I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
THAM LUẬN CỦA HÀ NỘI
 

Hà Nội là trái tim của cả nước, đầu não chính trị, hành chính Quốc gia, là trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế. Với diện tích 920,98km2 với dân số xấp xỉ 3,0 triệu người, Hà Nội đang cùng với sự đổi mới của đất nước và có những thay đổi nhanh chóng.

Với vị trí nằm ở trung tâm Bắc Bộ, giới hạn trong khoảng từ 20o53 đến 21o23 vĩ độ Bắc, 105o44 đến 106o02 kinh độ đông; tiếp giáp với 5 tỉnh: Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Tây và Vĩnh Phúc.

Lượng mưa trung bình năm khoảng 1.250-1.870 mm, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 thường tập trung tới 85% lượng mưa cả năm, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chiếm khoảng 15% tổng lượng mưa năm; mưa lớn nhất thường vào tháng 7,8 đây cũng là tháng thường có nhiều cơn bão nhất mực nước các sông dâng cao gây khó khăn cho tiêu úng, tháng có lượng mưa nhỏ là tháng 1 và tháng 2 khó khăn cho việc làm ải và gieo cấy vụ đông xuân.

Về thuỷ văn, trên địa bàn Hà Nội có nhiều con sông chảy qua, các hồ chứa nước...đây là nguồn nước mặt cung cấp cho sản xuất và các hoạt động phát triển kinh tế khác;

+ Sông Hồng: Là con sông lớn nhất chảy qua TP Hà Nội với chiều dài 40km có lưu lượng bình quân hàng năm 2640 m3/s với tổng lượng nước khoảng 83,5 triệu m3. Đây là nguồn nước cung cấp chính cho TP Hà Nội.

+ Sông Đuống: Là phân lưu của sông Hồng tại xã Thượng Cát chảy qua địa phận huyện Gia Lâm chiều dài 24 km.

+ Sông Nhuệ: Là con  sông vừa có nhiệm vụ cấp nước và tiêu thoát nước cho Hà Nội, đựơc nối  với sông Hồng bằng cống Liên Mạc và đổ vào sông Đáy tại Phủ Lý.

+ Ngoài ra trên địa bàn TP còn có sông cà Lồ và sông Cầu cũng là những con sông cung cấp nước quan trọng cho Hà Nội và một số sông thoát nước cho nội thành sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét, sông Kim Ngưu.

Hà Nội có một hạ tầng kỹ thuật thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp, nông thôn tương đối hoàn chỉnh. Hệ thống thuỷ lợi tưới gồm: 418 trạm bơm điện (664 máy bơm các loại từ 1.000m3/h đến 8.000m3/h); 30 hồ chứa nhỏ, đập dâng tại huyện Sóc Sơn; tổng chiều dài kênh mương tưới là 1.247,5km. Hệ thống công trình thuỷ lợi tiêu gồm: 35 trạm bơm tiêu quy mô lớn với 315 máy bơm các loại, trên 279,5km kênh tiêu chính. Năng lực tưới hiện nay của hệ thống công trình thuỷ lợi là 35.133ha, đảm bảo tưới chủ động 90% diện tích đất canh tác, phần diện tích chưa được tưới chủ động còn lại chủ yếu ở vùng trung du, bãi ngoài đê; diện tích tiêu bằng động lực là 19.500ha, trong đó, đảm bảo tiêu chủ động được 70% diện tích. Hà Nội có 7 tuyến đê chính với chiều dài 151,8km, trong đó có 37,7km tuyến đê Hữu Hồng là đê cấp đặc biệt, 50,5km đê tuyến Tả Hồng, Hữu Đuống là đê cấp I, 22,4km đê Tả Đuống là đê cấp II và 41,2km đê Tả, Hữu Cà Lồ và Hữu Cầu là đê cấp III.

I. Tình hình thiên tai và các biện pháp khắc phục của địa phương.

Cũng như các tỉnh thuộc lưu vực sông Hồng - Thái Bình, vụ xuân 2006 của Hà Nội cũng là vụ xuân thứ 3 liên tiếp xảy ra tình trạng hạn hán: tổng lượng mưa phổ biến từ 130mm đến 150mm, thấp hơn trung bình nhiều năm từ 50mm đến 70mm; mực nước sông Hồng ở mức rất thấp, trong tháng 1, mực nước sông Hồng tại Hà Nội trung bình là +2.09m, thấp hơn TBNN 1.05m, trong tháng 2 mực nước trung bình là +1.94m, thấp hơn TBNN 0.95m, đặc biệt vào ngày 20/2/2006, mực nước sông Hồng đã xuống đến mức kỷ lục +1.36m. Nước cạn đồng nghĩa với việc không có dòng chảy sinh thái, làm thay đổi dòng chảy, ảnh hưởng đến sinh hoạt và những hiểm hoạ về môi trường. Việc thiếu nước ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đối với việc gieo trồng của bà con nông dân.

Trước tình hình hạn hán, để đảm bảo nước tưới cho 31.540ha cây trồng theo kế hoạch dự kiến (19.540ha lúa, 12.000ha rau, màu), được sự quan tâm chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp & PTNT, UBND Thành phố Hà Nội, với chức năng quản lý nhà nước, bằng các văn bản cụ thể, Sở Nông nghiệp & PTNT Hà Nội đã chỉ đạo các Công ty KTCT Thuỷ lợi, các xã triển khai các biện pháp chống hạn, tập trung vào bốn nội dung cơ bản sau:

1. Rà soát những diện tích có khả năng thiếu nước để lên kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Trong vụ xuân vừa qua, tổng diện tích lúa được chuyển đổi sang trồng lạc, đậu tương, rau, hoa cao cấp trên địa bàn là 2.500ha.

2. Tổ chức nạo vét, tu bổ hệ thống kênh mương, các bể hút, đặc biệt là các bể hút trạm bơm đầu mối ngoài sông đã được hạ đến cao trình thiết kế Min; tổ chức kiểm tra đánh giá hiện trạng và xử lý kịp thời các sự cố công trình.

3. Theo dõi chặt chẽ các nguồn nước, đặc biệt là trữ nước các hồ chứa, sử dụng mọi nguồn nước hợp lý, tích kiệm, tăng cường các biện pháp trữ nước tại mặt ruộng, các hệ thống sông, kênh trục nội đồng để cung cấp nước tạo nguồn cho các trạm bơm trong hệ thống.

4. Xây dựng phương án chống hạn chi tiết đến từng trạm bơm đầu mối. Chuẩn bị sẵn sàng nhân lực, vật lực và các biện pháp cụ thể để có thể chủ động nguồn nước trong điều kiện mực nước sông xuống đến mức thấp nhất.

II. Đánh giá kết quả công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất và đời sống.

1- Kết quả đạt được:

Với các giải pháp nêu trên, tổng khối lượng làm thuỷ lợi trên địa bàn đã thực hiện được như sau:

- Khối lượng nạo vét kênh mương, bể hút là 286.000m3 (trong đó: các Công ty KTCT Thuỷ lợi thực hiện 61.000m3, nhân dân thực hiện nạo vét các kênh nội đồng là 225.000m3).

- Bảo dưỡng 201tổ máy bơm của 49 trạm bơm do các Công ty KTCT Thuỷ lợi quản lý; chuẩn bị phương tiện, vật tư để sẵn sàng lắp đặt các trạm bơm dã chiến bơm tạo nguồn khi mực nước sông, hồ xuống thấp.

- Thay thế, nối kéo dài ống hút (trung bình xấp xỉ 1,0m/máy) nhằm đảm bảo các trạm bơm hoạt động được khi mực nước sông Hồng xuống đến cao trình +2.00m.

Mặc dù tình hình khí tượng, thuỷ văn vụ Xuân 2006 có những diễn biến bất lợi đối với sản xuất nông nghiệp, đời sống nhân dân. Nhưng do chú trọng trong công tác chống hạn, công tác thuỷ lợi trên địa bàn đã đạt được những kết quả chính như sau:

- Chủ động cấp đủ nước tưới, góp phần nâng cao năng suất cho 32.220ha cây trồng vụ xuân (20.020ha lúa vụ xuân, tăng 2,8% so với kế hoạch và 12.000ha rau, màu, hoa cao cấp).

- Đảm bảo cung cấp đủ nước cho 3.120ha đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, đưa giá trị sản xuất của ngành thuỷ sản trong 6 tháng 2006 là 70tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ năm 2005 là 20tỷ đồng.

2- Thuận lợi, khó khăn.

Hà Nội là thủ đô của cả nước, là trung tâm văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch Quốc tế có tốc độ tăng trưởng ở mức cao, giao thông thuận tiện các yếu tố trên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành kinh tế phát triển nhanh.

Sản xuất nông nghiệp ở Hà Nội mang tính sản xuất hàng hoá chất lượng cao, một nền sản xuất sinh thái gắn với quy hoạch về không gian đô thị của thủ đô, lao động nông nghiệp dồi dào có trình độ văn hoá, có tri thức tiếp thu nhanh những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới. Đặc biệt trong nền sản xuất hàng hoá đã tỏ ra nhanh nhạy, linh hoạt, những mô hình chuyển đổi sản xuất sang trồng hoa, nuôi bò sữa, sản xuất cá giống... cho thấy rõ thế mạnh của sản xuất nông nghiệp trong cơ chế thị trường.

Đất đai phần lớn là đất phù sa châu thổ sông Hồng nên màu mỡ, thời tiết thuận lợi cho cây trồng phát triển, lưu lượng dòng chảy khá phong phú, lượng phù sa hàng năm lớn thuận lợi cho phát triển nông nghiệp.  

Công nghiệp của thành phố phát triển nhanh đã và đang thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá nông thôn, hiện đại hoá nông nghiệp tuy nhiên trang thiết bị, công nghệ chưa nhanh chóng đổi mới, còn lạc hậu, chắp vá, thị trường tiêu thụ hàng công nghiệp còn hạn hẹp và chưa ổn định.

Cơ chế chính sách đã và đang được chuyển đổi cho phù hợp với quá trình phát triển sản xuất ở nông thôn, đã tạo ra động lực cho các ngành kinh tế phát triển.

Quá trình đô thị diễn ra nhanh khiến đất nông nghiệp ngày giảm đi, sức ép dân số ngày một tăng đặt ra cho ngành nông nguệp thách thức trong việc thực hiện nhiệm vụ về cung cấp thực phẩm cho dân cư của thủ đô.

Vốn đầu tư cho phát triển sản xuất còn hạn chế, sức thu hút đầu tư đặc biệt là đầu tư nước ngoài còn thấp.

3- Cơ hội, thách thức

Thành phố Hà Nội Đây đang được các nhà đầu tư quan tâm, có xu thế mở rộng hợp tác phát triển kinh tế với các tổ chức quốc tế, do vậy cần chuẩn bị sẵn những dự án để gọi vốn đầu tư của nước ngoài.

            Nguồn lao động dồi dào, có khả năng đón nhận và  áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ mới trong nước và của thế giới vào sản xuất để tăng nhanh sản xuất, chất lượng sản phẩm, hiệu quả.

Nền kinh tế trong tỉnh ngày càng phát triển nhu cầu nước ngày một tăng đối với sản xuất và cấp nước sạch cho nguời dân cần có biện pháp sử dụng hợp lý nguồn nước để đảm bảo sự phát triển bền vững trong khu vực nói chung.

Tốc độ đô thị hoá cao, phát triển các mạnh các khu du lịch, dịch vụ, các làng nghề và công nghiệp đòi hỏi mức độ tiêu cao hơn, hệ số tiêu tăng lên, nên phải có biện pháp tiêu phù hợp.

Nguồn nước của các sông trong thành phố đang có nguy cơ bị ô nhiễm nặng do nước thải công nghiệp và sinh hoạt không được xử lý và kiểm soát chặt chẽ, thiên tai diễn biễn phức tạp khiến cho tình hình hạn hạn, lũ úng  ngày càng gia tăng.

Những thách thức đó đặt ra yêu cầu cho ngành thuỷ lợi phải tìm ra giải pháp phát triển và quản lý nguồn nước, khai thác hệ thống công trình thủy lợi hợp lý, đảm bảo sự phát triển bền vững, bảo đảm lợi ích chung, công bằng giữa các địa phương, các ngành.

III. Các vấn đề phát sinh, những khó khăn tồn tại và các kiến nghị.

1- Nhữngvấn đề phát sinh và tồn tại:

- Chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng mới, thay đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây con vật nuôi mới, chuyển đổi một bộ phận đất trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản và trồng cây ăn quả, rau an toàn, trồng hoa  có giá trị hàng hoá cao hơn... đang đặt ra hàng loạt vấn đề thay đổi về yêu cầu cấp nước cũng như tiêu thoát nước.

- Đất nông nghiệp ở Hà Nội có xu hướng giảm, đặt ra yêu cầu cần phải đầu tư thâm canh, tăng năng suất cây trồng để thu được hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích do vậy phải chủ động về cấp và thoát nước cho vùng sản xuất, giải quyết tưới cho vùng bãi thuộc huyện Đông Anh và Gia Lâm.

- Tốc độ đô thị hoá cao, phát triển các mạnh các khu du lịch, dịch vụ, các làng nghề và công nghiệp đòi hỏi mức độ tiêu cao hơn, hệ số tiêu tăng lên, nên phải có biện pháp tiêu phù hợp để không gây ảnh hưởng tới các vùng nông nghiệp xung quanh như hệ thống Bắc Hưng Hải, sông Nhuệ, Bắc Đuống. Do đô thị hoá một số vùng có hệ số tiêu nhỏ không đáp ứng được yêu cầu tiêu hiện nay cần bổ sung thêm công trình tiêu như khu vực Đông Anh, Gia Lâm, khu vực quận Cầu Giấy, Thanh Xuân, Tây Hồ và bổ sung thêm năng lực tiêu cho khu vực nội thành.

- Nhiều công trình thuỷ lợi được xây dựng và khai thác quá lâu nay đã xuống cấp làm hạn chế năng lực phục vụ. Hệ thống kênh mương phần lớn là kênh đất, sử dụng lâu ngày bị sạt lở nhiều, không đảm bảo mặt cắt thiết kế dẫn đến năng lực tưới kém, cần thực hiện chương trình kiên cố hoá kênh mương và cải tạo nâng cấp một số công trình. Các trục tiêu thoát nước chính trong thành phố bị bồi lắng ảnh hưởng đến tiêu thoát.

- Hà Nội là thủ đô của cả nước vấn đề phòng chống lũ và bảo vệ đê điều được đặt ra ở mức cao nhất, không để xảy ra vỡ đê trong bất kể trường hợp nào. Các tuyến đê thuộc hệ thống sông Hồng phải đảm bảo an toàn với mực nước lũ thiết kế tại trạm thuỷ văn Hà Nội 13,1 (riêng đê hữu sông Hồng thuộc phạm vi nội thành Hà Nội là đê cấp đặc biệt phải đảm bảo mức chống lũ với mực nước 13,4 m tại trạm thuỷ văn Hà Nội). Tiếp tục nâng cao chất lượng đê, hoàn chỉnh mặt cắt đê theo tiêu chuẩn thiết kế, thực hiện giải pháp gia cường nền đê, chống lún nứt.

- Lượng nước thải công nghiệp và sinh hoạt ngày càng tăng cần có biện pháp và phương án xử lý nước thải để không gây ảnh hưởng tới môi trường chung cho cả đô thị và nông thôn, đảm bảo sự phát triển bền vững cũng cần được đặt ra.

2. Phương án giải quyết:

a- Cấp nước

            - Cải tạo nâng cấp trạm bơm tưới và hệ thống kênh mương đã có.

- Kiên cố hoá kênh mương các trạm bơm Liên Đàm, Báo Đáp, Dương Quang, Nội Bài, Mạnh Tân, Vùng rau Vân Nội, kênh hồ Đại Lải.

- Xây dựng trạm bơm tưới vùng đông Nam huyện Thanh Trì.

b- Thoát nước

            - Hiện nay đã hoàn thành trạm bơm Yên Sở tiêu ra sông Hồng giai đoạn I (Q = 45m3/s), cần tiếp tục dự án giai đoạn II (Q = 45m3/s) và các công trình khác có liên quan để đảm bảo yêu cầu tiêu thoát cho lưu vực sông Tô Lịch 7.750ha. 

            - Tiêu thoát nước khu vực Đông Anh và Bắc Gia Lâm có mối liên quan chặt chẽ với hệ thống tiêu Bắc Đuống (gồm cả địa phận của Hà Nội và Bắc Ninh). Đối với khu vực này cần tập trung nghiên cứu giải quyết tiêu thoát bằng động lực ra các sông trục chính như:

               + Khu đô thị phát triển Đông Anh dự kiến tiêu thoát ra sông Hồng bằng trạm bơm Vĩnh Thanh với quy mô khoảng 70m3/s, diện tích tiêu 7.200ha, có kết hợp tiêu tự chảy ra sông Ngũ Huyện Khê khi mực nước thấp cho phép.

               + Cải tạo, nâng cấp trạm bơm tiêu Phương Trạch, tiêu thoát nước cho vùng Việt Thắng - Thành Công với diện tích 1.500ha, hướng tiêu ra sông Hồng.

            - Tiêu thoát nước khu vực Nam Gia Lâm có mối liên quan chặt chẽ với hệ thống tiêu Bắc Hưng Hải (gồm cả địa phận của Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Dương). Đối với khu vực này cần tập trung nghiên cứu giải quyết bằng các biện pháp xây dựng trạm bơm tiêu Long Biên, tiêu ra sông Hồng với diện tích 1.450ha, lưu lượng 18m3/s. Trong trường hợp mưa nhỏ, mực nước cho phép vẫn kết hợp tiêu tự chảy qua cống Xuân Thuỵ đổ vào sông trục Bắc Hưng Hải.

- Cải tạo nâng cấp trạm bơm Thạc Quả, Nhị Châu- Liên Ninh, Đại Áng, Đồng A, Lộc Hà, Cẩm Hà, Xuân Dương, Minh Đức, Bình Trù, Siêu Quần .

- Nạo vét cải tạo sông tiêu Thiên Đức, kênh đào Nguyên Khê, kênh tiêu Bắc Thanh Trì, sông Pheo, Thượng Cát - Tây Tựu.

c- Phòng chống lũ

- Giải quyết đủ chiều cao, mặt cắt đê theo thiết kế chống lũ, lấp các ao hồ ven đê, gia cố đê bằng khoan vụt vữa, xây tường chắn. Tu bổ đê Tả sông Hồng, Tả hữu sông Đuống, Tả hữu Cà Lồ, sông Cầu.

- Thiết lập hành lang thoát lũ trên đoạn sông Hà Nội - Hưng Yên; Bước đầu thiết lập hành lang thoát lũ đoạn Chèm - Khuyến Lương,

- Hiện nay khu dân cư trên bãi sông Hà Nội phát triển rất nhanh đến mức không kiểm soát được; cần sớm có quy hoạch sắp xếp dân cư ngoài bãi sông, tạo điều kiện quản lý và khai thác có hiệu quả quỹ đất hai bên sông Hồng.

- Dựa vào các quy luật vận động lòng sông, yêu cầu khai thác các công trình sẵn có, cùng với các công trình uốn nắn lòng sông của ngành giao thông đã xây dựng

d- Môi trường, chất lượng nước

        - Cần có một chương trình và kế hoạch cụ thể toàn diện về bảo vệ môi trường nước, xử lý nước thải trước khi xả vào nguồn nước, xử lý rác thải. Bổ sung nguồn nước cho các hệ thống để pha loãng, giảm ô nhiễm đảm bảo nước có chất lượng để sử dụng tiếp cho các vùng lân cận Hà Nội.

3. Đề xuất, kiến nghị:

- Cần lập quy hoạch thuỷ lợi chi tiết cụ thể cho Thành phố Hà Nội đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng.

- Tiến hành điều tra cơ bản về dân sinh kinh tế, khảo sát địa hình, thuỷ văn, địa chất phục cho tính toán nghiên cứu.

 - Hành lang thoát lũ đoạn Hà Nội đã được nghiên cứu, đã có kết quả khá tập trung, vì vậy đề nghị Ban có sự phối hợp với các cơ quan hữu quan sớm trình các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt để làm cơ sở quy hoạch lại vùng bãi sông Hồng, tạo điều kiện thoát lũ tốt hơn.

IV- Những hạng mục công trình cần được ưu tiên đầu tư:

 Do khối lượng công việc nhiều, rất nhiều dự án cấp bách nhưng không thể cùng thực hiện cùng một lúc được nên phải sắp xếp theo thứ tự, để phù hợp với khả năng huy động vốn; cụ thể như sau:

1- Về Tưới

- Xây dựng mới các công trình: Trạm bơm Đồng Lác, TB. Lai Sơn, hệ thống tưới Nhân Hoà, tưới bãi huyện Đông Anh, Gia Lâm.

            - Cải tạo nâng cấp: Các trạm bơm tưới Thá, TB. Đồng Trầm, TB. Tân Hưng, TB. Xuân Dương; Các hồ Cầu Bãi, hồ Mai Đình, hồ Đan Tảo.

- Kiên cố hoá kênh mương của các công trình.

2- Về Tiêu

- Xây dựng mới các công trình như: TB. Long Biên,  TB. Nhị Châu II, TB. Ngõ Mang, TB. Vĩnh Thanh, TB. Yên Sở giai đoạn II ...

- Nâng cấp hệ thống tiêu đông bắc Sóc Sơn, TB. Phương Trạch, TB. Siêu Quần, TB. Cầu Biêu, nạo vét kênh Tiên Thành, sông Cầu Bây.

3- Về phòng chống lũ:

            - Đầu tư nghiên cứu, đánh giá diễn biến dòng chảy của sông Hồng, sông Đuống do đã xây dựng các hồ chứa ở phía thượng lưu và các cầu qua sông;

            - Đầu tư, nâng cấp các tuyến đê để đảm bảo chống lũ với các tần suất cao hơn như hiện nay; trước mắt tập trung tuyến đê sông Đuống.

4- Về môi trường và chất lượng nước:

            - Tiếp tục nghiên cứu, đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án tổng thể bảo vệ môi trường sông Nhuệ - sông Đáy;

            - Xây dựng các biện pháp tách riêng nước mặt và nước sinh hoạt đẻ có các giải pháp xử lý phù hợp;

 

                                                          

 
CÁC TIN KHÁC
  THAM LUẬN CỦA TỈNH TUYÊN QUANG
  BÁO CÁO THAM LUẬN CỦA TỈNH NAM ĐỊNH
  THAM LUẬN TỈNH LẠNG SƠN
  THAM LUẬN TỈNH THÁI BÌNH
  BÁO CÁO THAM LUẬN TỈNH NINH BÌNH

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn