự án. Vì thế, hậu quả là tiểu dự án bị loại khỏi danh sách các tiểu dự án đề xuất.

19.        Những việc đã làm nhằm xây dựng WSAP và những đánh giá về nghiên cứu khả thi của một số tiểu dự án đề xuất cho thấy việc xác định những tiểu dự án đề xuất là một thách thức vì sản xuất nông nghiệp ở lưu vực sông Hồng nói chung ở mức cao. Vì vậy, các tiểu dự án cần xác định rõ địa điểm thực hiện là những khu vực có mức sản xuất tương đối thấp.

20.        Để đẩy nhanh việc thực hiện của Phần B, cách bố trí thực hiện tiểu dự án đã được điều chỉnh trong hai năm 2003 và 2004. Việc bỏ yêu cầu phải hoàn thành quá trình huy động xã hội cho hoạt động RDS trước khi ký kết hợp đồng đã cho phép tiến hành thi công ở các tiểu dự án mẫu vào tháng 10/2004 (ba tiểu dự án sử dụng vốn Khoản vay 1855 và một sử dụng vốn AFD). Một dự án không phải là mẫu (sử dụng vốn vay AFD) cũng đang trong quá trình thực hiện. Một dự án cũng không phải là mẫu khác (sử dụng vốn vay ADB) nhằm nâng cấp hệ thống Nam Yên Dũng đã được phê duyệt tháng 3/2005. Tổng vốn đầu tư cho sáu (06) tiểu dự án này lên tới 22 triệu USD, so với 127 triệu USD đầu tư cho tiểu dự án thuộc Phần B. MARD đã gửi báo cáo thẩm định của tiểu dự án không phải là mẫu thứ hai cho ADB vào ngày 3/6 và của tiểu dự án thứ ba vào 24/6/2005. MARD dự kiến sẽ hoàn thành thẩm định 10 tiểu dự án không phải là mẫu trong năm 2005 – 2006.

21.        Đoàn kiểm tra tháng 4/2004 đã xác định được các vấn đề chính sau đây đã gây chậm trễ cho việc thực hiện của Phần B: (i) chậm trễ trong tuyển dụng Tư vấn phần A và phần B dù ADB đã phê duyệt cho phép tiến hành trước hoạt động này trong thời gian thẩm định dự án, (ii) việc ADB cơ cấu lại tổ chức vào đầu năm 2002 đã khiến ADB chậm đưa ra các ý kiến trả lời MARD trong năm này; (iii) cách tiếp cận thực hiện tổng thể của Dự án đòi hỏi phải có sự kết hợp giữa các cấu phần[13]; (iv) chậm trễ trong kiểm tra thí điểm việc thực hiện cấu phần RDS mới đưa vào trong Dự án này. ở dự án RRDWRSP, MARD đã tiến hành nghiên cứu khả thi cho 20 tiểu dự án đề xuất sử dụng khoản tiền còn lại từ khoản vay nhưng các công ty thiết kế không hoàn toàn tuân theo hướng dẫn của Khoản vay 1344 cũng như những tiêu chuẩn ngành do MARD ban hành năm 2002. Kết quả là, nghiên cứu khả thi đã không cung cấp đủ thông tin để đánh giá các tiểu dự án dựa trên các tiêu chí lựa chọn và sàng lọc tiểu dự án đã được thống nhất. Các đề xuất tiểu dự án cũng không phản ánh được cách tiếp cập tổng thể như đã kiến nghị trong PCR của Khoản vay 1344.[14]

22.        Sau khi có Đoàn kiểm tra tháng 4 năm 2004, thực hiện phần B đã được cải thiện thể hiện ở việc đang triển khai sửa chữa và nâng cấp các công trình 5 tiểu dự án. Một tiểu dự án mẫu (Nghĩa Lộ) hiện gần hoàn thành và một tiểu dự án mẫu khác (sông Đuống) vượt kế hoạch. Tiểu dự án không phải là mẫu đê sông Hoàng Long cũng được thực hiện tốt. Tuy nhiên, các vấn đề chính sau đây vẫn chưa được giải quyết ở thời điểm có Đoàn kiểm tra giữa kỳ: (i) Bộ chưa sẵn sàng cam kết cung cấp vốn để nâng cấp chất lượng của nghiên cứu khả thi [15] (ii) khó khăn trong việc áp dụng các tiêu chí lựa chọn và thẩm định đối với các tiểu dự án miền núi,[16] và (iii) chưa hoàn thành hướng dẫn thực hiện cấu phần RDS vì hiện mô hình thí điểm vẫn đang được triển khai, thêm vào đó là sự quan tâm chưa nhiều của CPO trong việc chủ động hỗ trợ thực hiện RDS.

23.       Đối với phần nghiên cứu tiểu cấu phần, nghiên cứu đầu tiên về hiệu quả tiêu được triển khai từ tháng 1 năm 2005. Thiết kế của tài liệu nghiên cứu trạm bơm và O&M vẫn cần được hoàn thiện sau hội thảo các bên liên quan ngày 27/4/2005. Nghiên cứu lợi ích phi nông nghiệp từ tưới đang được thực hiện và tiến độ của nó phụ thuộc vào kết quả của Đoàn kiểm tra giữa kỳ (MTR).

24.        Theo Hiệp định Vay của Khoản vay 1855 gồm tổng số 42 điều khoản cụ thể và điều khoản phụ. Tình hình thực hiện chi tiết các điều khoản được trình bày ở Phụ lục 3 với 26 điều khoản đã và đang hoàn thành, 3 điều khoản chưa thực hiện, 6 điều khoản hoàn thành một phần và 1 điều khoản chưa hoàn thành. Sáu điều khoản còn lại cần phải chỉnh sửa vì không cón phù hợp. Các điều khoản cần thiết phải sửa đổi liên quan đến phân bổ ngân sách phần B cho các tiểu dự án miền núi, các tiêu chí xác định và thẩm định tiểu dự án, BME, RDS và tái định cư. Những điều chỉnh này sẽ tạo thuận lợi cho việc thực hiện dự ánvà sẽ phản ánh các thoả thuận đạt được trong MTR.

25.        Phần đánh giá chung của Đoàn kiểm tra về nội dung các nguyên nhân sâu xa của những khó khăn trong suốt 3,5 năm đầu tiên thực hiện dự án như sau:

·               Dự án được thực hiện ở thời điểm mà những bài học từ việc thực hiện hai dự án thuỷ lợi do ADB tài trợ trước đó vẫn chưa đầy đủ. Vì vậy, thiết kế dự án chưa tính đến các đề xuất quan trọng trong PCR của hai dự án này;

·               Trong khi lập và hoàn thành thiết kế dự án, quyền quản lý dự án có nét mới của Bộ trong tổng hợp đầu tư theo định hướng thiết kế truyền thống vào nâng cấp và cải thiện hệ thống tưới tiêu trong khuôn khổ dự án có trọng tâm vào giảm nghèo, IWRM, O&M bền vững và nâng cao tính tự chủ của dịch vụ tưới đã không được đánh giá đầy đủ, và mức độ xây dựng năng lực về thể chế và quá trình phân cấp được kỳ vọng quá mức.

·               Những khó khăn trong việc mở rộng phạm vi các các tiểu dự án thuộc phần B từ các tỉnh đồng bằng thuộc Dự án thuỷ lợi đồng bằng sông Hồng (RRDWRSP) sang các tỉnh miền núi chưa được nhận thức đầy đủ trong suốt quá trình thẩm định và chuẩn bi dự án;

·               Thiết kế dự án cho thấy sẽ có một khoản viện trợ JFPR tương đối lớn trong giai đoạn khởi động dự án[17] nhằm hỗ trợ đẩy nhanh tiến độ cấu phần RDS, một nét mới và thêm vào dự án cải thiện và nâng cấp tưới tiêu.[18] Thật không may, dự án JFPR bị cắt giảm vốn đầu tư có thể có thể biết đến vào năm 2004, muộn hơn rất nhiều;

·               Việc bố trí tổ chức cấu phần RDS không được đánh giá đấy đủ trong quá trình thẩm định và chuẩn bị dự án: nếu nhận thức đúng thì sẽ phù hợp hơn nếu giao trách nhiệm thực hiện RDS cho Trung tâm khuyến nông quốc gia thuộc Bộ ở cấp quốc gia và cho các Trung tâm khuyến nông quốc gia cấp tỉnh;

·               Khả năng của CPO trong xem xét và thẩm định đề xuất của các tiểu dự án dựa trên các tiêu chí lựa chọn và thẩm định đã được đánh giá quá mức trong quá trình và kết quả là vai trò tư vấn phần B được chỉ định là rất hạn chế. Do đó, tư vấn phần B gặp khó khăn trong việc hỗ trợ CPO, các công ty thiết kế và các PIU. Thiếu sự tham gia của tư vấn phần B trong cơ chế của CPO và những khó khăn trong tiếp cận thông tin và số liệu đã làm giảm hiệu quả của dịch vụ tư vấn vốn đã hiếm hoi; và

·               Chất lượng các nghiên cứu khả thi được lập sử dụng khoản tiền còn lại từ Khoản vay 1344 kém và sự lưỡng lự ban đầu của MARD trong việc phân bổ đủ vốn để cập nhật và nâng cấp các nghiên cứu khả thi cũng là những nguyên nhân sâu xa quan trọng khác.

26.        Đoàn MTR cũng thống nhất rằng Phần B của dự án – Trọng tâm chính của Đoàn - vẫn cần cơ hội để khắc phục từ các vấn đề ban đầu. Điều này cũng từng là trường hợp của các tiểu dự án phòng chống lũ hiện đang đạt được những tiến triển quan trọng.. Thực tế các tiểu dự án này ít phức tạp hơn các tiểu dự án tưới tiêu cho thấy sự khác nhau giữa hai loại hình tiểu dự án. Cải thiện việc thực hiện các tiểu dự án tưới tiêu khó khăn hơn và đòi hỏi phải bổ sung nguồn vốn để cập nhật và nâng cấp các thiết kế và các FS, cũng như đòi hỏi phải hoàn thành hướng dẫn thực hiện RDS. Với việc cấp đủ vốn cho các công ty thiết kế và huy động sớm một đội tư vấn chuyên trách hỗ trợ chuẩn bị các tiểu dự án còn lại, giai đoạn chuẩn bị các tiểu dự án có thể hoàn thành đạt yêu cầu trong thời gian từ 12 đến 18 tháng. Tuy nhiên, việc kéo dài thời gian thực hiện phần B thêm ít nhất là 1 năm là điều không thể tránh khỏi. Giai đoạn thực hiện của phần A và phần B tại thời điểm hiện nay cũng cần phải cấp kinh phí cho các đề xuất đầu tư từ Phần A, theo đó sẽ nâng cao mối liên kết giữa Phần A và Phần B. Các đề xuất đầu tư Phần A sẽ dựa trên quá trình có sự tham gia hơn nữa vào việc lập cơ sở ban đầu và xác định tiểu dự án trong khi tính toán kế hoạch tiểu lưu vực.

IV         THĂM THỰC ĐỊA VÀ THẢO LUẬN

27.        Tỉnh Hải Phòng – Tiểu dự án đề xuất Nam Sông Mới - Đoàn kiểm tra đã thảo luận với PPC, DARD, PIU, IMC và tư vấn về các đề xuất riêng cho tiểu dự án sử dụng vốn vay của AFD. Tháng 12/2004, đã đặt vấn đề về việc đưa tiểu dự án vào phần B dựa trên kiểm tra nghiên cứu nội nghiệp của các PME phần A5, vì có ít khả năng sẽ tăng năng suất nông nghiệp (theo số liệu GSO của huyện, sản lượng hiện nay đã vượt 11t/ha). Tuy nhiên, thông qua chuyến đi thực địa của Đoàn kiểm tra giữa kỳ và thảo luận với các cán bộ địa phương và người hưởng lợi, Đoàn nhận thấy tiểu dự án có thể có những hiệu ích quan trọng khác về cung cấp nước sinh hoạt và vệ sinh, phát triển nuôi trồng thuỷ sản và cải tạo đất bằng việc cung cấp nước sạch chất lượng tốt. Để đạt được những hiệu ích tiềm năng khác, các số liệu bổ sung đã được thu thập và cung cấp cho các PME để phân tích sâu hơn về kinh tế. Các PME đã khẳng định tiểu dự án có thể đạt được tiêu chí về mặt kinh tế của Phần B. Cần phải bổ sung thêm ngân sách và nguồn lực tư vấn để nâng cấp FS của tiểu dự án được lập bởi công ty tư vấn trong nước, do chất lượng của FS này chưa đạt tiêu chuẩn ngành do MARD ban hành và các yêu cầu của ADB về đánh giá tác động xã hội và môi trường, huy động xã hội và bố trí O&M, xem Phần V.b.

28.        Tỉnh Bắc Ninh – Tiểu dự án mẫu Gia Thuận - Đoàn kiểm tra đã thảo luận với SPO 403, DARD, PIU, lãnh đạo các xã thí điểm RDS và tư vấn về các vấn đề và tiến độ thực hiện tiểu dự án. Vấn đề tái định cư là nguyên nhân gây chậm chễ khoảng 3 tháng đối với gói thầu trạm bơm GT1 và khoảng 6 tháng đối với gói thầu trạm bơm GT2. Việc chậm chễ của 2 gói thầu này kéo theo chậm trễ trong quá trình hoàn thành hai gói thầu mua sắm thiết bị GT10 và GT11 vì lịch giao thiết bị phụ thuộc vào việc hoàn thành các trạm bơm. Hạn hán gần đây cũng là nguyên nhân gây chậm chễ khoảng 2 tháng đối với việc thực hiện hợp đồng nâng cấp đê của các gói thầu GT4, GT5 và GT6. Do yêu cầu điều chỉnh lại thiết kế kỹ thuật và lạm phát về chi phí gần đây nên việc mua sắm cho các gói thầu nâng cấp đê GT3, GT7 và GT8 vẫn chưa được tiến hành. Dự kiến tháng 9 năm 2005 sẽ trao 3 hợp đồng trên.

29.        PIU Bắc Ninh có kế hoạch thực hiện gói thầu công trình nhỏ trên GT9 song song với việc nâng cấp kênh Bắc. Tuy nhiên, nghiên cứu thấm do ADB yêu cầu thực hiện đối với kênh này để chứng minh lát kênh bê tông vẫn chưa được thực hiện, và MARD vẫn chưa trả lời yêu cầu của tỉnh Bắc Ninh về việc cấp kinh phí lát kênh lấy từ những nguồn khác.

30.        Đoàn kiểm tra lưu ý việc ghi nhật ký thi công công trình chưa đúng và đầy đủ, chất lượng lát kênh ở một số đoạn kênh thấp. CPO nên đào tạo thêm cho các giám sát thi công để khắc phục các điểm yếu này.

31.        Sở NN&PTNT Bắc Ninh và PIU đề xuất nên thực hiện cấu phần bổ sung để giải quyết các vấn đề chủ yếu về tình trạng yếu kém của O&M, PIM và các kênh tưới cấp 3 do tư vấn RDS nêu ra. Các cán bộ tỉnh đã cho biết sẽ nộp đề xuất về cấu phần bổ sung này lên MARD.

32.        Sở NN&PTNT Bắc Ninh, PIU và các ban RDS xã đã đưa ra một số nhận xét để cải thiện thực hiện RDS. Đoàn kiểm tra đã thông báo hướng dẫn sơ bộ cuối cùng về thực hiện RDS sẽ được gửi đến họ để nhận xét.

33.        Các thoả thuận về nội dung trên liên quan đến tiểu dự án Gia Thuận được trình bày trong Phần V.b.

34.        Tỉnh Bắc Ninh - Tiểu dự án mẫu đê sông Đuống Đoàn kiểm tra đã thảo luận với DARD và PIU về các vấn đề và quá trình thực hiện tiểu dự án. Việc thực hiện tiểu dự án đang được triển khai tốt và tiểu dự án dự kiến sẽ hoàn thành cuối quý 1 năm 2006 – sớm hơn dự kiến 9 tháng. Tuy nhiên, hiện nay vì tỉ lệ lạm phát về giá vật liệu và nhân công cao nên hợp đồng các gói thầu cho các tiểu dự án cần thay đổi. Sở NN&PTNT Bắc Ninh đã đề nghị thực hiện thêm một số phần bổ sung về đường dân sinh nối với đê để tạo thuận lợi cho giao thông địa phương. Các công trình này bị loại ở giai đoạn thiết kế. Các thoả thuận về nội dung này được đề cập trong Phần 5.b.

35.        Tỉnh Bắc Giang –Tiểu dự án Nam Yên Dũng đã được phê duyệt - Đoàn kiểm tra đã thảo luận với DARD, PIU, trung tâm khuyến nông, công ty khai thác các công trình thuỷ nông (IMC) về việc bố trí thực hiện thiết kế chi tiết và lập kế hoạch hành động O&M. Đoàn kiểm tra nhấn mạnh cần thiết phải có sự tham gia tích cực của IMC vào thiết kế chi tiết và tầm quan trọng của tư vấn trong nước trong quá trình thiết kế. Đoàn kiểm tra cũng yêu cầu việc thực hiện RDS phải bắt đầu sớm nên các cuộc họp tư vấn địa phương sẽ được thực hiện trong khuôn khổ RDS có thể đóng góp về thiết kế cải thiện tưới tiêu. Các phương thức đảm bảo sự tham gia của các dịch vụ khuyến nông và IMC trong việc thực hiện tiểu dự án cũng đã được thảo luận. Thiết kế chi tiết của cấu phần tưới tiêu chính chưa thực hiện. MARD vẫn chưa phê duyệt các tài liệu Yêu cầu đề xuất về tuyển dụng tư vấn thiết kế. Thoả thuận về những nội dung này được đề cập trong chương 5.b.

36.        Tỉnh Hà Tây - tiểu dự án đề xuất Vân Đình - Đoàn kiểm tra đã thảo luận với DARD, PIU, IMC và tư vấn về việc hoàn thiện nghiên cứu khả thi của tiểu dự án. Sau khi hoàn thành báo cáo nghiên cứu khả thi về việc nâng cấp trạm bơm năm 2001, các công viêc mức độ khả thi bổ sung được bắt đầu năm 2004 đối với hệ thống tiêu cấp 2 và kênh chính của trạm. Chất lượng FS tiểu dự án do tư vấn trong nước lập không đáp ứng Tiêu chuẩn ngành của MARD và yêu cầu của ADB. Tư vấn trong nước nhận được nguồn vốn hạn chế để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể theo yêu cầu của Ban chuẩn bị đầu tư thuộc MARD và không hề có sự trợ giúp về kỹ thuật nào cho đến nay. Các thoả thuận về việc hoàn thiện nghiên cứu khả thi được đề cập trong chương 5.b.

37.        Tỉnh Ninh Bình – Tiểu dự án đề xuất Yên Đồng - Đoàn kiểm tra đã thảo luận với DARD, PIU, tư vấn và các cán bộ địa phương về các vấn đề liên quan đến tái định cư, quản lý hệ thống, và đề xuất đưa hệ thống tưới vào tiểu dự án.[19] Đoàn cũng đã đI thăm thực địa và đã gặp những người dân hưởng lợi từ dự án và những hộ dân có thể cần táI định cư. Theo như điều tra thực hiện năm 2002, 10 hộ dân và 3 công trình công cộng cần phải di rời [20]. Đoàn kiểm tra đã thấy được ý tưởng mới về phát triển du lịch trong và gần khu vực tiểu dự án. Có khả năng 10 hộ dân sẽ được tái định cư do thực hiện dự án du lịch trước khi tiểu dự án Yên Đồng bắt đầu được thực hiện. Hiện đang thực hiện một cuộc điều tra thống kê tái định cư cho dự án du lịch và các cán bộ địa phương đã thông báo với Đoàn hiện đã lập một khu tái định gần đó cho các hộ dân nói trên. Phỏng vấn các hộ dân bị ảnh hưởng cho thấy họ muốn chuyển đến khu tái định cư và được đền bù mất đất nông nghiệp bằng tiền mặt. Đoàn kiểm tra cũng lưu ý một số hộ dân trong 10 hộ dân bị ảnh hưởng có thể mất hơn 20% đất nông nghiệp; vì vậy, những hộ dân này cần được hỗ trợ bằng các biện pháp phục hồi thu nhập trong trường hợp việc táI định cư được thực hiện ở tiểu dự án này.

38.        Đoàn kiểm tra nhận thấy phần lớn khu vực chính của tiểu dự án nhận nước tưới từ trạm bơm đặt dọc theo sông Cầu Hội. Đoàn kiểm tra được cho biết rằng đất ở đây xấu và một phần đang được tưới bằng nước mặn, vì vậy sản lượng lúa thấp (chỉ khoảng 5,4 tấn/ha/ năm). Phát triển nuôi trồng thuỷ sản được đưa vào khu vực tiểu dự án từ 2 năm trước đây, do đó đòi hỏi phải có nhiều nước sạch chất lượng tốt hơn nữa. Đoàn kiểm tra không thấy dấu hiệu gi chứng tỏ sự quản lý "kỹ thuật" kết hợp về tưới tiêu nội vùng. Tuy nhiên, có thể do địa hình bằng phẳng nên dù thiếu sự quản lý và điều kiện của các hệ thống điều tiết và dẫn nước kém, toàn bộ khu vực chính dường như vẫn được tưới. Đề xuất xây dựng mới một hệ thống tưới riêng sẽ đòi hỏi phải có quản lý hệ thống kỹ thuật. Các thoả thuận liên quan đến quản lý hệ thống, đề xuất đưa vào một hệ thống tưới riêng và vấn đề tái định cư đều được đề cập trong Phần 5.b.

39.        Tỉnh Vĩnh Phúc – Tiểu dự án đề xuất Sông Phan-Bến Tre - Đoàn kiểm tra đã thảo luận với PPC, DARD, PIU và tư vấn về các vấn đề VRM nêu ra sau khi báo cáo thẩm định tiểu dự án được nộp ngày 03/06/2005. Các vấn đề liên quan đến tác động của trục tiêu chính Bến Tre lến đầm Vạc và các khu vực hạ lưu, định hướng nghèo đói của tiểu dự án và kế hoạch tái định cư sơ bộ, xem Phụ lục 4 (in lại 02 thư của ADB gửi cho CPO). Các thỏa thuận đạt được liên quan đến phạm vi của tiểu dự án và việc lập báo cáo bổ sung được đề cập trong Phần 5.b.

40.        Tỉnh Phú Thọ – Tiểu dự án đề xuất Kè ngã ba Việt Trì - Đoàn kiểm tra đã thảo luận với Sở NN&PTNT, PIU và tư vấn về việc chuẩn bị tiểu dự án và các vấn đề liên quan. Đại diện của AFD và CPO đã khẳng định không cần hỗ trợ thêm từ phía tư vấn phòng chống lũ cho các nghiên cứu bổ sung. Tuy nhiên, FS của tiểu dự án này vẫn cần phải nâng cấp một số nội dung về tái định cư, xem Phụ lục 5.b.

41.        Do tư vấn phòng chống lũ AFD thống nhất với tư vấn địa phương phương án thả rọ rồng sẽ hợp lý đối với tiểu dự án Kè ngã ba Việt Trì, Đoàn kiểm tra đề nghị Sở NN&PTNT Phú Thọ, PIU và tư vấn địa phương nên xem xét khả năng rồng thép dùng để gia cố sẽ bị lấy cắp như đã xảy ra ở tiểu dự án đê Hà Nội Khoản vay 1259. Tuy nhiên, Lãnh đạo Sở NN&PTNT Phú Thọ khẳng định rằng chưa có trường hợp mất cắp nào xảy ra ở tỉnh Phú Thọ có thể thấy ở số lượng rọ rồng đã sử dụng ở các dự án khác và vì vậy, không cần thiết phải có phương án thêm.



[1] Ông Pieter Smidt (Cán bộ thực hiện dự án), Ông Hồ Lê Phong (Cán bộ thực hiện/ chương trình), Bà Nguyễn Nhật Tuyến (Chuyên gia Giới và Phát triển xã hội) - đại diện cho ADB; Ông Didier Baillet (Cán bộ chương trình) - đại diện cho AFD; và Ông Frans Hamer (tư vấn) - đại diện Chính phủ Hà Lan.

[2] Các cán bộ của MARD trực tiếp tham gia MTR gồm: Ông Nguyễn Đình Hiệp (Giám đốc Ban CPO), Ông Phùng Văn Luyện (Phó Giám đốc Ban CPO), Ông Bùi Văn Thức (Cán bộ quản lý dự án Ban CPO), Ông Đỗ Thành Đô (Giám đốc SPO 403), Ông Nguyễn Hoài Nam (Cán bộ Cục QLXDCT), Ông Chu Tuấn Đạt và Ông Nguyễn Mạnh Ngọc (Cán bộ dự án Ban CPO), Bà Nguyễn Hải Vân, Bà Hoàng Thị Kim Cúc và Bà Nguyễn Thu Hà (Càn bộ phiên dịch Ban CPO).

[3] Ông Colin Steley và Ông Bùi Công Quang.

[4] Các tỉnh: Hải Phòng, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Tây, Ninh Bình, Vĩnh Phúc và Phú Thọ.

[5] Trong quá trình thực hiện khoản vay, đã lập một đánh giá PCR ban đầu và đánh giá này đã được đưa vào RRP.

[6] Giá trị thực của Khoản vay là 79,6 triệu USD tính đến 27/6/2005.

[7] TORs chi tiết cho cấu phần A1 – A4 đã hoàn thành với sự hỗ trợ của PMEs. Điều này giải thích tại sao tư vấn Phần A1 chậm trễ thực hiện.

[8] Tháng 9/2004, ADB đã phê duyệt việc hệ thống lại các cấu phần A1 – A4.

[9] Vấn đề này xuất phát từ sự khác nhau về ý kiến giữa MONRE và MARD đối với trách nhiệm quản lý và quy hoạch lưu vực sông sau khi đã chuyển giao trách nhiệm thực hiện luật về tài nguyên nước từ MARD sang MONRE năm 2002.

[10] IWRP có chức năng như một văn phòng của Tổ chức lưu vực sông Hồng (RRBO).

[11] Việc xây dựng WSAP mất nhiều thời gian hơn dự kiến (3 bản – 12 tháng) do những khó khăn trong thu thập số liệu và thiết lập mối tương quan không chặt chẽ với số liệu hạn chế.

[12] Về đầu tư cho phòng chống lũ ở đồng bầng sông Hồng, việc xây dựng khung ưu tiên đầu tư vẫn đang tiếp tục với sự hỗ trợ của tư vấn Phần A.

[13] ưu tiên cho các tiểu dự án không phải là mẫu thuộc Phần B đã được thực hiện sau khi hoàn thành và phê duỵệt WSAP.

[14] Tiểu dự án không phải là mẫu Nam Yên Dũng mới được phê duyệt đã cho thấy điều này. Theo gợi ý của ADB, MARD đã đồng ý sẽ cấp thêm vốn đầu tư cho hệ thống tiêu cấp thấp hơn ở các vùng ngập úng.

15 Phần B gồm có 671 tháng công (pm), bao gồm 116́tháng cônǵtư vấn quốc tế và 555 tháng công tư vấn trong nước với tổng số ngân sách sử dụng là 3,9 triệu USD. 291 tháng công tư vấn trong nước sẽ sử dụng khi cần thiết . Tổng giá trị hợp đồng với tư vấn phần B là 2,996 triệu USD gồm 496 tháng công trong đó có 89 tháng cônǵ tư vấn quốc tế, 207 tháng cônǵtư vấn trong nước và 200 tháng công "chưa xác định" đối với tư vấn trong nước sẽ sử dụng khi CPO “yêu cầu”. Vì vậy, mâu thuẫn với điều khoản trong RRP, do vẫn còn có 175 tháng công và 0,9 triệu USD dùng cho dịch vụ tư vấn chưa cam kết. Mặc dù CPO có thể sử dụng số tháng công chưa xác định để hỗ trợ trong việc chuẩn bị (cũng như thực hiện) các tiểu dự án, nhưng MARD vẫn chưa có dứt khoát về vấn đề này.

16 Các TDA miền núi không có trong dự án ADB2 (Khoản vay1344), vì vậy không có kinh nghiệm về loại tiểu dự án này ở thời điểm chuẩn bị dự án thuộc Khoản vay 1855.

[17] ở thời điểm chuẩn bị dự án, dự kiến sẽ có khoản viện trợ không hoàn lại của JFRP trị giá khoảng 5 triệu USD.

[18] Bản thân khái niệm RDS không có gì mới ở Việt Nam tại thời đIểm chuẩn bị dự án. Một số dự án về phát triển nông thôn đang trong quá trình thực hiện tại thời điểm đó cũng có các cấu phần tương tự.

[19] Mục tiêu chính của tiểu dự án là phòng chống lũ và tăng khả năng trữ nước phục vụ tưới.

[20] Khảo sát kiểm kê tái định cư đang được tiến hành ở các xã liên quan.

 
CÁC TIN KHÁC
  BÁO CÁO TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN DỰ ÁN THUỶ LỢI SÔNG HỒNG GIAI ĐOẠN II (ADB3)
  ỦY HỘI SÔNG MÊKÔNG KỶ NIỆM 10 NĂM HỢP TÁC
  KHOÁ TẬP HUẤN THỨ 2 CỦA NARBO
  HỌP TRÙ BỊ LẦN THỨ 3 CHUẨN BỊ CHO DIỄN ĐÀN NƯỚC ĐÔNG NAM Á
  CÁC THÔNG TIN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA MẠNG LƯỚI CÁC TỔ CHỨC LƯU VỰC SÔNG CHÂU Á (NARBO)

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn