I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
BÁO CÁO CÔNG TÁC KHẢO SÁT THỰC ĐỊA BAN QUẢN LÝ SÔNG HỒNG – THÁI BÌNH NĂM 2011.
 

Để nắm bắt được hiện trạng khai thác dòng chính cũng như dòng nhánh của sông Hồng – Thái Bình thông qua các công trình thuỷ lợi đã xây dựng, văn phòng Ban QLQHLV sông Hồng – Thái Bình đã tổ chức đi thực địa một số  tỉnh thuộc lưu vực sông Hồng như Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Phú Thọ, Vĩnh Phú, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, và Lạng Sơn.Đoàn đã làm việc với các Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh trên với nội dung sau: Những vấn đề còn tồn tại khi khai thác, sử dụng nguồn nước như:

- Sự cạn kiệt nguồn nước, sự tranh chấp nguồn nước giữa các tỉnh thượng và hạ lưu, giữa các ngành dùng nước như nông nghiệp  phát điện..và các ngành khác.

- Vấn đề chất lượng nước trên dòng chính cũng như dòng nhánh những vấn đề xả thải làm ô nhiễm nguồn nước, chất lượng nước ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp cũng như các ngành kinh tế dùng nước khác.

- Việc lấy nước cùng như tiêu thoát nước ra dòng chính và nhánh ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế giữa mùa kiệt và gây ngập úng đến mùa lũ .

Từ những vấn đề còn tồn tại trên đề ra các biện pháp cùng như kiến nghị các ngành dùng nước khác nhau để khai thác hiệu quả nguồn nước cũng như bảo vệ nguồn nước sông Hồng – Thái Bình phát triển bền vững phục vụ tốt cho phát triển kinh tế trong lưu vực. Kết quả của công tác thực địa như sau :

I. TIỂU BAN QLQHLV SÔNG CẦU

1. Tình hình quản lý khai thác trên lưu vực sông Cầu

* Về công tác Quản lý khai thác các công trình Thuỷ lợi

Việc đầu tư cho công tác Quản lý khai thác các công trình Thuỷ lợi là đầu tư theo chiều sâu, có thể nói đó là hình thức đầu tư hiệu quả nhất; tuy nhiên việc đầu tư này còn gặp nhiều khó khăn nhất là về vốn và cơ chế chính sách chưa phù hợp  (ví dụ như các công trình miền núi khó khăn thì chỉ tiêu đầu tư lại nhỏ hơn so với vùng đồng bằng…). Hiện nay, công tác Quản lý khai thác công trình Thuỷ lợi chưa được đặt đúng tầm, đúng vị trí của nó, chưa có một công ty Khai thác Thuỷ lợi nào được đầu tư đầy đủ một cách khoa học, tiên tiến, trong khi đó thì đòi hỏi yêu cầu phục vụ của các ngành Nông nghiệp, Công nghiệp lại rất cao.

* Về công trình Thuỷ lợi

Hầu hết các công trình Thuỷ lợi trong lưu vực sông Cầu đều được xây dựng từ những thập kỉ 70; 80, trong thời kì mà đất nước chúng ta còn gặp rất nhiều khó khăn. Các chỉ tiêu kĩ thuật cũng như các vật tư, vật liệu đưa vào xây dựng đều bị hạn chế; trong khi đó các công trình thì hàng ngày hàng giờ phải thách thức với nắng mưa lũ bão..., đến nay đã xuống cấp nghiêm trọng. Mục tiêu cải tạo, nâng cấp, kiên cố hoá các công trình Thuỷ lợi gặp rất nhiều khó khăn, nhất là vấn đề vốn và cơ chế chính sách. Đây là một thách thức lớn trong việc đầu tư xây dựng công trình để khai thác nguồn nước của lưu vực phục vụ sản xuất Nông nghiệp nói  riêng và dân sinh kinh tế nói chung.

* Tình hình thiên tai 6 tháng đầu năm trong lưu vực

Ngoài tình hình hạn hán trong vụ sản xuất Đông Xuân như đã nêu trên, các tỉnh trong lưu vực còn chịu ảnh hưởng nghiêm trọng do thời tiết rét lạnh kéo dài, nhưng do đã chủ động phòng tránh ngay từ đầu nên đã khắc phục được rất nhiều, giảm thiểu thiệt hại về gia súc và rau màu. Riêng đối với cây lúa, kế hoạch tưới cũng được điều chỉnh cho phù hợp và việc điều tiết nước mặt ruộng một cách khoa học cũng là biện pháp chống rét hữu hiệu cho cây trồng.

Cho tới nay (6 tháng đầu năm 2011), lưu vực sông Cầu không bị ảnh hưởng đáng kể của hai cơn bão số 1 và số 2.

*  Việc khai thác nông nghiệp

Có thể nói từ khi nền kinh tế nước ta chuyển sang kinh tế thị trường, thì ngành Nông nghiệp có những chuyển biến mạnh mẽ về cơ cấu cây trồng (Lúa; cây ăn quả, cây Công nghiệp; rau màu, hoa và cây cảnh...); những chuyển biến như “vũ bão” trong lĩnh vực giống, nhất là giống Lúa. Giống mới đòi hỏi yêu cầu tưới cao hơn cả về lượng, về chất và thời gian cấp nước, thách thức công tác  Thuỷ lợi phải chuyển biến mạnh mẽ hơn mới có thể đáp ứng được yêu cầu của giống mới và đa dạng cây trồng.

Một vấn đề quan trọng khác, cùng với sự gia tăng dân số ; sự đầu tư mạnh mẽ của các khu Công nghiệp ; sự bùng nổ của các khu đô thị trong lưu vực sông Cầu đặc biệt là đối với vùng đồng bằng nên đất đai sử dụng cho nông nghiệp bị chuyển thành đất sử dụng cho Công nghiệp và Đô thị. Do đất Nông nghiệp bị giảm, nên vấn đề đặt ra là cần phải sử dụng phần đất Nông nghiệp còn lại sao cho hiệu quả hơn, đi đôi với nó là nhu cầu về nước  nhằm duy trì và phát triển sản xuất.

Để đạt được sản xuất nông nghiệp hiệu quả cao hơn, cần phối hợp giải quyết nhiều vấn đề khác nhau trong các lĩnh vực Nông nghiệp và Tài nguyên nước.

* Việc đô thị, công nghiệp hoá trong lưu vực :

Việc Công nghiệp hoá, đô thị hoá là nhu cầu phát triển tất yếu của xã hội, nhất là đối với nước ta đang trong giai đoạn đổi mới và phát triển. Trên lưu vực sông Cầu có hàng trăm khu Công nghiệp lớn tập trung, ngoài ra còn có hàng ngàn các làng nghề và cụm Công nghiệp nhỏ ở hầu hết các địa phương.

Cùng với việc phát triển Công nghiệp là sự bùng nổ các đô thị. Đô thị phát triển dưới rất nhiều hình thức : Thành phố càng ngày càng được nâng cấp, mở rộng; thị trấn, thị xã càng ngày càng phát triển; nhỏ hơn nữa, xa hơn nữa, kể cả ở các vùng cao thì “Thị tứ” phát triển ..., phá vỡ cảnh quan môi trường tự nhiên và cũng  phá vỡ hầu hết các quy hoạch Thuỷ lợi trước đây.

Đi đôi với việc phát triển Công nghiệp và đô thị là việc đòi hỏi cấp nước (đầu vào) và nước xả thải (đầu ra), là những thách thức không khoan nhượng đối với chất, lượng  nguồn nước của lưu vực.

2.Hiện trạng hoạt động của Tiểu ban Sông Cầu

Với chức năng và nhiệm vụ được giao, trong 6 tháng đầu năm 2011, Tiểu ban QLQHLV sông Cầu đã triển khai thực hiện toàn diện các nhiệm vụ được giao; đặc biệt là việc tham gia tư vấn trong việc khai thác các nguồn nước trong và ngoài lưu vực để phục vụ các nhu cầu phát triển dân sinh kinh tế, nhất là đối với sản xuất Nông nghiệp.

Về khai thác các nguồn nước để phục vụ tưới : Do hầu như 3 tháng liên tiếp  (tháng 10, 11, 12 năm 2010) không có mưa, nên lượng bốc hơi rất lớn và dòng chảy cơ bản lại giảm 30-40% nên nhiều hồ chứa khi bước vào phục vụ sản xuất Đông Xuân 2011 chỉ còn 60-70% dung tích. Có thể nói tình trạng hạn hán của vụ sản xuất Đông Xuân 2010-2011 là rất điển hình; đó cũng là điều cảnh báo cho chúng ta về "tình hình biến đổi khí hậu" trên trái đất, mà nước ta là một trong những nước chị ảnh hưởng nghiêm trọng, mà lưu vực sông Cầu không thể nằm "ngoại lệ" !...

 Nắm bắt và dự báo trước tình hình này, các Chi nhánh Tiểu ban đã tham mưu và tư vấn cho các Công ty khai thác Thủy lợi, các sở Nông nghiệp và PTNT ở các tỉnh trong lưu vực có kế hoạch khai thác sử dụng nước tiết kiệm ngay từ đầu vụ Đông Xuân. Các nguồn nước của các công trình Thủy lợi đều được quản lý chặt chẽ chống thất thoát; hệ thống kênh mương được tu bổ nạo vét chống thẩm lậu; các công trình cấp nước sinh hoạt ở vùng cao nơi hiếm nước cũng được tư vấn tu bổ sửa chữa chống thất thoát….;

Các địa phương như Hà Nội; Vĩnh Phúc; Hải Dương; Bắc Ninh đã phối hợp tốt với kế hoạch xả nước của hệ thống liên hồ Hòa Bình-Thác Bà-Tuyên Quang để lấy nước đổ ải và gieo trồng vụ Đông Xuân . Các tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Kạn cũng đã làm tốt công tác khai thác các nguồn nước tại các công trình Thủy lợi để phục vụ sản xuất Đông Xuân; đặc biệt đối với việc chuyển nước từ lưu vực sông Công (hồ Núi Cốc) bổ sung cho dòng chính sông Cầu cung cấp nước cho hệ thống Nông giang sông Cầu  đã được thực hiện rất thuận lợi, đáp ứng đủ lượng nước và thời gian yêu cầu của Bắc Giang.

Việc điều phối nguồn nước trên các sông nội tỉnh như sông Cà Lồ (Vĩnh Phúc); sông Lục Nam (Bắc Giang) v.v.., cũng diễn ra rất thuận lợi, không có hiện tương tranh chấp.

Nhờ có sự phối hợp và khai thác tốt các nguồn nước trong lưu vực, nhất là các nguồn nước trong hệ thống Thủy lợi, nên các tỉnh trong lưu vực đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch gieo cấy vụ Đông Xuân, như : Bắc Kạn vượt 104%, Bắc Giang 105%, Thái Nguyên vượt 104%....

Hiện nay các tỉnh trong lưu vực đã và đang thu hoạch vụ Đông Xuân 2010-2011, kết quả cho thấy rằng vụ Đông Xuân đã thu được thắng lợi mặc dù thời tiết năm nay có rất nhiều biến đổi thất thường.

Để phục vụ cho sản xuất vụ mùa, sau khi thu hoạch vụ Đông Xuân các tỉnh khẩn trương tu bổ nạo vét kênh mương, gia cố các công trình để chuẩn bị đối phó với mùa mưa lũ tới. Công tác Đê điều - Phòng chống lụt bão cũng như các phương án khai thác, bảo vệ công trình Thủy nông trong mùa mưa lũ đã được chuẩn bị tốt.

Chi nhánh Văn phòng tại các tỉnh trong lưu vực sông Cầu đã cùng sở Nông nghiệp & PTNT các tỉnh làm tốt công tác Quản lý khai thác các công trình Thủy lợi tưới , tiêu phục vụ sản xuất Nông nghiệp cũng như công tác Đê điều phòng chống lụt bão; ngoài ra, các Chi nhánh của Tiểu ban tại các tỉnh cũng đã  phối hợp với các ngành hữu quan trong việc phòng chống ô nhiễm, bảo vệ các nguồn nước trong lưu vực; Văn phòng Tiểu ban đã tư vấn với Ủy ban bảo vệ cảnh quan môi trường sông Cầu giải quyết các vấn đề có liên quan; và tham gia các Hội thảo "Sử dụng bền vững tài nguyên nước lưu vực sông Cầu" do Viện Nước, Tưới tiêu và môi trường-Tổng cục Thủy lợi - Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc thực hiện…Văn phòng Tiểu ban cũng đã làm việc với các Chi nhánh tỉnh Bắc Kạn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh phúc, trong việc đầu tư các công trình bổ sung nguồn nước cho sông Cầu hoặc tham gia tư vấn cho việc điều hòa nước trong lưu vực .

Việc quản lý Tài nguyên nước hiện nay còn nhiều điều bất cập, Chính phủ cũng đã thấy vấn đề này và đã có chủ trương sửa đổi bổ sung Luật Tài nguyên nước. Tiểu ban cũng đã có ý kiến tham gia các nội dung cần sửa đổi.

Để có căn cứ trong hoạt động lâu dài,  bền vững, Tiểu ban đã xây dựng Chương trình hành động 5 năm (2011-2015) báo cáo với Ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-Thái Bình.

4. Kế hoạch hoạt động của tiểu ban trong thời gian tới

- Nhiệm vụ cấp bách trước mắt của Tiểu ban là tư vấn thật tốt nhằm đạt hiệu quả cao trong công tác quản lý, khai thác các nguồn nước trong lưu vực, nhất là các nguồn nước trong các hệ thống Thủy lợi để phục vụ sản xuất vụ Đông Xuân và vụ mùa; đồng thời bảo vệ an toàn Đê điều và các công trình Thủy lợi trong mùa mưa lũ.

- Tiếp tục củng cố và kiện toàn công tác tổ chức của Tiểu ban và các Chi nhánh Văn phòng tại các tỉnh trong lưu vực.

- Phối hợp với các ngành hữu quan trong, ngoài tỉnh; với Bộ; Tổng cục Thủy lợi và Văn phòng Ban quản lý quy hoạch lưu vực sông Hồng-Thái Bình trong công tác quản lý quy hoạch Thủy lợi khai thác nguồn nước trong lưu vực sông Cầu và lựa chọn các giải pháp : Lập dự án quy hoạch khôi phục hệ sinh thái dọc hai bên bờ sông Cầu; Tăng cường biện pháp kiểm tra, kiểm soát việc xử lý chất thải chăn nuôi trong các trang trại tập trung; Lập dự án trồng và khai thác rừng; Tiếp tục nâng độ che phủ rừng đạt chỉ tiêu kế hoạch; Điều tra lập dự án kè hai bờ sông các đoạn xung yếu; Nạo vét sông suối, trục tưới , tiêu…

 

II. TIỂU BAN QLQHLV SÔNG ĐÁY

1. Giới hạn quản lý trong lưu vực

Lưu vực sông Đáy bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên của  4 tỉnh là Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, phần lớn diện tích tỉnh Hoà Bình, toàn bộ diện tích tỉnh Hà Tây(cũ), phần diện tích Hà Nội phía hữu ngạn sông Hồng có diện tích lưu vực khoảng 800.000 ha. Dân số hơn 8 triệu người.

2. Thực trạng công tác thuỷ lợi

a. Đặc thù công trình thuỷ lợi trong vùng

+Công trình phục vụ  tưới

Trong lưu vực có 1 số khu có hệ thống công trình thuỷ lợi lớn được  đầu tư xây dựng sớm là khu Bắc Nam Hà (từ năm 1960-1970), khu sông Nhuệ xây dựng từ thời thuộc Pháp. Các khu thuỷ lợi khác được dần hoàn thiện trong quá trình quản lý khai thác. Tổng diện tích được cấp nước theo thiết kế của các hệ thống thuỷ lợi là 306.566 ha, nhưng thực tế mới tưới được 248.056 ha, trong đó tưới tự chảy 128.800 ha (cống, hồ, đập), tưới động lực là 119.256  ha (trạm bơm)

+Công trình phục vụ  tiêu

Các trục tiêu chính trong lưu vực là sông Đáy, sông Nhuệ, sông Châu,  sông Sắt, sông Tích, sông Hoàng Long. Vùng đồng bằng được tiêu chủ yếu là bằng các trạm bơm. Các trạm bơm tiêu hiện có trong lưu vực có công suất máy từ 1000-32.000 m3/h. Tổng diện tích tiêu theo thiết kế của các hệ thống thuỷ lợi trong lưu vực là 416.431 ha,  nhưng thực tế mới có 330.255 ha  được tiêu chủ động.

3. Những hoạt động chính của tiểu ban

3.1, Công tác thuỷ lợi

* Phục vụ sản xuất Nông nghiệp

Năm 2011 hạn hán xảy ra nghiêm trọng hơn năm 2010, nhưng do các tỉnh trong lưu vực đã làm tốt công tác chuẩn bị như: đã nạo vét hàng triệu m3 đất trong kế hoạch làm thủy lợi Đông Xuân (Hà Nam nạo vét 1.459.230 m3, Hòa Bình nạo vét 275.103 m3, vv...), xây dựng kế hoạch lấy nước đổ ải, tận dụng triệt để các đợt xả nước của các hồ thượng nguồn và nước triều cường để nhập nước vào hệ thống kênh tiêu tạo nguồn tưới cho các trạm bơm, lắp đặt hàng trăm máy bơm dã chiến để bơm nhiều cầu, hoàn thành nhiều công trình và hạng mục công trình kịp và vượt thời gian quy định nên mặc dù tình trạng hạn hán xảy ra nghiêm trọng nhưng các địa phương vẫn cơ bản đảm bảo cấp đủ nước cho diện tích cấy lúa vụ Đông Xuân đảm bảo trong khung thời vụ cho phép.

* Phòng chống lụt, bão, úng.

            Đến nay các địa phương trong lưu vực đã tổ chức tổng kết công tác phòng chống lụt bão năm 2010, xây dựng phương án phòng chống lụt bão năm 2011. Các địa phương đã tiến hành kiểm tra công trình trước mùa lũ bão và xây dựng các phương án trọng điểm, chuẩn bị vật tư nhân lực, phương tiện theo phương châm 4 tại chỗ để chủ động đối phó với mùa mưa, bão sắp tới.

            Ngành NN-PTNT kết hợp chặt chẽ với Bộ CHQS các tỉnh tổ chức xây dựng phương án cứu hộ, cứu nạn, một số địa phương đã tổ chức diễn tập cứu hộ, cứu nạn trong PCLB.

 3.2 Môi trường, chất lượng nước

            Trong những năm gần đây, tình trạng ô nhiễm nguồn nước trên sông Nhuệ, sông Đáy ngày càng nghiêm trọng, việc tăng cường  bảo vệ môi trường nước ngày càng trở nên cấp bách và cần thiết.

            Để góp phần hạn chế tình trạng gia tăng ô nhiễm, bảo vệ sức khỏe nhân dân, các ngành Y tế, Tài nguyên- Môi trường, NN-PTNT, Công thương đã triển khai nhiều biện pháp như tập huấn, triển khai các văn bản về vệ sinh môi trường nước, nước ăn uống, tăng cường thông tin để nhân dân hiểu rõ và có biện pháp để sử dụng nguồn nước sạch, triển khai các dự án bảo vệ và giữ gìn môi trường, bước đầu đã xây dựng các điểm quan trắc lấy mẫu nước phân tích, kiểm tra, cập nhật thông tin và thông báo cho nhân dân các đợt ô nhiễm nước nghiêm trọng để phòng tránh, tìm các biện pháp xử lý nguồn nước bị ô nhiễm; tăng cường kiểm tra khâu xử lý nước thải trước khi xả vào nguồn; thực hiện cấp giấy phép xả nước thải, đồng thời tích cực hưởng ứng ngày môi trường thế giới mồng 5/6, triển khai dự án  nâng cao năng lực đánh giá và quản lý TNN vv...

            Tại các khu vực phân lũ, ngành y tế đã chủ động phối hợp với các địa phương xây dựng kế hoạch y tế cụ thể, thành lập các tổ y tế cơ động, tổ phòng chống dịch bệnh, chuẩn bị đủ cơ số thuốc để phục vụ nhân dân vùng phân lũ.

            Hiện tại các địa phương đã và đang tiếp tục triển khai thực hiện quyết định số 57/2008/QĐ-TTg ngày 29/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án tổng thể  bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy.

3.3 Công tác rà soát và tham gia góp ý  quy hoạch

            Các tỉnh trong lưu vực đang tiến hành rà soát các quy hoạch ngành như quy hoạch thủy lợi, quy hoạch phòng chống lũ, quy hoạch nông nghiệp, TN-MT...để phục vụ nhu cầu phát triển KT-XH tại địa phương. Một số  tỉnh như Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nội.. cũng đã sắp xếp hạng mục các công trình thủy lợi đề nghị vay vốn ADB đầu tư giai đoạn 2011-2020

             Đồng thời các ngành, Bộ CHQS theo chức năng, nhiệm vụ của mình đã tích cực tham gia góp ý về quy hoạch ngành và các lĩnh vực có liên quan, đặc biệt là công tác quy hoạch xây dựng công trình thuỷ lợi như: tham gia góp ý cho dự  án quy hoạch tổng thể hệ thống thủy lợi đồng bằng sông Hồng trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng; dự án quy hoạch hệ thống công trình thủy lợi Bắc Nam Hà  để Bộ NN&PTNT phê duyệt, tham gia góp ý cho quy hoạch thủy lợi lưu vực sông Đáy vv..

4. Những tồn tại chính trong lưu vực sông Đáy.

4.1 Về nguồn nước:

            Nguồn nước lưu vực sông Đáy ngày càng bị suy giảm cả về chất lượng và số lượng, lượng nước đến và đi chưa đáp ứng yêu cầu tưới tiêu.

Về chất lượng nước: Nguồn nước trong lưu vực ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt là nguồn nước sông Nhuệ, các chỉ tiêu chất lượng nước hiện nay đã vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 2,8 đến 15 lần ( Riêng tại Hà Nam trong 6 tháng đầu năm 2011 đã có 5 đợt ô nhiễm nghiêm trọng, hàm lượng amoni vượt 123 lần tiêu chuẩn cho phép).  Ô nhiễm nước sông Nhuệ đã lan rộng đến các sông nội đồng như sông Châu, sông Sắt vv.. nhiều khu dân cư ven sông Nhuệ, sông Đáy thuộc địa bàn tỉnh Hà Nam, Hà Tây(cũ) hiện đang rất khó khăn về nước sinh hoạt do nước sông bị ô nhiễm.

Về mực nước: liên tiếp trong những năm gần đây mực nước sông Đáy, sông Nhuệ rất thấp, hệ thống sông Nhuệ trước đây được thiết kế tưới tự chảy song vào vụ Đông Xuân hàng năm, mực trên trên sông Nhuệ thường thấp hơn mực nước tưới thiết kế từ 1,5 đến 2 m nên rất khó khăn cho công tác cấp nước vụ Đông Xuân.

Do nguồn nước sông Hồng suy giảm nên tình hình xâm nhập mặn các cửa sông ven biển ngày càng trầm trọng, có nơi xâm nhập mặn đã vào sâu đến 20km như vùng Nam Định, Ninh Bình

4.2  Về công trình.

Hệ thống công trình được quy hoạch và xây dựng đã lâu, hiện đang bị xuống cấp nghiêm trọng trong khi đó kinh phí tu bổ có hạn nên việc tu bổ không đáp ứng được yêu cầu. Không những vậy, do các công trình theo thiết kế cũ nên hiện nay đã lạc hậu cả về quy mô và công nghệ do đó không đáp ứng được yêu cầu phát triển sản xuất ngày càng cao.

4.3 Sự phát triển của các khu công nghiệp, tốc độ đô thị hoá :

Quá trình phát triển đô thị nhanh đã phá vỡ  quy hoạch thuỷ lợi, nhiều công trình không còn phù hợp với quy hoạch cũ song chưa được xem xét quy hoạch một cách toàn diện trong phát triển kinh tế xã hội của các địa phương.

4.4 Về công tác quản lý, khai thác TNN, công trình thuỷ lợi :

+ Lưu vực sông Đáy chưa có một bản quy hoạch tổng hợp khai thác sử dụng TNN để làm cơ sở cho các địa phương xây dựng  quy hoạch chi tiết. Do đó chưa có cơ sở khoa học cho công tác kiểm tra việc thực hiện quy hoạch của các địa phương, các ngành có tuân thủ đúng quy hoạch lưu vực sông hay chưa.

+ Chưa có dự án điều tra cơ bản, kiểm kê đánh giá TNN trong lưu vực vì vậy chưa có đánh giá sát thực về tình hình TNN trong lưu vực

+ Sự phối hợp giữa các địa phương và các ngành trong việc khai thác, sử dụng TNN chưa  chặt chẽ, kịp thời;

+ Công tác quản lý về chất lượng nước còn nhiều hạn chế, đặc biệt là việc kiểm soát các nguồn nước thải, chất thải ra các sông trong lưu vực, đặc biệt là sông Nhuệ, sông Đáy chưa chặt chẽ, vẫn còn những cơ sở xả nước thải chưa qua xử lý vào nguồn nước gây nên tình trạng ô nhiễm. Nhận thức của số đông cộng đồng về khai thác, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm  nguồn nước còn thấp. Nhân lực về quản lý TNN còn kiêm nhiệm chưa đúng với yêu cầu đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ

+ Tình trạng vi phạm pháp luật về TNN trên lưu vực còn diễn ra phổ biến, trong đó tình trạng vi phạm pháp lệnh KT&BVCTTL, pháp lệnh đê điều là phổ biến hơn cả. Ý thức của người dân trong việc bảo vệ TNN, môi trường và CTTL chưa cao.

4.5  Về tổ chức hoạt động.

Mặc dù đã rất cố gắng song hoạt động của Tiểu ban vẫn còn một số tồn tại cần khắc phục, đó là:

- Sự phối kết hợp hoạt động giữa các thành viên Tiểu ban, giữa Tiểu ban với các đơn  vị khác chưa chặt chẽ, kịp thời.

- Hoạt động của Tiểu ban mới chỉ dừng lại ở mức độ hội nghị, hội thảo, các thành viên chủ yếu hoạt động theo nhiệm vụ chuyên môn của từng ngành, Tiểu ban chưa có hoạt động chung nên chưa tạo ra sự gắn kết giữa các thành viên, do đó hoạt động của Tiểu ban còn  trầm lắng.

Nguyên nhân của các tồn tại trên:

+ Do các thành viên Tiểu ban đều là Lãnh đạo các Sở, Ngành kiêm nhiệm nên có rất ít thời gian.

+ Kinh phí cho hoạt động của Tiểu ban nói chung và cho khối Văn phòng Tiểu ban nói riêng còn hạn chế. Một số tỉnh không bố trí kinh phí cho các Chi nhánh Văn phòng hoạt động.

+ Tiểu ban chưa đủ cơ sở pháp lý và quyền lực rõ rệt nên hạn chế tầm ảnh hưởng đến các hoạt động quản lý khai thác TNN

5. Phương hướng hoạt động trong thời gian tới

5.1, Nhiệm vụ chung:

             Các thành viên của Tiểu ban ở các lĩnh vực tiếp tục thực hiện nhiệm vụ theo quy chế hoạt động quy định.

5.2, Một số lĩnh vực cụ thể:

 - Công tác thuỷ  lợi phục vụ sản xuất và dân sinh

Tiếp tục làm tốt công tác PCLB, úng, hạn, rà soát các quy hoạch và xắp xếp thứ  tự ưu tiên thực hiện, đề nghị Bộ Nông nghiệp & PTNT phê duyệt.

Các địa phương sớm phê duyệt và  tổ chức thực hiện việc phân cấp công trình thủy lợi theo thông tư 65/2009/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp & PTNT

- Công tác bảo vệ môi trường, chất lượng nước:

            Tiếp tục thực hiện các dự án về bảo vệ môi trường chất lượng nước, đặc biệt là đẩy nhanh tiến độ các dự án thuộc đề án tổng thể bảo vệ môi trường sông Nhuệ,sông Đáy như quyết định 57/2008/QĐ-TTg ngày 29/4/2008 của Thủ tướng Chính Phủ.

Tăng cường công tác kiểm tra, xử lý và cấp giấy phép cho các hoạt động xả nước thải vào nguồn nước

            Tăng cường công tác tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về pháp luật bảo vệ Tài nguyên nước.

- Công tác Văn phòng: Thường  xuyên cập nhật thông tin về hiện trạng khai thác TNN, công trình thuỷ lơị; các Chi nhánh văn phòng thường xuyên liên hệ với văn phòng thường trực để trao đổi thông tin, xây dựng cơ sở dữ  liệu chung của lưu  vực; Kết hợp với Văn phòng Ban QLQHLV sông Hồng - Thái Bình để tổ chức các buổi làm việc, học tập trao đổi kinh nghiệm trong nước và Quốc tế ; Dự kiến 6 tháng cuối năm 2011 tổ chức 1 hội thảo chuyên đề về  môi trường chất lượng nước

6. Một số kiến nghị.

- Đề nghị Bộ Nông nghiệp & PTNT: Sớm phê duyệt rà soát quy hoạch  lưu vực sông Đáy, quy hoạch thủy lợi đồng bằng sông Hồng, để làm cơ sở cho các địa phương trong lưu vực lập quy hoạch chi tiết và lựa chọn công trình để đầu tư xây dựng.

- Đề nghị Bộ Tài nguyên & Môi trường: Đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án thuộc đề án tổng thể bảo vệ môi trường sông Nhuệ, sông Đáy như quyết định 57/2008/QĐ-TTg ngày 29/4/2008 của Thủ tướng Chính Phủ.

Văn phòng Ban QLQHLV sông Hồng – Thái Bình

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 
CÁC TIN KHÁC
  VĂN PHÒNG BAN QLQHLV SÔNG HỒNG – THÁI BÌNH TỔ CHỨC ĐI THỰC ĐỊA ĐẾN 3 TỈNH PHÚ THỌ, TUYÊN QUANG VÀ HÀ GIANG (8-15/6/2009)
  CHUYẾN ĐI CÔNG TÁC 4 TỈNH HẢI DƯƠNG, HẢI PHÒNG, THÁI BÌNH, HƯNG YÊN CỦA BAN QLQH LV SÔNG HỒNG - THÁI BÌNH
  CHUYẾN ĐI CÔNG TÁC 4 TỈNH SƠN LA, ĐIỆN BIÊN, LAI CHÂU, LÀO CAI
  HOẠT ĐỘNG CỦA VĂN PHÒNG BAN VỚI HAI TIỂU LƯU VỰC SÔNG CẦU VÀ SÔNG ĐÁY- (Văn phòng Ban QLQHLV sông Hồng – Thái Bình)
  KHẢO SÁT THỰC ĐỊA TẠI 25 TỈNH THUỘC LƯU VỰC SÔNG NĂM 2002 VÀ 2003

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn