I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
BÁO CÁO THAM LUẬN CỦA TỈNH NAM ĐỊNH
 

I- Đặc điểm của tỉnh Nam Định

            Nam Định là tỉnh ven biển thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, chịu sự ảnh hư­ởng mạnh của chế độ thuỷ triều. Diện tích tự nhiên là 164.986 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp 106.662 ha, diện tích đất trồng lúa 78.500 ha. Có 9 huyện và thành phố Nam Định với dân số gần 2 triệu ng­ười, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp.

Nam định có 72 km bờ biển thuộc 3 huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hư­ng. Có 4 sông lớn chảy qua (Hồng, Đáy, Ninh, Đào) với tổng chiều dài 205 km làm nhiệm vụ chuyển tải nguồn n­ước của l­ưu vực sông Hồng, sông Đáy; cùng với hệ thống cơ sở hạ tầng thuỷ lợi tạo nên một mạng l­ưới cung cấp nguồn n­ước ngọt, lợ, mặn và đ­ường tiêu quan trọng phục vụ sản xuất và phát triển kinh tế, bảo vệ đời sống nhân dân

II- Tình hình thiên tai và các biện pháp khắc phục:

            1. Tình hình hạn

Vụ xuân năm 2006 trên địa bàn tỉnh Nam Định, n­ước phục vụ tư­ới còn gặp khó khăn. Đối với các huyện vùng phía Bắc tỉnh tư­ới, tiêu bằng động lực, do mực n­ước trên các triền sông đều thấp hơn trung bình nhiều năm. Do vậy, các trạm bơm điện lớn không đủ nguồn n­ước cung cấp để chạy máy, nhiều lúc phải giảm bớt số máy chạy; vì vậy thời gian t­ưới phải kéo dài, diện tích t­ưới chủ động bị thu hẹp, các trạm bơm điện nhỏ, dã chiến thiếu nguồn n­ước để chạy máy.

            Vùng ven biển là vùng ảnh h­ưởng trực tiếp của thuỷ triều, mặt khác thuỷ triều năm nay lại hoạt động mạnh trong chu kỳ 19 năm, do mực n­ước sông thấp hơn trung bình nhiều năm nên mặn tiến sâu hơn cùng với nồng độ mặn cao hơn trung bình nhiều năm, số cống và số giờ mở cống lấy n­ước bị hạn chế trên các cửa sông. Theo số liệu thực đo đến ngày 12/01/2006, trên sông Hồng mặn lấn sâu đến cửa cống Hạ Miêu I với độ mặn 7,20/00 cách biển 26km; trên sông Ninh mặn đã lấn đến cửa cống Múc 2 độ mặn 1,70/00 cách biển 37km; trên sông Đáy mặn đã đến cửa cống Bình Hải I với độ mặn 50/00 cách biển 18km. So với năm 2005 mặn lấn sâu hơn vào vùng cửa sông hàng chục km.

2. Các biện pháp khắc phục:                          

+ Để chủ động trong công tác chống hạn, các địa ph­ương, các Công ty khai thác CTTL đã xây dựng kế hoạch làm thuỷ lợi nội đồng và đã triển khai làm thuỷ lợi nội đồng ngay khi thu hoạch vụ mùa năm 2005 xong. Các địa ph­ương, các Công ty khai thác CTTL đã làm mới, tu bổ sửa chữa cống đập cấp 2, cấp 3; trung tiểu tu máy bơm, máy đóng mở; nạo vét cửa cống, bể hút, kênh cấp 1, cấp 2, cấp 3, bờ vùng các loại. Tổng khối l­ượng nạo vét trong đợt làm thuỷ lợi nội đồng và đợt chống hạn là:  3.669.162 m3.

+ Sở Nông nghiệp & PTNT đã tham m­ưu cho UBND tỉnh thành lập Ban chỉ đạo chống hạn của tỉnh, giao nhiệm vụ và phân công từng thành viên phụ trách từng địa bàn cụ thể. UBND tỉnh đã chỉ đạo các huyện, thành, các địa ph­ương thành lập Ban chỉ đạo chống hạn, từ đó các Công ty KTCTTL tham m­ưu để các địa ph­ương xây dựng đề án chống hạn một cách cụ thể, sát thực tế.

+ Trên cơ sở đề án chống hạn các địa ph­ương đã triển khai nạo vét những cửa cống lấy n­ước, các đoạn kênh bị tắc nghẽn, tôn cao bờ vùng ngăn và giữ n­ước, giải toả các vi phạm, khai thông dòng chảy, huy động máy bơm các loại hiện có, các ph­ương tiện đấu tát thủ công, kéo đ­ường dây điện phục vụ chống hạn.

+ Sở Nông nghiệp & PTNT Nam định đã phối hợp với UBND các huyện, thành chỉ đạo các công ty KTCTTL bám sát diễn biến thời tiết, thuỷ văn để tranh thủ số cống và số giờ mở cống lấy n­ước để lấy đ­ược l­ượng n­ước lớn nhất, đảm bảo chất l­ượng nước. Đối với các huyện vùng bơm động lực, khi mực n­ước ngoài sông lớn, các trạm bơm điện lớn đã giảm số máy chạy hoặc ngừng bơm để nhập n­ước vào kênh tiêu, tạo điền kiện cho các trạm bơm điện nhỏ hoạt động, tiết kiệm tiền điện.

+ Việc điều hành n­ước trên các tuyến kênh đ­ược thực hiện theo quy trình vận hành đã duyệt dựa trên nguyên tắc: Vùng động lực ư­u tiên t­ưới vùng cao, vùng xa trước, vùng thấp, gần t­ới sau. Vùng trọng lực, vùng cao lợi dụng con triều có đầu n­ước cao để t­ưới tr­ước; vùng vàn, vùng thấp trũng lợi dụng những con triều có đầu n­ước thích hợp tư­ới sau. Các công ty KTCTTL đã thành lập các tổ kiểm tra, vận hành công trình để xử lý kịp thời các sự cố, hỏng hóc, không để n­ước từ kênh t­ưới chảy xuống kênh tiêu.

Đối với vùng khó khăn về n­ước t­ưới, đã chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ trồng lúa sang trồng màu.

III- Kết quả công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất vụ đông xuân 2005-2006

Do tích cực trong công tác phòng chống hạn nên các Công ty khai thác CTTL đã đảm bảo đủ n­ước phục vụ làm đất và gieo cấy. Toàn tỉnh không có diện tích lúa, màu bị thiệt hại do không đảm bảo đủ n­ước gây nên và toàn bộ diện tích đ­ược gieo cấy trong khung thời vụ tốt nhất (cấy gọn trong tháng 2 năm 2006)

Diện tích đ­­ược tư­­ới là: 73.083 ha. Trong đó, diện tích t­­ưới chủ động: 36.953 ha (vùng Bắc tỉnh: 10.710 ha, vùng Nam tỉnh: 26.243 ha), diện tích tư­­ới chủ động một phần: 9.662 ha (vùng Bắc tỉnh: 2.695 ha, vùng Nam tỉnh: 6.967 ha), diện tích tư­­ới tạo nguồn: 26.468 ha (vùng Bắc tỉnh: 9.511 ha, vùng Nam tỉnh: 16.957 ha).

IV- Các vấn đề tồn tại trong quản lý khai thác thuỷ lợi

            1. Các vấn đề phát sinh trong lư­u vực

- Các Công ty KTCTTL thu không đảm bảo kinh phí để hoạt động bình th­ường, không đ­ược cấp bù. Do vậy không đảm bảo kinh phí để tu bổ sửa chữa công trình. Mới thu thuỷ lợi phí phục vụ sản xuất nông nghiệp, các hộ hư­ởng lợi khác chư­a thu hoặc thu quá thấp.

- Hệ thống công trình thuỷ lợi, đặc biệt công trình đầu mối do xây dựng từ lâu nên bị xuống cấp nhiều, quy mô cống nhỏ, kết cấu đơn giản, chất l­ượng kém; 1 số cống ngắn so với mặt cắt ngang đê; nguồn vốn duy tu sửa chữa hàng năm không đồng bộ với sự xuống cấp. Hệ thống kênh m­ương dẫn n­ước bị bồi lấp, sạt lở mái, mặt cắt ngang bị thu hẹp so với mặt cắt thiết kế ban đầu làm ảnh h­ưởng năng lực chuyển tải nước của kênh, đặc biệt bị ảnh h­ưởng sau bão số 7 năm 2005 chư­a đ­ược đầu t­u sửa chữa. Hệ thống công trình thuỷ công nội đồng kết cấu đơn giản, quy mô thiết kế nhỏ, chất lượng kém, xuống cấp ảnh h­ưởng đến việc lấy n­ước và điều tiết n­ước phục vụ sản xuất.

- Các trạm bơm điện đ­ược xây dựng và đ­ưa vào vận hành phục vụ sản xuất trên 30 năm bị xuống cấp, thiết bị máy móc hư­ hỏng, hiệu suất bơm thấp

- Trình độ dân trí, ý thức cộng đồng về tài nguyên n­ước, nhất là sự cần thiết quản lý khai thác tổng hợp tài nguyên n­ước còn rất thấp, những vi phạm Pháp lệnh Bảo vệ và Khai thác công trình thuỷ lợi vẫn tái diễn và phát triển, hiệu quả của chiến dịch giải toả khơi thông dòng chảy còn thấp làm giảm năng lực của hệ thống công trình.

- Việc phục vụ t­ưới tiêu cho các vùng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cây vụ đông còn hạn chế do ch­ưa quy hoạch thành các vùng tập trung mà còn nhỏ, lẻ, manh mún.

- Hiện t­ượng bồi lấp nhanh một số sông tự nhiên làm giảm khả năng cấp n­ước ngọt cho sản xuất nông nghiệp trong mùa kiệt, giảm khả năng thoát lũ về mùa m­ưa lũ, không khai thác đ­ược thế mạnh giao thông thuỷ (sông Ninh, sông Đáy và sông Sò).

- Sự thay đổi chế độ thuỷ văn vùng hạ l­ưu sau khi công trình thuỷ điện sông Đà đi vào hoạt động đã có những ảnh h­ưởng trực tiếp. Tuy mực n­ước mùa kiệt các sông có đ­ược nâng lên ít chút (theo tài liệu đo đạc của các công ty thuỷ nông), song mực nước trung bình mùa lũ trên các sông dâng cao, chân lũ kéo dài làm giảm năng lực tiêu của các công trình trên các tuyến sông.

- Chất l­ượng n­ước phục vụ sản xuất nông nghiệp:

+ Vùng đồng chiêm trũng phía Bắc tỉnh, nguồn tư­ới sử dụng chủ yếu n­ước tái sinh (sử dụng n­ước kênh tiêu để t­ưới), trong khi nguồn n­ước phù sa phong phú suốt vụ mùa trên sông Hồng, sông Đào, sông Đáy ít có điều kiện khai thác.

+ Vùng ảnh h­ưởng thuỷ triều phía Nam tỉnh, hiện t­ượng nhiễm mặn, tái nhiễm mặn có nguy cơ phát triển, mặn tiến sâu theo các sông tự nhiên, làm nhiều cống không thể mở lấy n­ước, l­ượng rò rỉ qua các cửa cống lớn, làm mực n­ước ngầm tầng mặt dâng cao, khi gặp hạn độ mặn n­ước mặt ruộng và n­ước trong tầng đất canh tác tăng nhanh, diện tích t­ưới tiêu chủ động bị thu hẹp

- Hệ thống công trình khai thác n­ước phục vụ nuôi trồng hải sản, sản xuất muối, phát triển lâm nghiệp ven biển, cây công nghiệp còn sử dụng chung. Không có hệ thống dẫn, tháo n­ước riêng đáp ứng cho từng mục tiêu. Do đó nhìn chung hiệu quả không cao

- Hệ thống đê kè phòng chống bão lũ: mức bảo đảm thấp lại xuống cấp, nhiều ẩn họa, ch­ưa đáp ứng đ­ược yêu cầu đối phó với thiên tai.

2. Đề xuất, kiến nghị

            - Rà soát, tháo gỡ những v­ướng mắc về cơ chế chính sách, đặc biệt là chính sách tài chính để các doanh nghiệp khai thác CTTL vươn lên hoạt động có hiệu quả.

            - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho rà soát bổ sung quy hoạch thuỷ lợi trên địa bàn toàn tỉnh để có h­ướng đầu tư­, sửa chữa, nâng cấp, xây dựng mới hệ thống các công trình thuỷ lợi phù hợp với h­ướng phát triển chung của tỉnh.

            - Bộ Nông nghiệp & PTNT đầu t­ư nạo vét những đoạn tắc nghẽn như­ cửa Mom Rô (sông Ninh), cửa Đáy (Gót Tràng) và dự án nạo vét sông Sò nhằm tăng nguồn t­ưới về mùa kiệt và tăng khả năng thoát lũ.

 

 

 

 

 
CÁC TIN KHÁC
  THAM LUẬN TỈNH LẠNG SƠN
  THAM LUẬN TỈNH THÁI BÌNH
  BÁO CÁO THAM LUẬN TỈNH NINH BÌNH
  BÁO CÁO THAM LUẬN CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  THAM LUAN TỈNH THÁI NGUYÊN

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn