I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
THAM LUẬN CỦA TỈNH TUYÊN QUANG
 

1. Kết quả công tác thủy lợi phục vụ sản xuất và đời sống

Tỉnh Tuyên Quang hiện có 2.430 công trình thủy lợi, trong đó có 473 hồ chứa, 970 công trình đập kiên cố và bán kiên cố, 73 trạm bơm, còn lại là các công trình phai tạm; hệ thống kênh mương toàn tỉnh có tổng chiều dài trên 7000 km, trong đó có 1677 km đã được kiên cố bằng bê tông hoặc đá xây.

Những tháng đầu năm 2006, lượng mưa trên địa bàn tỉnh thấp hơn bình quân nhiều năm, tình trạng khô hạn xảy ra tại nhiều địa phương. Nhưng nhờ đã kịp đề ra nhiều biện pháp để quản lý chặt chẽ nguồn nước, sử dụng nước phục vụ sản xuất hợp lý, tiết kiệm, đa dạng hoá các hình thức tưới, đông thời đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình thuỷ lợi (sáu tháng đầu năm 2006, toàn tỉnh đã tu sửa nâng cấp 64 công trình thủy lợi, với diện tích tưới cho 254,5 ha lúa 2 vụ, kiên cố 82,8 km kênh), nên hệ thống các công trình thuỷ lợi của tỉnh đã đảm bảo phục vụ tốt cho sản xuất. Tổng diệ tích do các công trình thuỷ lợi tưới chắc vụ đông xuân 2005-2006 là 16.713ha (bằng 82,45% diện tích gieo cấy)

2. Tình hình thiên tai và các biện pháp khắc phục

Hàng năm, trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang thường xảy ra hạn hán, mưa đá kèm gió lốc, lũ quét và lũ lụt trên sông Lô và sông Gâm. Vụ đông xuân năm 2006, hạn hán đã làm ảnh hưởng năng suất và sản lượng của trên 2.596 ha cây trồng. Ngày 13, 14 tháng 5 năm 2006 gió lốc và lũ quét đã xảy ra trên địa bàn 6 xã của huyện Sơn Dương, đã làm hỏng 04 đập rọ thép với khối lượng rọ đá bị trôi là 298 m3; làm hư hỏng 25 phòng học, 5 nhà mầm non thôn bản, 7 nhà văn hoá thôn bản và 2 nhà dân.

Để phòng chống làm hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của thiên tai, tỉnh Tuyên Quang đã đề ra nhiều giải pháp đồng bộ, đó là:

 Xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện phương án phòng chống lụt bão, tìm kiếm, cứu nạn, giảm nhẹ thiên tai năm 2006; đề án phòng, tránh lũ quét; phương án di chuyển 1.411 hộ dân, với 6.582 nhân khẩu ra khỏi khu vực có nguy cơ bị thiên tai.

Chỉ đạo các cấp, các ngành đánh giá, rút kinh nghiệm công tác phòng chống lụt bão, tìm kiếm, cứu nạn, giảm nhẹ thiên tai năm 2005 để xây dựng kế hoạch, phương án phòng chống lụt bão, tìm kiếm, cứu nạn, giảm nhẹ thiên tai năm 2006 sát với thực tế và diễn biến của từng loại hình thiên tai.

Thường xuyên kiểm tra, rà soát, cảnh báo đối với vùng có đê xung yếu, tiến hành tu bổ hệ thống đê sông Lô thuộc tỉnh Tuyên Quang bảo đảm an toàn cho dân cư 11 xã và 1.424 ha diện tích đất canh tác thuộc hai huyện Yên Sơn và Sơn Dương.

Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn. Tập trung huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng các dự án thủy lợi phục vụ sản xuất; tæ chøc kiÓm tra, tu söa c¸c c«ng tr×nh thñy lîi tr­íc mïa m­a lò, x©y dùng c¸c biÖn ph¸p qu¶n lý ®Ó ®¶m b¶o an  toµn c«ng tr×nh.

Nghiên cứu lập dự án kè bảo vệ bờ của sông Lô đoạn qua thị xã Tuyên Quang và kè  bảo vệ bờ sông Phó Đáy đoạn qua khu di tích lịch sử ATK huyện Sơn Dương, Yên Sơn.

3. Các vấn đề phát sinh trong lưu vực, những khó khăn tồn tại

Định hướng đến năm 2010, tỉnh Tuyên Quang có cơ cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ - nông lâm nghiệp; trọng tâm là đẩy mạnh phát triển một số ngành công nghiệp có lợi thế như chế biến nông lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác và chế biến khoáng sản; phát triển nhanh các ngành dịch vụ, nhất là dịch vụ du lịch, đồng thời tiếp tục phát triển kinh tế nông lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi tăng nhanh, tỷ trọng chăn nuôi trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển mạnh kinh tế lâm nghiệp theo hướng làm tốt  công tác bảo vệ rừng, trồng rừng đi đôi với khai thác, sử dụng rừng hợp lý, tăng thu nhập người trồng rừng

Đẩy mạnh công nghiệp chế biến nông lâm sản, thủy điện nhỏ, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác và chế biến khoáng sản. Phát triển công nghiệp gắn liền với nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu. Thực hiện đầu tư một số dự án công nghiệp quan trọng: khu công nghiệp Long Bình An và các cụm công nghiệp tại các huyện; xây dựng nhà máy sản xuất bột đá trắng; nhà máy chế biến gỗ xuất khẩu; nhà máy chế biến thức ăn gia súc, xi măng, nhà máy chế biến sữa; đầu tư xây dựng các công trình thủy điện nhỏ.

Đồng thời với phát triển kinh tế, nhu cầu dùng nước trong lưu vực sẽ tăng lên, khả năng gây ô nhiễm môi trường nước là khó tránh khỏi. Hiện nay, công trình thuỷ điện Tuyên Quang đang trong quá trình tích nước, sau khi công trình hoàn thành và đi vào vận hành sẽ gây ra những thay đổi rõ rệt về mực nước, chế độ dòng chảy ở hạ lưu.

Đến nay, chưa có tài liệu điều tra nghiên cứu để có thể đánh giá đầy đủ về số lượng, chất lượng của nguồn nước mặt, nước ngầm; mức độ đảm bảo và khả năng khai thác nước ngầm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân, phục vụ cho sản xuất, hạn chế làm ô nhiễm nguồn tài nguyên nước.

Lưu vực sông Lô nói riêng và cả hệ thống lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình nói chung đang chịu những sự thay đổi của khí hậu; khí tượng, thủy văn biến đổi phức tạp; mưa to, gió lốc, bão lớn, hạn hán xẩy ra thường xuyên và không theo quy luật đã ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống, kinh tế của nhân dân trên lưu vực.

Lượng mưa hàng năm khá lớn và tập trung chủ yếu trong mùa mưa (từ tháng 6¸11) gây ra lũ quét, lũ lụt ở nhiều nơi, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân, làm tổn hại tài sản, hoa màu và các công trình hạ tầng. Lũ quét, lũ ống còn làm cho các suối đổi dòng, chia cắt ruộng đất, làm mất đất canh tác. Lũ lụt còn làm ngập úng (năm cao nhất có tới 76 xã, phường, thị trấn ven sông bị ảnh hưởng lũ lụt), gây hư hỏng nhà cửa, trường học, bệnh xá, đường giao thông, hệ thống điện, hệ thống cấp nước, các công trình thuỷ lợi, làm ngừng trệ sản xuất, gây ô nhiễm môi trường.

Lưu vực sông Lô, Gâm thuộc địa phận tỉnh Tuyên Quang chỉ là một phần trong toàn bộ lưu vực hệ thống sông Hồng – Thái Bình có liên quan tới nhiều tỉnh, nhưng hệ thống thông tin liên lạc và điều hành giữa các vùng có liên quan còn yếu kém, thiếu phương tiện, thiết bị, công nghệ hiện đại để phối hợp, trao đổi thông tin để sử lý các vấn đề phát sinh trong lưu vực.

Mặt khác, sự phối hợp giữa các ngành liên quan trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên nước chưa đồng bộ, nên chưa đánh giá được sự ảnh hưởng của việc sử dụng tài nguyên nước trong khu vực. Do vậy trên lưu vực cần có sự thống nhất giữa các ngành; các địa phương, các tỉnh có liên quan trong lưu vực trong việc tổ chức quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên của lưu vực.     

4. Các kiến nghị và đề xuất ưu tiên:

Đề nghị Ban quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-Thái Bình tạo điều kiện để các địa phương, các ngành có liên quan thường xuyên được trao đổi thông tin về các vấn đề phát sinh trong lưu vực, bàn bạc các giải pháp, phương án khai thác lưu vực để thống nhất trong công tác quản lý, quy hoạch, khai thác hiệu quả tài nguyên nước trong lưu vực.

Sau khi công trình thuỷ điện Tuyên Quang đưa vào vận hành thì dòng chảy, chế độ thuỷ văn, hiện tượng xói lở, bồi lắng của sông Gâm, sông Lô ở hạ lưu công trình sẽ có nhiều thay đổi; một số trạm bơm tưới vùng ven sông Lô có thể bị treo, chế độ hoạt động và quy trình vận hành sẽ thay đổi so với thiết kế ban đầu; vận tải đường sông và các hoạt động nuôi trồng thủy sản cũng có nhiều ảnh hưởng bất lợi. Do vậy trong thời gian tới đề nghị ưu tiên đầu tư nghiên cứu ảnh hưởng của sự thay đổi dòng chảy hạ lưu công trình thuỷ điện Tuyên Quang để đưa ra các biện pháp khắc phục có hiệu quả.

Triển khai đầu tư xây dựng các dự án thủy lợi Bắc Chiêm Hóa, Nam Sơn Dương, dự án Đèo Chắn – Thác Dẫng khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên nước của lưu vực để cung cấp nước cho sản xuất, nâng cao đời sống của nhân dân góp phần ổn định đời sống, an ninh, chính trị trong lưu vực.

Xây dựng các tuyến đê phòng lũ cho một số xã còn lại của vùng ven sông Lô thuộc huyện Sơn Dương và Yên Sơn (xã Cấp Tiến, xã Đội Cấn). Nghiên cứu phương án xây dựng  bờ bao, đê ngăn lũ và một số trạm bơm tiêu, cống tiêu (cống Ngòi Khổng, Ngòi Cát, Ngòi Liễn, Ngòi Là, Ngòi Chả, Ngòi Thục) để tiêu nước đồng bị ứ lại khi nước ngoài sông Lô dâng cao.

Tiến hành điều tra, thăm dò nguồn nước ngầm để có cơ sở khai thác sử dụng hợp lý, xác định chất lượng nước sử dụng, quản lý chặt chẽ các hoạt động khai thác cát, sỏi lòng sông, các công trình xây dựng làm thu hẹp lòng sông.

Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, ngành về quy hoạch xây dựng, quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên nước đảm bảo theo đúng Luật Tài nguyên nước.

 

Nguyễn Thị Định

Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT Tuyên Quang

 

 

 
CÁC TIN KHÁC
  BÁO CÁO THAM LUẬN CỦA TỈNH NAM ĐỊNH
  THAM LUẬN TỈNH LẠNG SƠN
  THAM LUẬN TỈNH THÁI BÌNH
  BÁO CÁO THAM LUẬN TỈNH NINH BÌNH
  BÁO CÁO THAM LUẬN CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn