I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
THAM LUẬN TỈNH LẠNG SƠN
 

I- Khái quát chung

Lạng Sơn là một tỉnh miền núi, biên giới có 253km đường biên tiếp giáp với Trung Quốc có vị trí thuận lợi phát triển kinh tế xã hội, có cửa khẩu Quốc tế, Quốc gia và các cặp chợ đường biên và có mạng lưới giao thông thuận lợi.

Điều kiện tự nhiên: Lạng Sơn có địa hình phức tạp, trên 40% diện tích là đồi núi có độ dốc lớn hơn 25%. Hệ thống sông suối nhỏ khá dày làm chia cắt địa hình, ảnh hưởng đến tổ chức sản xuất nông lâm nghiệp; khi xây dựng công trình đòi hỏi suất đầu tư cao, thi công khó khăn; tầng dầy của đất canh tác mỏng, nghèo mùn và các chất dinh dưỡng nên ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng; thời tiết khí hậu của vùng biến đổi phức tạp.

Tổng diện tích tự nhiên là 830.521ha, trong đó: đất nông nghiệp 75.323ha; đất lâm nghiệp có rừng 531.200ha; đất chuyên dùng 13.813ha; đất ở 5.438ha; đất chưa sử dụng, núi đá và sông suối 384.747ha.

Mạng lưới sông suối: Lạng Sơn có mật độ lưới sông trung bình từ 0,6¸12,0 km/km2. Toàn tỉnh có 03 hệ thống sông chảy qua: Sông Kỳ Cùng (hệ thống sông Tây Giang); sông Thương, sông Lục Nam (hệ thống sông Thái Bình); sông Phố Cũ, sông Đồng Quy (hệ thống sông ngắn Quảng Ninh). Chế độ dòng chảy phụ thuộc chủ yếu vào các chế độ mưa và điều kiện mặt đệm.

Dân số và nguồn lực: Hiện nay, dân số trung bình Lạng Sơn là 732 nghìn người trong đó thành thị là 139 nghìn người, nông thôn là 593 nghìn người; dân số phân bố không đều. Lao động xã hội chiếm khoảng 50,3% dân số, trong đó, có 80% lao động nông lâm nghiệp. Do dân số tăng nhanh, kinh tế chưa phát triển nên hiện nay có từ 13¸18% lao động không có việc làm và khoảng 30¸45% lao động ở nông thôn có việc là từ 7¸9 tháng trong một năm.

II- Đánh giá kết quả công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất và đời sống của địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2006

Do tình hình thời tiết Lạng Sơn diễn biến phức tạp, hạn hán kéo dài. Lượng mưa 5 tháng đầu năm đo được thiếu hụt so với các trung bình nhiều năm. Đặc biệt, từ tháng 4/2006-5/2006 thời tiết khí hậu nắng nóng kéo dài làm cho lượng bốc hơi bề mặt tăng nhanh, làm cho các hồ ao, đập, sông suối cạn kiệt. Hạn hán đã làm ảnh hưởng đến năng xuất lúa và hoa màu. Tuy nhiên, đến những ngày cuối tháng 5 đã có mưa, hạn chế những diện tích hoa màu đang có nguy cơ mất trắng.

Theo báo cáo của các trạm quản lý khai thác công trình thuỷ lợi các huyện hiện nay trên phạm vi toàn tỉnh các hồ, ao, đập nhỏ đã ở mực nước chết. Còn các hồ lớn như: Nà Tâm, Thâm Sỉnh, Lẩu Xá, Pò Luông ( Thành Phố); Nà Chào, Thâm Luông (Tràng Định); Nà Pàn, Nà Pia (Văn Lãng); Phai Danh, Rọ Nặm (Bình Gia); Tam Hoa, Vũ Lăng (Bắc Sơn); Lệ Minh, Khuổi Sần, Bản Cưởm, Khuổi Chủ, Ba Sơn, Khuổi Ngần (Cao Lộc); Tà Keo, Nà Cáy, Bản Chành (Lộc Bình)... vẫn còn mực nước khá cao từ 5¸8m nước trên mực nước chết, vẫn đảm bảo phục vụ tưới những diện tích dưới chân công trình.

Số đo từng trạm

TT

Tháng

Trạm

1

(mm)

2

(mm)

3

(mm)

4

(mm)

5

(mm)

å 5th

(mm)

SSTB nhiều năm

1

TP Lạng Sơn

18,3

44,4

36,8

23,3

125,4

248,2

65%

2

Thất Khê

10,9

73,8

28,8

117,5

246,2

477,2

121%

3

Bắc Sơn

20,8

42,7

28,6

36,9

276,9

405,9

95%

4

Hữu Lũng

10,7

38,4

28,6

10,0

83,3

 171,0

42%

5

Đình Lập

1,9

37,3

52,6

14,5

220,3

 326,6

95%

Tiến độ sản xuất gieo cấy vụ Đông Xuân, ước tính đến hết 30/5/2006:

+ Tiến độ sản xuất:           - Lúa Xuân                     11.845ha, đạt 76%, so cùng kỳ.

                                       - Thuốc lá                      4.435ha, đạt 151%, so cùng kỳ.

                                       - Ngô Xuân                    11.127ha, đạt 89%         , so cùng kỳ.

                                       - Khoai tây                    2.196ha, đạt 70%, so cùng kỳ.

                                       - Đậu đỗ các loại               997ha, đạt 113%, so cùng kỳ.

                                       - Rau các loại               2.435ha, đạt 66%, so cùng kỳ.

                                       - Dưa các loại     1.259ha, đạt 107%, so cùng kỳ.

+ Tưới Lúa Xuân:  - Tự chảy                      10.083ha, đạt 80,5%, so cùng kỳ.

                                       - Bơm điện                     5.907ha, đạt 87%, so cùng kỳ.

                                       - Biện pháp khác               785ha, đạt 64%, so cùng kỳ.

+ Tưới cây trồng khác:

                                       - Thuốc lá                      3.391ha, đạt 176%, so cùng kỳ.

                                       - Ngô Xuân                    1.231ha, đạt 36%          , so cùng kỳ.

                                       - Khoai tây                    1.757ha, đạt 74%, so cùng kỳ.

                                       - Đậu đỗ các loại               236ha, đạt 70%, so cùng kỳ.

                                       - Rau các loại               1.919ha, đạt 113%, so cùng kỳ.

                                       - Dưa các loại       886ha, đạt 110%, so cùng kỳ.

III- Tình hình thiên tai và các biện pháp khắc phục của địa phương

Lạng Sơn là một tỉnh miền núi biên giới nằm ở phía Đông Bắc Bộ, hàng năm sớm chịu ảnh hưởng của gió mùa. Bão lớn tuy không nhiều, nhưng mưa, lũ, gió lốc, mưa đá và hạn hán đe doạ thường xuyên đến đời sống sản xuất của nhân dân các dân tộc trên địa bàn.

Thiên tai trên địa bàn tỉnh diễn biến phức tạp, sảy ra với các loại hình, liên tục và bất thường, gây thiệt hại về người, tài sản và công trình hạ tầng, gây nhiều khó khăn cho sản xuất và đời sống nhân dân.

1- Tình hình thiên tai

a. Mưa: Lượng mưa phân bổ không đều: Thiếu hụt vào các tháng 1,2,3,9,10,11,12 của năm gây hạn hán cho cây trồng và thiếu nước sinh hoạt; mưa tập trung chủ yếu vào các tháng 5,6,7,8 đã gây ra lũ lụt làm thiệt hại đến con người, sản xuất và đời sống.

b. Lũ, lụt: Do ảnh hưởng của các cơn bão và áp thấp nhiệt đới mùa hè các năm từ 2001¸2005, trên các lưu vực sông đều có xảy ra lũ dồn, lũ quét. Trong 5 năm 2001¸2005, có 19 trận lũ điển hình trên sông Kỳ Cùng báo động cấp I và II; 12 trận lũ điển hình trên sông Trung báo động cấp I và II. Nhìn chung, lũ, lụt ở các sông suối trên địa bàn tỉnh xảy ra ở mức nhỏ và trung bình, nhưng do đặc điểm địa hình sông, suối ngắn, độ dốc lớn, cho nên biên độ lũ cao, tốc độ lũ nhanh đã cuốn trôi tài sản, hoa mầu của Nhà nước và nhân dân.

c. Bão, áp thấp nhiệt đới: Trong 5 năm qua trên Biển Đông có 33 cơn bão hoạt động, bình quân 6,6 cơn/năm. Trong đó ảnh hưởng đến Lạng Sơn có các cơn bão: số 2, 3, 4, 6 năm 2001; số 5, 10 và ATNĐ năm 2002; số 4, 5 năm 2003; 2, 7 năm 2005. Bão và ATNĐ gây ra gió mạnh cấp 6, 7, 8 là phổ biến, chủ yếu gây ra mưa, lũ.

d. Giông, lốc xoáy, mưa đá: Trong 5 năm qua, giông, lốc xoáy, mưa đá xảy ra 7 đợt ở 55 xã, phường, thuộc các huyện: Chi Lăng; TP Lạng Sơn; Cao Lộc; Văn Lãng; Bắc Sơn; Bình Gia; Tràng Định; Hữu Lũng. Loại hình thiên tai này thường xảy ra bất ngờ, nhanh chóng, chớp nhoáng trong một thời gian ngắn, với cường độ khác nhau. Công tác dự báo, cảnh báo chưa kịp thời cho công tác phòng chống, nên đã gây thiệt hại không nhỏ về nhà cửa, sản xuất và đời sống của nhân dân.

e. Thiên tai khác: Lở đá, xảy ra ngày 09/3/2001 tại huyện Bắc Sơn gây thiệt hại về người và nhà cửa. Sét đánh, xảy ra ngày 22/5/2003 tại huyện Cao Lộc làm bị thương 46 người, trong đó có 07 người bị thương nặng. Hạn hán, trong 5 năm qua do mưa không đều cho nên diện tích sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng thiếu nước là 16.419ha (lúa xuân 2.760ha; ngô xuân 6.404ha; lúa mùa 6.405ha; thuốc lá 850ha), đặc biệt năm 2004 mắt trắng 180ha lúa mùa.

2. Thiệt hại do mưa lũ và thiên tai (Tổng ước tính 32.708 triệu đồng)

Trong 5 năm từ 2001¸2005 các thiệt hại do thiên tai như sau:

-          Người: Chết 12; bị thương 76.

-          Dân sinh: nhà bị hư hỏng, tốc mái 5.249 ngôi nhà; nhà bị đổ sập, cuốn trôi 165 ngôi nhà; nhà ngập nước 531 ngôi nhà.

-          Nông nghiệp: Diện tích lúa, hoa màu bị cuốn trôi và ngập nước là 2.853 ha; Gia cầm, gia súc bị chết và mất là 320 con.

-          Giáo dục, y tế: 117 phòng học và 02 trạm xá bị hư hỏng; 07 phòng bị đổ sập và trôi; 01 phòng bị ngập nước.

-          Giao thông, thuỷ lợi, điện lực: mương bị sạt lở 8.040m và 1.882m3; 20 công trình thuỷ lợi bị hư hỏng; 62 cột điện bị đổ gãy; đường bị lở, xói 9.426m và 74.046m3; mặt đường bị xói 28.644m2; cầu, cống bị sập đổ, cuốn trôi 8 công trình

3- Công tác chỉ đạo phòng chống thiên tai

- UBND tỉnh đôn đốc, yêu cầu các sở, ban, ngành và UBND các huyện, thành phố triển khai công tác phòng chống bão, mưa, lũ, lũ quét, sạt lở đất, có biện pháp bảo vệ dân cư sống ở vùng ven sông, suối đề phòng lũ quét và sạt lở đất.

- Trong những ngày mưa, lũ do ảnh hưởng của các cơn bão, ATNĐ, Văn phòng Ban chỉ huy PCLB tỉnh đã phối hợp với Trung tâm dự báo Khí tượng thuỷ văn, Bộ đội Biên Phòng, Bưu điện tỉnh..., tổ chức trực ban 24/24 giờ theo dõi diễn biến, nắm bắt kịp thời tình hình mưa lũ, bão và thiên tai, nhận và xử lý thông tin từ Ban chỉ đạo PCLB Trung ương, UBND tỉnh và các phương tiện thông tin đại chúng để phân tích, dự báo đề ra các chỉ lệnh kịp thời, hợp lý.

- Ban chỉ huy PCLB và TKCN tỉnh cùng các ngành, các cấp đã có phương án chuẩn bị cơ sở vật chất, thuốc dự phòng, giống cây trồng, ca nô, vật tư, thiết bị và phương tiện, kiểm tra một số địa phương, khu dân cư kinh tế và những công trình giao thông, thuỷ lợi, điện, thông tin liên lạc, cơ sở y tế, trường học...

- Thực hiện thu quỹ PCLB và quyên góp ủng hộ đồng bào bị thiên tai các vùng trong nước và nhiều nơi trên thế giới

4- Kết quả khắc phục

Sau khi thiên tai xảy ra, Ban chỉ huy PCLB và TKCN tỉnh đã phối hợp với các ngành kiểm tra đánh giá thiệt hại, đồng thời phối hợp với chính quyền địa phương bị thiên tai có giải pháp khắc phục hậu quả, nhằm ổn định sản xuất và đời sống của nhân dân. Các ngành đã chỉ đạo, đôn đốc các đơn vị trong ngành sửa chữa các công trình: giao thông; thuỷ lợi; bưu điện; trường học; cơ sở y tế, điện... trong thời gian ngắn nhất đảm bảo phục vụ cho sản xuất và đời sống trên địa bàn.

Tổng số kinh phí từ các nguồn: Cứu trợ xã hội; Hội chữ thập đỏ; Quỹ PCLB cho cứu trợ thiên tai năm 2004-2005 được 445.742 nghìn đồng để cứ trợ 193 hộ dân, sửa chữa: 05 trụ sở cơ quan; 58 phòng học; 2 trạm y tế; 02 cầu giao thông nông thôn.

IV- Các vấn đề phát sinh trong lưu vực, những khó khăn tồn tại và các kiến nghị của địa phương đối với ban quản lý quy hoạch lưu vực sông Hồng – Thái Bình

1- Lưu vực sông thuộc hệ thống sông Hồng-Thái Bình

Toàn tỉnh Lạng Sơn có 03 hệ thống sông chảy qua: Sông Kỳ Cùng (hệ thống sông Tây Giang); sông thương, sông Lục Nam (hệ thông sông Thái Bình); sông Phố Cũ, sông Đồng Quy (hệ thống sông ngắn Quảng Ninh). Trong đó, thuộc hệ thống sông Hồng-Thái Bình có hệ thống sông Thương và Sông Lục Nam.

- Sông Thương: Bắt nguồn từ dãy núi Na-Pa-Phước cao 600m, gần ga Bản Thí, tỉnh Lạng Sơn; thượng lưu sông Thương từ nguồn tới Chi Lăng có thung lũng rất hẹp, độ rộng trung bình 6km, độ cao trung bình 276m, độ dốc lưu vực 12,5%0, chiều dài sông 14¸15km; trung lưu từ Chi Lăng đến Bố Hạ thung lũng mở rộng độ dốc đáy chỉ còn 2,3¸0,85%0, núi đá vôi phân bố xa bờ sông và bắt đầu có các sông nhánh ra nhập: sông Hoá; sông Trung. Trong mùa cạn 02 sông này vẫn sâu tới 5¸6m do có đập dâng Cầu Sơn.

- Sông Hoá: Bắt nguồn từ vùng núi Khuổi Ma tỉnh Bắc Giang, chảy theo hướng Đông Bắc; trên sông đã có đập Cấm Sơn giữ nước phát điện và tưới, diện tích lưu vực 385km2.

- Sông Trung: Bắt nguồn từ vùng núi Thái Nguyên đổ vào sông Thương tại Na Hoa, sông chảy trong vùng núi đá vôi nên thung lũng hẹp, diện tích lưu vực đến trạm thuỷ văn Hữu Lũng là 1.220km2.

- Sông Lục Nam: Nằm phía Đông Nam tỉnh Lạng Sơn bắt nguồn từ vùng núi Kham-Sau-Chom cao 700m thuộc huyện Đình Lập, tổng diện tích lưu vực là 3.070 km2, trong đó thuộc Lạng Sơn là 612km2, chiếm 20,9%.

2. Các vấn đề phát sinh trong lưu vực, những khó khăn tồn tại và các kiến nghị của địa phương

- Hiện nay diện tích rừng phòng hộ trên địa bàn toàn tỉnh 300.487 ha; Diện tích có rừng 333.670 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên 222.365 ha chất lượng rừng tự nhiên chủ yếu là rừng tạp; diện tích rừng trồng 111.305 ha. Chất lượng rừng trồng phát triển tốt. Để đảm bảo cho diện tích rừng phòng hộ được đảm bảo chất lượng tốt yêu cầu đặt ra là phải tăng mức khoán bảo vệ rừng, hiện nay là 50.000 đồng/ha/năm, đang đề nghị tăng lên 100.000 đồng/ha/năm, trong những năm tiếp theo mức khoán bảo vệ rừng cần phải nâng cao hơn nữa. Nơi quy hoạch là rừng phòng hộ nhưng chưa có rừng cần tăng cường đầu tư bằng các nguồn vốn để trồng rừng, đặc biệt là trồng các giống cây bản địa (tán rộng, bộ rễ sâu).

- Về lưu vực của hệ thống sông thuộc lưu vực sông Hồng-Thái Bình trên địa bàn Lạng Sơn có 02 con sông không thể xác định được chính xác lưu vực thực tế là sông Thương và sông Trung, do lưu vực sông là vùng núi đá vôi. Vì vậy để dự báo tốt về dòng chảy lũ cần củng cố hệ thống trạm khí tượng thuỷ văn trong lưu vực.

- Hệ thống trạm khí tượng thuỷ văn trên 03 lưu vực sông chính là: Sông Thương; sông Trung; sông Lục nam, trước đây có 03 trạm khí tượng thuỷ văn là trạm Chi Lăng, trạm Hữu Lũng, trạm Sơn Dương, hiện nay chỉ còn trạm Hữu Lũng là hoạt động nhưng cơ sở vật chất xuống cấp thiết bị lạc hậu, còn 02 trạm còn lại hầu như không hoạt động. Để tăng mức độ chính xác trong dự báo mưa, dòng chảy lũ, trên lưu vực cần thiết phải phục hồi và nâng cấp đưa vào hoạt động hệ thống trạm khí tượng thuỷ văn trên.

- Khu vực rừng phòng hộ của lưu vực cũng đồng thời là những vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế khó khăn, trình độ dân trí của nhân dân còn thấp, ngành nghề chính là nông nghiệp, khi nông nghiệp không đủ sống thì họ chuyển sang phá rừng. Muốn bảo vệ được rừng phòng hộ trước hết phải đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng kinh tế xã hội cho dân cư trong vùng, nâng cao dân trí, chuyển nghề cho nhân dân từ kinh tế nông nghiệp sang làm kinh tế lâm nghiệp, phát triển kinh tế đồi rừng, gắn cuộc sống của họ vào rừng, không để cho nhân dân phá rừng bừa bãi.

V- Các yêu cầu phối hợp đa ngành và liên tỉnh trong phát triển lưu vực

- Để cho dòng chảy trong lưu vực được ổn định quan trọng nhất là gìn giữ và bảo vệ được rừng phòng hộ đầu nguồn của các lưu vực sông. Các địa phương có địa phận giáp ranh nằm trong lưu vực là rừng phòng hộ đầu nguồn như thượng nguồn sông Trung giáp ranh tỉnh Thái Nguyên, thượng nguồn sông Lục nam giáp ranh tỉnh Bắc Giang, cần có biện pháp giáo dục nhân dân tham gia bảo vệ rừng, không phá rừng một cách bừa bãi, đồng thời không khai thác sang địa phận không thuộc mình quản lý.

- Để tận dụng nguồn nước của các lưu vực sông một cách có hiệu quả nhất đề nghị các Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và PTNT Lạng Sơn trong quá trình quản lý khai thác các công trình thủy lợi liên quan. Đặc biệt là hệ thống thủy lợi của Hồ Cấm Sơn, khi xả nước của hồ Cấm Sơn, cũng như mở cống đập dâng Cầu Sơn nên thông báo trước cho Sở Nông nghiệp và PTNT Lạng Sơn kế hoạch để phối hợp lấy nước phục vụ sản xuất nông nghiệp hợp lý. Trong thời gian qua, có hiện tượng hệ thông bơm điện trên địa bàn huyện Hữu Lũng không thể hoạt động được do mở cống đập dâng Cầu Sơn, khi mà cả hai địa bàn đều rất cần nước.

VI- Đề xuất ưu tiên đầu tư trong lưu vực

- Tăng cường kinh phí cho công tác khoanh nuôi và bảo vệ rừng phòng hộ một cách hợp lý. Bố trí đủ vốn để trồng rừng phòng hộ.

- Phục hồi và nâng cấp hệ thống trạm khí tượng thủy văn trong lưu vực.

- Đầu tư sửa chữa nâng cấp một số hệ thông công trình thủy lợi trong lưu vực nhằm cung cấp đủ nước cho sản xuất nông nghiệp, ổn định đời sống nhân dân trong lưu vực. Như: hồ Đắp Đề, Kai Hiển, Hồ Suối Con... huyện Hữu Lũng; hệ thông công trình thủy lợi xã Chiến thắng, hồ Dọc Chang huyện Chi Lăng...

Nông Ngọc Tăng

PGĐ Sở NN và PTNT

 

 

 

 
CÁC TIN KHÁC
  THAM LUẬN TỈNH THÁI BÌNH
  BÁO CÁO THAM LUẬN TỈNH NINH BÌNH
  BÁO CÁO THAM LUẬN CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  THAM LUAN TỈNH THÁI NGUYÊN
  THAM LUẬN CỦA TỈNH HẢI DƯƠNG TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2006

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn