I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
BÁO CÁO CỦA TỈNH THÁI BÌNH TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT NĂM 2006
 

BÁO CÁO NỘI DUNG LIÊN QUAN CÔNG TÁC QUẢN LÝ QUY HOẠCH LƯU VỰC SÔNG HỒNG - THÁI BÌNH

I.                    Đặc điểm chung của tỉnh Thái Bình:

Thái Bình là một tỉnh đồng bằng ven biển, nằm ở vị trí hạ lưu sông Hồng, ba mặt giáp sông, 1 mặt giáp biển. Địa hình nhìn chung bằng phẳng độ dốc nhỏ hơn 1% theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, cao độ mặt đất phổ biến từ (+1.0)m tới (+2.0)m. Diện tích đất tự nhiên 154.594 ha; diện tích đất có mặt nước ven biển (ngoài địa giới hành chính) đang khai thác là 10.178 ha. Đất nông nghiệp là 106.812 ha, trong đó diện tích sản xuất nông nghiệp 95.830 ha, bình quân đất nông nghiệp trên 1 người là 579m2/người.

Chế độ thuỷ văn nguồn nước mặt chịu tác động chi phối của thuỷ triều và dòng chảy sông Hồng. Mùa khô dòng chảy kiệt, mực nước sông Hồng xuống thấp điển hình như vụ xuân 2005, 2006 khả năng khai thác nguồn nước mặt từ sông Hồng khó khăn. Mùa lũ do điều tiết hồ Hoà Bình duy trì lũ cao kéo dài dễ gây tổ hợp bất lợi cho tiêu: mưa lớn, gặp triều lửng trùng với lũ lớn trên sông Hồng khả năng tiêu chính bằng trọng lực bị hạn chế, thiệt hại ngập úng khó tránh khỏi điển hình như vụ mùa 2003, 2004 và 2005.

Là tỉnh có số dân trên 1,8 triệu người, mật độ 1.192 người/km2 cao nhất vùng ĐBSH. Trước yêu cầu phát triển kinh tế cùng với quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá và áp lực đòi hỏi dân số, đòi hỏi nhu cầu nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dân sinh ngày càng tăng về số lượng và chất lượng.

II.                  Nội dung liên quan dến quản lý quy hoạch lưu vực sông Hồng - Thái Bình:

1. Phương hướng phát triển nông nghiệp:

a. Định hướng phát triển nông nghiệp nông thôn Thái Bình đến 2010 - 2020:

Nghị quyết 04/NQ - TU của tỉnh uỷ Thái Bình chủ trương về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi nhằm chuyển mạnh sản xuất nông nghiệp sang sản xuất hàng hoá, phát triển nông nghiệp toàn diện đạt năng suất cao sang giá trị cao trên một đơn vị diện tích.

- Thay đổi bộ giống lúa truyền thống sang giống lúa thuần, lúa lai Trung quốc có ưu thế năng suất cao, thời gian chiếm đất ngắn cho phép tạo quỹ đất mở rộng diện tích vụ đông thành vụ chính nhằm nâng tổng giá trị sản xuất trên 1ha/năm. Sản xuất nông nghiệp phấn đấu đạt tổng giá trị sản lượng từ 50 triệu đồng/ha/năm trở lên.

Mục tiêu đến năm 2010 phấn đấu mỗi thôn, xã, huyện, thị có 40% diện tích đất canh tác đạt mục tiêu giá trị sản lượng 50triệu đồng/ha/ năm.

Xây dựng các vùng nông sản hàng hóa: vùng lúa chất lượng cao (Tiền Hải, Kiến Xương, Thái Thụy), vùng khoai tây tập trung (Hưng Hà, Đông Hưng, Kiến Xương), vùng đậu tương (Vũ Thư, Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Đông Hưng), vùng ngô (Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Vũ Thư), vùng rau quả hàng hoá (Thái Thụy, Quỳnh Phụ, Thành Phố)

- Phát triển mạnh mẽ kinh tế VAC và tiếp tục phát động phong trào cải tạo vườn tạp để  trồng  cây có giá trị kinh tế cao, tạo vùng sản xuất hàng hoá.

- Phát triển vùng chăn nuôi tập trung, phát triển trang trại chăn nuôi có quy mô lớn: nái ngoại 600 con/trại trở lên, lợn thịt 2.000 con trở lên…

- Phát triển vùng nuôi thuỷ sản nước ngọt tập trung. Khai thác thuỷ sản nước mặt nước và bãi triều: nuôi trồng thuỷ sản kết hợp phát triển rừng ngập mặn và bảo vệ sinh thái ruộng đất ngập nước.

- Ứng dụng mạnh mẽ tiến bộ khoa học kỹ thuật trong bảo quản sau thu hoạch để giảm tổn thất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Đầu tư phát triển công nghiệp chế biến lúa gạo, rau quả, nấm, nụ hoè, thuỷ sản, thức ăn chăn nuôi. Đẩy mạnh cơ giới hoá trong nông nghiệp tới 2010 đạt tỉ lệ cơ giới hoá 80% khâu làm đất, vận chuyển bằng máy và 100% các khâu khác sử dụng máy.

b. Kết quả thực hiện công tác chuyển đổi cơ cấu sản xuất:

- Diện tích cấy lúa cả năm 2006 là 166.011 ha, giảm 1.375 ha (0,82%); năng suất lúa đạt 129,1 tạ/ha/năm, vụ xuân 70,09 tạ/ha, vụ mùa 58,01tạ/ha là năm có năng suất lúa cao nhất từ trước đến nay. Sản lượng lương thực 1,113 triệu tấn trong đó lúa đạt 1,070 triệu tấn.

Chuyển đổi cơ cấu giống lúa ngắn ngày: trà xuân muộn chiếm 78,85%; vụ mùa lúa ngắn ngày chiếm tỷ lệ 96%

- Diện tích cấy lúa, làm muối kếm hiệu quả chuyển sang trồng màu, hoa cây cảnh, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản nước lợ, nước ngọt tới năm 2006 tổng diện tích đạt 7.383 ha; giai đoạn 2001 - 2004 diện tích cấy lúa đã giảm 4.783ha

- Diện tích cây vụ đông bình quân 5 năm 2000-2004 là 27.027ha/vụ chiếm 30% diện tích canh tác, có xu hướng tăng nhưng chưa ổn định. Cây chủ lực để mở rộng diện tích vụ đông là đậu tương, ngô, khoai tây, rau.

- Đầu tư xây dựng 18 vùng nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt tập trung, tới năm 2006 đã có một số vùng hoàn thành đưa vào sản xuất bước đầu có hiệu quả.

- Xây dựng 8 khu chăn nuôi tập trung với tổng diện tích 110ha

- Huyện Thái Thụy đã quy hoạch khoanh nuôi 800ha ngao

- Cơ cấu hộ nông thôn, nông nghiệp đã chuyển mạnh theo hướng tăng tỷ lệ hộ làm thương mại, công nghiệp và dịch vụ . Số hộ làm nông nghiệp năm 1994 là 95,6% tới năm 2000 giảm xuống 80,8% so với cả nước 77,1%, vùng ĐBSH 78,3%

c. Công tác thuỷ lợi phục vụ chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn

Trong các dự án vùng chăn nuôi tập trung và vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung có nội dung xây dựng quy hoạch thuỷ lợi.

Viện Quy hoạch Thuỷ lợi đang triển khai nhiệm vụ được Bộ Nông nghiệp và PTNT giao xây dựng quy hoạch thuỷ lợi vùng kẹp giữa sông Hồng và sông Hoá; UBND tỉnh Thái Bình có kế hoạch đầu tư quy hoạch nâng cao hệ thống thuỷ lợi tỉnh giai đoạn 2006-2020.

d. Tồn tại:

- Công tác quản lý nhà nước về các quy hoạch thuỷ lợi phục vụ phát triển vùng chăn nuôi tập trung, vùng thuỷ sản tạp trung chưa được thống nhất. Chưa rõ vai trò của cơ quan QLNN trong lĩnh vực thuỷ lợi đối với việc xây dựng, thẩm định, quản lý khai thác công trình …

- Chưa được đầu tư bổ sung quy hoạch thuỷ lợi kịp thời cho những vùng chuyển đổi tập trung nên hiệu quả phục vụ sản xuất bị hạn chế;

- Chưa có quy hoạch thuỷ lợi phục vụ vùng lúa chất lượng cao do công tác quy vùng sản xuất chậm

e. Kiến nghị:

- Quy định nhiệm vị quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuỷ lợi đối với việc xây dựng quy hoạch thuỷ lợi vùng nuôi trồng thuỷ sản, chăn nuôi tập trung.

- Đầu tư xây dựng quy hoạch thuỷ lợi cho những vùng chuyển đổi

- Ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thuỷ lợi phục vụ chuyển đổi.

2. Tình hình phát triển đô thị, công nghiệp, làng nghề, và vấn đề ô nhiễm chất lượng nước:

a. Trong những năm qua đô thị hoá có tốc độ phát triển nhanh so với các năm trước: thị xã Thái Bình nâng cấp thành phố loại III, đang nâng cấp xây dựng thị xã Diêm Điền, Tiền Hải, một laọi thị trấn, thị tứ, khu dân cư tập trung trên địa bản tỉnh dần được hình thành… Đã hình thành các khu công nghiệp tập trung lớn như khu công nghiệp Phúc Khánh, Nguyễn Đức Cảnh, Tiền Phong, Tiền Hải, Diêm Điền…vv. Toàn tỉnh hiện có 162 làng nghề đang sản xuất được công nhận.

Cùng với sự phát triển đô thị, công nghiệp và làng nghề đã và đang gây ra vấn đề ô nhiễm nước mặt trong hệ thống công trình thuỷ lợi ngày càng nghiêm trọng do nước thải từ các khu công nghiệp, làng nghề và nước thải sinh hoạt.

Điển hình là nước sông Kiến Giang, sông Bạch thuộc hệ thống thuỷ nông Nam Thái Bình đã ở mức ô nhiễm ảnh hưởng nặng nề đến đời sống, sinh hoạt của nhân dân do nước thải từ các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Thái Bình chưa được xử lý và nước thải sinh hoạt của thành phố gây ra. Cụ thể có 3 khu công nghiệp tập trung lớn của thành phố Thái Bình xả nước thải là:

- Khu công nghiệp Phúc Khánh: diện tích 128,28 ha, tính tới tháng 5 năm 2005 có 24 dự án đầu tư, trong đó có 18 dự án đi vào hoạt động, 6 cơ sở đang xây dựng. Có nhiều cơ sở gây ô nhiễm như Xí nghiệp tẩy nhuộm Hồng Quân; Công ty Thiên Đồng (tái chế nhựa); Công ty thực phẩm…Khu vực này đã xây dựng 1 trạm xử lý nước thải đạt  laọi B của khu Đài tín, còn lại chưa có hệ thống thu gom nước thải đã gây ô nhiễm nguồn nước sông Kiến Giang.

- Khu công nghiệp Nguyễn Đức Cảnh diện tích 101,61ha, đã có 32 dự án đăng ký, trong đó có 17 dự án đi vào hoạt động. Khu CN này chưa xây dựng trạm xử lý nước thải nên nước thải đang gây ô nhiễm nặng sông Bạch và sông Kiến Giang

- Khu công nghiệp Tiền Phong diện tích 50,03ha, hiện đã có 50 cơ sở sản xuất cũ và mới hoạt động, trong đó có nhiều cơ sở gây ô nhiễm rất nghiêm trọng như nha máy mạ tôn kẽm, chế biến rác…Khu công nghiệp này chưa có trạm xử lý nước thải.

- Khu công nghiệp Phong Phú diện tích 11,42 ha có nhiều cơ sở gây ô nhiễm nhưng chưa có xử lý.

Ngoài ra các khu công nghiệp khác trong tỉnh cũng đang gây ô nhiễm chất lượng nước của hệ thống công trình thuỷ lợi như khu công nghiệp khí mỏ Tiền Hải, khu CN Tân Sơn - Diêm Điền, Cụm công nghiệp Đông La - Đông Hưng, Cụm công nghiệp Đồng Tu -Hưng Hà…

b. Nguyên nhân:

- Trong quá trình quy hoạch phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp nội dung bảo vệ môi trường chưa được coi trọng đúng mức. Hầu hết các dự án chưa có đánh giá tác động môi trường. Các chủ dự án không có giải pháp hoạc chưa đầu tư xây dựng công trình xử lý nước thải, rác thải, khí thải…

- Nguồn vốn đầu tư cho xử lý bảo vệ môi trường rất hạn chế.

- Công tác quản lý nhà nước về môi trường còn rất nhiều bất cập, yếu kém.

- Vai trò quản lý môi trường của Ban quản lý KCN chưa rõ ràng.

- Chưa có quy hoạch tiêu thoát nước thải cho các làng nghề và khu dân cư tập trung ở các vùng nông thôn.

c. Giải pháp:

- Yêu cầu các chủ đầu tư dự án trong khu, cụm công nghiệp phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

- Đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung tại cac khu CN.

- Xây dựng hệ thống quan trắc, phân tích môi trường tại các KCN

- Tăng vai trò trách nhiệm của Ban quản lý KCN về bảo vệ môi trường

- Quy hoạch tiêu nước thải cho các làng nghề và khu dân cư tập trung ở nông thôn.

- Tăng cường thanh kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm về môi trường.

3. Hiện trạng hệ thống  thuỷ lợi Thái Bình:

Được phân thành hai hệ thống thuỷ nông quy mô lớn: hệ thống thuỷ nông Bắc Thái Bình có diện tích mặt bằng trên 80.000ha; hệ thống thuỷ nông Nam Thái Bình diện tích mặt bằng trên 56.000ha. Công trình thuỷ lợi được hình thành và dần hoàn thiện qua các thời kỳ quy hoạch trước đây phục vụ chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp bao gồm 584km đê, 237 cống dưới đê, trong đó các doanh nghiệp thuỷ nông quản lý 131 cống, 1953 cống đập nội đồng, 1183 trạm bơm điện, trong đó 29 trạm bơm tiêu ra ngoài đê có tổng  lưu lượng tiêu thiết kế 588.600m3/h, 160 ttrạm tưới kết hợp tiêu trong nội đồng, 1936 km sông dẫn chính và 14.220 km kênh mương mặt rượng. Hệ thống công trình được quản lý khai thác bởi 2 Công ty KTTL Bắc và Nam Thái Bình cùng trên 300 đội thuỷ nông cơ sở tại các HTXDVNN.

Đặc thù vùng ven biển hai huyện Thái Thụy, Tiền Hải bị mặn xâm nhập phải lấy nước từ các huyện phía thượng lưu của hệ thống và phải dùng trạm bơm cấp nguồn nước tưới cho vùng giáp biển

Các trạm bơm cấp nguồn nước tưới cho vùng ven biển

TT

Tên trạm bơm

Thuộc hệ thống

Chỉ tiêu kỹ thụât

D.tích cấp nguồn tưới (ha)

Năm xây dựng

Đơn vị quản lý

Kênh chính

Số máy

Loại máy

C.dài  (m)

Loại kênh

1

Hệ

Thuỷ nông Bắc

22x4000

Ngang

9300

1978

XN Thái Thụy

30000

Đất

2

Thụy Quỳnh

Thuỷ nông Bắc

10x2500

Đứng

1500

1990

XN Thái Thụy

10500

Đất

3

Thái Học

Thuỷ nông Bắc

  8x4000

Ngang

3000

1984

XN Thái Thụy

14000

Đất

4

Thống nhất

Thuỷ nông Nam

16x4000

Ngang

5561

1979

XN Tiền Hải

6000

Gia cố

8000

Đất

5

Nam Tiền Hải

Thuỷ nông Nam

16x4000

Ngang

4039

1985

XN Tiền Hải

13000

Đất

Tổng

 

 

23.400

 

 

81.500

 

Kết quả phục vụ nông nghiệp của hệ thống công trình thuỷ lợi do doanh nghiệp thuỷ nông của nhà nước quản lý:

Vụ

Loại cây trồng

Phương thức tưới

Cộng (ha)

Bơm điện (ha)

Tự chảy (ha)

Tạo nguồn TL  (ha)

Tạo nguồn B.điện (ha)

Xuân

Lúa

30.755

6.753

39.612

1.665

78.785

Màu

1.247

114

5.993

349

7.703

Mùa

Lúa

27.251

11.530

41.338

80

80.199

Màu

1.613

15

6.303

0

7.931

Phần diện tích tưới bơm điện của HTXDVNN quản lý là 35.119 ha.

  1. Tình hình hạn:

Khi thời tiết bất thường xảy ra như hạn vụ xuân 2004, 2005, 2006:

- Mực nước so với trung bình nhiều năm thiếu hụt đều trên 100 mm

- Mực nước giai đoạn đổ ải tháng 1,2 thấp hơn so với TBNN.

- Ảnh hưởng mặn xâm nhập: Trên tất cả các triền sông, mặn nhập vào sâu hơn so với các năm bình thường, độ mặn >10/oo vào sâu cửa sông từ 15 - 20 km.

- Ảnh hưởng hạn đến sản xuất nông nghiệp:

            Những năm đặc biệt, thực tế như trong các vụ xuân năm 1999, 2004, và 2005 do dòng chảy kiệt thấp trong vòng 30 - 40 năm trở lại đây, mực nước sông Hồng xuống rất thấp, tại Hà Nội dưới 2,0 m phải điều tiết hồ Hoà Bình trong giai đoạn đổ ải tập trung từ 5/2 tới 2/2 mới duy trì được mực nước dao động từ 2,1 tới 2,46 m trong vòng 18 -20 ngày (trong vụ xuân 2004) và chỉ duy trì được mực nước bình quân từ 1,75 m tới 2,3 m trong vòng 18 ngày (vụ xuân 2005). Do đặc điểm hầu hết các tỉnh vùng đồng bằng Bắc bộ chuyển sang cấy chủ yếu trà xuânmuộn đổ ải tập trung trong tháng 2 nên các cống thuộc tỉnh phía trên Thái Bình đều đồng loạt mở lấy nước.

            Vì vậy mực nước sông Hồng tại Thái Bình càng bị hạ thấp, nhiều cống lấy nước tưới thượng nguồn của hệ thống Nam, Bắc trong giai đoạn đổ ải vừa qua không mở được, diện tích các vùng Nam, Bắc quốc lộ 10 (vùng Tân Đệ) của huyện Vũ Thư bị thiếu nước, vùng Tiến Đức, Hồng An, Phú Sơn…(Hưng Hà), quỳnh Hoàng, Quỳnh Ngọc (Quỳnh Phụ). Cống Nguyệt Lâm cấp nguồn tưới chủ lực cho huyện ven biển Tiền Hải bị mặn xâm nhập cũng không mở được. Tình trạng trên đã gây thiếu nguồn nước trong thời kỳ đổ ải đại trà vì mực nước nguồn thấp máy bơm không hoạt động bình thường (trong đó có nhiều trạm bơm trơ giỏ phải ngừng bơm) nhất là hệ thống Nam do chuyển đổi sang cấy trà xuân muộn là chủ yếu có 18.000 - 19.000 ha khó khăn nguồn nước tưới. Hệ thống Bắc do các năm qua cấy chủ yếu trà lúa xuân sớm, đổ ải tập trung trong tháng 1 vào thời kỳ mực nước triều cao lên diện tích khó khăn về nguồn nước ít hơn so phía Nam, giai đoạn đổ ải có khoảng 10.000 - 12.000 ha khó khăn về nguồn nước. Tuy nhiên nếu những năm tới các huyện phía bắc chuyển đổi sang cấy chủ yếu trà xuân muộn, diện tích vùng khó khăn về nguồn nước tưới của hệ thống Bắc sẽ còn tăng lên.

            - Vùng ven biển thuộc huyện Thái Thụy, Tiền Hải, Kiến Xương do mặn thường xâm nhập sâu về vụ xuân, nhất là thời kỳ đổ ải nên hầu hế các cống hạ du không mở lấy nước tưới được, chủ yếu nguồn nước lấy từ các cống thuộc các huyện phía thượng lưu: Hưng Hà, Đông Hưng, Quỳnh Phụ và Vũ Thư. Do vậy về vụ xuân thường khó khăn về nguồn nước tưới, đặc biệt các năm hạn điển hình 1999, 2004 và 2005.

            - Vùng tự chảy thường xuyên thuộc các huyện Quỳnh Phụ, Kiến Xương nhưng năm hạn do mực nước nguồn thấp không lấy được tự chảy nên rất bị động về tưới, đã ảnh hưởng tiến độ gieo cấy lúa xuân trong thời vụ tốt nhất, làm giảm năng suất cây trông và gây khó khăn cho việc thực hiện chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trông, vật nuôi để đạt giá trị cao trên 1 đơn vị diện tích của toàn vùng.

- Ảnh hưởng của hạn đối với dân sinh:

            Hệ thống thuỷ nông tỉnh Thái Bình ngoài nhiệm vụ cấp nước cho nông nghiệp còn cấp nước cho công nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và cấp nước sinh hoạt. Do nguồn nước giai đoạn đầu vụ khó khăn nên việc cung cấp nước cho dân sinh cũng bị ảnh hưởng đáng kể, nhất là đối với vùng phía nam tỉnh.

  1. Tình hình úng:

- Đặc điểm chung về mưa gây úng ở Thái Bình:

            Do vị trí địa lý nằm sát biển thường bị bão trực tiếp ảnh hưởng. Có những cơn bão tuy không đổ bộ vào Thái Bình nhưng lại gây mưa lớn.Tổng lượng mưa năm và mùa mưa của Thái Bình lớn hơn các tỉnh khác: Ví dụ lượng mưa TBNN tại Thành phố Thái Bình là 4805 mm, tại Hải Dương là 1562 mm, Hưng Yên 1729 mm, Nam Định 1757 mm.

            Những đợt mưa lớn 200 - 300 mm trở lên thường xảy ra trong mùa mưa thườn gây úng lụt luôn găn liền với những nhiễu động mạnh của khí quyển như bão, áp thấp nhiệt đới (ATNĐ), rãnh thấp, hội tụ nhiệt đới. Những loại thiên tai này xảy ra hàng năm khó tránh khỏi. Lượng mưa lớn nhất 1 ngày đã quan trắc được tại Thành phố tháng VII là 294,9 mm (24/7/1963), tháng VIII là 253 mm (31/8/1975), tháng IX là 508 mm (9/9/2003).

            Đặc điểm đáng lưu ý với vùng ven biển như Thái Bình là ảnh hưởng thuỷ triều trong mùa mưa. Theo số liệu phân tích thống kê các trận mưa lớn có 63% số trận vào thời kỳ triều kém, 16% số trận vào thời kỳ triều trung bình là 21% số trận mưa lớn vào thời kỳ triều cường. Như vây tổ hợp bất lợi xảy ra với tần suất cao là mưa lớn thường vào lúc triều kém khả năng tiêu tự chảy nhỏ nhất nên gây ra úng ngập.

- Tình hình úng ngập: Thường xảy ra mưa lớn trong vụ mùa giai đoạn từ tháng 7 tới tháng 9, trong đó điển hình một số năm mưa úng xảy ra trong tháng 7:

            + Vụ mùa 1980: lượng mưa 400 - 588 mm, diện tích úng 35.897 ha, trong đó diện tích mất trắng 15.190 ha.

            + Vụ mùa 1992: diện tích úng 29.982 ha, mất trắng 5.770 ha.

            + Vụ mùa 2004: diệnc tích ngập tức thời sau mưa 53.741 ha, trong đó úng nặng phải tỉa, cấy lại 27.091 ha.

            Đặc biệt trận mưa úng lịch sử (tần suất <1%) xảy ra 7-14/9/2003 lượng mưa phía nam tỉnh 850 - 1.078 mm, trùng kkỳ triền lửng vàu lũ sông Hồng nên thời gian tiêu nước kéo dài đã gây ra những thiệt hại nặng nề trong sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản và sân sinh, tổng diện tích úng lên tới 57.000 ha, mất trắng 27.676 ha.

  1. Đánh giá khái quát về công trình thuỷ nông hiện có.

-  Thực trạng do chưa có một quy hoạch thuỷ lợi tổng thể theo yêu cầu phục vụ đa ngành, sự lạc hậu về khoa học kỹ thuật, công nghệ. Nhiều công trình thuỷ lợi chưa được xây dựng đồng bộ, những công trình đã xây dựng qua nhiều thời kỳ và đưa vào khai thác sử dụng nhiều năm không được đầu tư tu bổ, sửa chữa đúng mức, bị xuống cấp nhanh chóng, năng lực phục vụ chỉ còn 40 - 60% so thiết kế ban đầu.

- Hệ thống cống dưới đê: xây dựng từ nhiều thời kỳ khác nhau nên chất lượng công trình cũng khác nhau. Đặc biệt là các công xây dựng từ thời thuộc Pháp nay đã và đang xuống cấp nghiêm trọng, điển hình là cống Trà Linh I, cống Dục dương, cống Cá, cống Thiên kiều, cống thọ cách, Vạn đồn, cống Chỉ bồ, cống Sáu, cống Quan hoả … Cống trên đê biển đều phải cải tạo nâng cấp khi thực hiện dự án nâng cấp đê biển.

- Cống đập chính nội đồng: Phần lớn trên các sông trục đều có các cống đập điều tiết. Các công trình này phần lớn xây dựng từ thời kỳ hoàn chình thuỷ nông, do việc thu thuỷ lợi phí không đủ chi nên ít có kinh phí để sửa chữa do đó nhiều công trình đã xuống cấp , làm hạn chế khả năng điều tiết tưới, tiêu của chúng.

- Hệ thống trạm bơm điện: Phần lớn là trục ngang, công trình kiến trúc thuỷ công đã xuống cấp trong đó chủ yếu là các trạm bơm điện nhỏ do xí nghiệp thuỷ nông quản lý đại đa số đã được cải tạo thành trục đứng. Điều đáng quan tâm là các trạm bơm tiêu qua đê có quy mô lớn và vừa hầu hết là trạm bơm trục ngang, tình trạng xuống cấp rất nghiêm trọng, chi phí tu bổ sửa chữa và chi phí điện năng lớn như: Trạm bơm Tịnh Xuyên, Hậu Thượng, Tân Phúc Bình, Phù Sa, Nguyên Tiến Đoài, Đông Tây Sơn II…

- Hệ thống sông trục: hầu hết các tuyến sông trục của Thái Bình đều bị nông và hẹp (trừ sông Kiến Giang). Điển hình là hệ thống sông Tiên Hưng, sông Sa Lung và các trục sông xương cá của nó. Nguyên nhân chính là do hàng năm lấy  nước phù sa bị bồi lắng mà nhiều năm lại chưa được nạo vét. Do đó làm giảm khả năng dẫn và tháo nước, dẫn đến tình trạng úng, hạn thường xảy ra.

4. Các vấn đề phát sinh trong lưu vực, khó khăn, tồn tại và kiến nghị

  1. Nhiệm vụ phục vụ đa ngành của hệ thống thuỷ lợi Thái Bình:

- Thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, Thái Bình cúng như cả nước thực hiện chiến lược phát triển kinh tế đến 2010 và 2020. Chuyển nền nông nghiệp tự cấp tự túc là chủ yếu sang sản xuất hàng hoá hướng xuất khẩu, thực hiện chiến lược chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, xây dựng cánh đồng có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên trên 1 đơn vị diện tích. Một năm sản xuất 4-5 vụ có 2-3 vụ màu, trong đó mở rộng và thâm canh cây vụ đông, đưa vụ đông thành vụ chính đạt giá trị chiếm trên 20% giá trị sản xuất ngành trồng trọt.

- Phát triển vùng chăn nuôi tập trung, phát triển trang trại chăn nuôi có quy mô lớn,

- Khai thác thuỷ sản mặt nước và bãi triều: nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt tập trung trong nội đồng, nuôi trồng thuỷ sản nước lợ kết hợp phát triển rừng ngập mặn và bảo vệ sinh thái ruộng đất ngập nước.

- Phát triển các khu công nghiệp thành phố, thị xã Diêm Điền, Tiền Hải theo trục quốc lộ 10 và quốc lộ 39, cùng hàng trăm làng nghề, xã nghề.

- Thực hiện chương trình cấp nước sạch nông thôn hoàn thành cơ bản vào 2010 chủ yếu khai thác nguồn nước mặt.

Những yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội trên đặt ra nhiệm vụ đối với hệ thống công trình thuỷ lợi là phải phục vụ đa ngành: nông nghiệp, công nghiệp, thuỷ sản, nước sinh hoạt, giao thông, du lịch, cải tạo đất và bảo vệ môi trường sinh thái nước.

Để khắc phục tồn tại hiện trạng và đáp ứng nhiệm vụ mới đặt ra yêu cầu hệ thống thuỷ lợi phải được hoàn thiện về quy hoạch, đầu tư nâng cấp đổi mới công nghệ và quản lý khai thác.

b. Những lựa chọn ưu tiên giải quyết liên quan đến khai thác sử dụng và phát triển tổng hợp lưu vực sông Hồng

Để khai thác sử dụng phát triển quy hoạch lưu vực sông Hồng có hiệu quả trong những năm tới cần lựa chọn các vấn đề ưu tiên như sau:

1-Biện pháp công trình :

1.1 Bổ sung quy hoạch thuỷ lợi theo yêu cầu phục vụ phát triển nông nghiệp theo hướng chuyển đổi, mở rộng vùng nông sản hàng hoá, vùng lúa chất lượng cao, mở rộng vùng vụ đông và vùng chăn nuôi tập trung. Xây dựng Quy hoạch thuỷ lợi theo yêu cầu phục vụ đa ngành và bảo vệ môi trường sinh thái nước bền vững, đồng thời tăng mức bảo đảm của đê sông và toàn tuyến đê biển.

+ Vấn đề quy hoạch tiêu nước cần xét những yếu tố mới:

- Đề cập những yếu tố tăng hệ số tiêu: vụ mùa xu hướng tăng diện tích màu thay lúa (khoảng 10%), diện tích không trữ nước tăng do phát triển đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, đường giao thông…

- Rà soát quy hoạch phân vùng tiêu: tiêu tự chảy ra biển, tiêu ra cửa sông và bơm động lực kết hợp tự chảy với các tổ hợp bất lợi về tiêu: mạ dày xúc thấp cây (bằng 60% chiều cao mạ được), mưa lớn sau khi cấy xong lúa mùa, lũ sông trùng kỳ triều lửng.

- Hệ thống sông trục tiêu nông hẹp, lại bị nhiều vật cản (đăng đó, bèo), các công đập phân vùng tiêu không khép kín…

+ Tính toán cân bằng tưới cho hệ thống và từng biểu vùng trong trường hợp mực nước nguồn thấp, yêu cầu nông nghiệp: đổ ải tập trung trong tháng 2 là lúc triều thấp, nhu cầu cấp nước lớn trong thời gian ngắn, đồng thời phải đáp ứng các nhu cầu đa ngành: cấp nước cho công nghiệp, thuỷ sản, nước sinh hoạt, giao thông, du lịch, cải tạo đất và bảo vệ môi trường sinh thái nước…xác đinh bổ sung công trình cấp nguồn nước.

1.2 Cải tạo hệ thống cống cấp nguồn nước tưới: tăng khả năng lấy nước với mực nước sông Hồng thấp (cống Đại Nẫm, Việt Yên…), bổ sung cống tưới cho vùng thiếu nguồn (cống Tân Đệ); tăng khả năng khai thác nước tự chảy khi mực nước lũ song Hồng cao, duy trì lâu (cải tạo van nồi lấy sa…).

1.3 Đầu tư cải tạo, nâng cấp các cống dưới đê đã xuống cấp hiện nay ngoài đảm bảo an toàn chống lũ còn đặt ra những nhiệm vụ kết hợp để khai thác lấy nước tự chảy ở mức nước cao trong vụ mùa, khai thác khả năng tranh thủ mực nước chân triều để tiêu tự chảy của các cống tưới, tranh thủ lấy nước tưới hớt của các cống tiêu…(cống Trà Linh I, cống Hoàng Môn, Dục Dương, cống tiêu hạ du: cống Vân Đồn, Cống Cá, cống Khổng, Thiên Kiều…)

1.4 Cải tạo, nâng cấp hệ thống các trạm bơm tiêu qua đê chủ yếu của Thái Bình được xây dựng 25-30 năm đã xuống cấp, phần thuỷ công như bể xả trạm bơm Tịnh Xuyên (34 máy 10003/giờ hiện chỉ vận hành được 20 máy) đã bị hư hỏng nặng chỉ bơm được dưới báo động 1 không còn tác dụng chống úng vụ mùa khi có lũ, các trạm bơm Nguyên Tiến Đoài (21* 1000 m3/h) Đông Tây Sơn (20*1000m3/h), Hậu Thượng (20*1000m3/h), Tân Phúc Bình (18*1000m3/h)… do xây dựng lâu cả phần thuỷ công và máy bơm hiệu quả hoạt động thấp nhất là không bơm chống úng được ở mức nước lũ thiết kế…Vấn đề tiêu úng bằng động lực hiện nay không đáp ứng yêu cầu quy hoạch đặt ra.

1.5 Quy hoạch sắp xếp lại các trạm bơm tưới nội đồng, cải tạo trạm bơm trục ngang thành trạm bơm trục đứng, nâng cấp cống đập và đường vùng để nâng cao hiệu quả khai thác tiết kiệm điện, nước.

1.6 Nạo vét sông trục dẫn chính đến các nhánh cấp 2 (54 tuyến) tăng năng lực dẫn, trữ nước tưới và tranh thủ thuỷ triều tiêu thoát nhanh.

1.7 Xây dựng các công trình xử lý nước thải ở các khu công nghiệp, các làng nghề và các khu đô thị lớn.

2- Phi công trình

2.1 Sắp xếp đổi mới các doanh nghiệp thuỷ nông tương xứng với nhiệm vụ trên cơ sở gọn nhẹ, hiệu qủa.

2.2 Thực hiện phân cấp quản lý công trình thuỷ lợi cho thuỷ nông cơ sở: gồm các trạm bơm, kênh mương thuộc phạm vi trong 1 xã, thôn. Đổi mới nâng cao hiệu quả quản lý khai thác công trình thuỷ lợi theo hướng phân cấp giữa các ngành các cấp từ Trung ương tới địa phương và xã hội hoá vấn đề thuỷ lợi, nâng cao trách nhiệm của người hưởng lợi trực tiếp từ dịch vụ tưới tiêu.

2.3 Xây dựng mức thu, chi thuỷ lợi  phí. Định mức kinh tế kỹ thuật trong quản lý công trình thuỷ lợi và các chính sách về tổ chức, tài chính cho Tổ chức hợp tác dùng nước đồng bộ, đầy đủ.

2.4   Đào tạo và đào tạo lại lực lượng quản lý khai thác hệ thống thuỷ lợi.

  1. Những khó khăn tồn tại:

Quá trình thực hiện các nội dung tăng cường công tác quản lý quy hoạch lưu vực sông Hồng còn gặp những trở ngại khó khăn chính như:

1. Ý thức chấp hành luật pháp về Luật tài nguyên nước, Pháp lệnh KTBVCTTL của các cấp, các ngành  và nhân dân chưa nghiêm

2. Thiếu vốn để duy trì bảo dưỡng, cải tạo nâng cấp công trình cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế và xã hội.

3. Các doanh nghiệp thuỷ nông thiếu hụt tài chính nghiêm trọng không đủ khả năng đổi mới công nghệ, tăng cường năng lực để quản lý khai thác hệ thống thuỷ lợi có hiệu quả.

4. Về điều hành nguồn nước sông Hồng: Từ vụ xuân 2007 và các năm tiếp theo Thái Bình phấn đấu chuyển đổi cơ cấu đạt 100% trà xuân muộn, đổ ải làm đất cấy chủ yếu trong tháng 2 vào lúc thuỷ triều thấp, lại vào đúng thời điểm các tỉnh trong lưu vực đều tập trung đổ ải. Nếu nguồn nước khó khăn như vụ xuân năm 2006 chắc chắn phải có sự can thiệp xả hồ Hoà Bình ở mức cao hơn năm 2006 mới đảm bảo tiến độ đổ ải theo thời vụ cấy lúa xuân cho các tỉnh trong lưu vực trong đó có Thái Bình.

5. Chương trình phát triển vụ đông thành vụ chính của Thái Bình những năm tới cần đầu tư kiên cố hệ thống kênh tưới rất lớn, song với mức đầu tư như những năm qua không đáp ứng được yêu cầu.

6. Vấn đề quản lý xả thải vào hệ thống công trình thuỷ lợi hiện nay còn những bất cập như sau:

- Tình trạng vi phạm xả thải vào công trình thuỷ lợi phổ biến: có 111 dự án xả thải công nghiệp vào sông Bạch Đằng, sông Pa RI, 12 dự án xả vào sông Tiên Hưng chưa được cấp phép.

- Chưa có quy hoạch xả thải nên chưa quy định tiêu chuẩn xả thải ra công trình thuỷ lợi làm căn cứ cấp phép.

- Chi cục quản lý nước và CTTL là đơn vị quản lý nhà nước được Sở Nông nghiệp và PTNT giao nhiệm vụ thẩm định hồ sơ cấp phép xả thải và kiểm tra giám sát việc xả thải vào hệ thống CTTL nhưng lại không được trang bị trang thiết bị kiểm tra xả thải khó khăn thực hiện nhiệm vụ…

- Trong pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi có nêu nguồn thu của doanh nghiệp KTTL gồm thuỷ lợi phí, tiền nước, phí xả thải song thực tế phí xả thải ở địa phương do Sở tài nguyên môi trường quản, chưa quy định trích cho duy tu hệ thống tiêu nước thải của doanh nghiệp thuỷ nông.

      Kiến nghị

1-       Ban quản lý QHLV sông Hồng xây dựng phương án điều tiết nguồn nước sông Hồng đáp ứng yêu cầu twosi vụ xuân, đặc biệt giai đoạn đổ ải và thời kỳ tưới cây vụ đông của các tỉnh trong lưu vực.

2-       Đề nghị BQLLVSH phối hợp ngành điện nghiên cứu xây dựng phương án điều tiết nước trong vụ mùa phòng lũ xả trước hồ Hoà Bình phù hợp, hạn chế xả cao nhất là vào thời gian có bão đi vào khu vực đồng bằng sông Hồng giảm nguy cơ ảnh hưởng đê điều

3-       Phối hợp với Bộ tài nguyên và MT về cung cấp thông tin dự báo KTTV chuyên ngành, vấn đề quản lý nước xả thải.

4-       Tăng cường thông tin giữa các tỉnh trong lưu vực thông qua trang điện tử của ban QLQHLVSH để phối hợp cũng như cung cấp thông tin kịp thời để Ban có phương án điều tiết phù hợp, tăng cường công tác phối hợp, hỗ trợ các địa phương sát yêu cầu

5-       Đề nghị Ban QLQHLVSH kiến nghị với Bộ Nông nghiệp và PTNT thành lập thanh tra chuyên ngành của Cục Thuỷ Lợi dể thực hiện thanh tra xử lý các vi phạm phạm vi bảo vệ công trình thuỷ lợi, vi phạm xả thải vào HTCTTL có nguy cơ ngày một phổ biến vi phạm mức đọ nghiêm trọng hơn đang làm giảm rõ rệt hiệu quả phục vụ của công trình thuỷ nông.

6-       Có phân cấp cụ thể về xây dựng, tổ chức quản lý, vốn đàu tư tu bổ sửa chữa ở lưu vực sông Hồng giữa Bộ và Tỉnh.

7-       Đề xuất ưu tiên đầu tư , nâng cấp sửa chữa các hệ thống công trình thuỷ lợi tỉnh Thái Bình:

      */ Kế hoạch sửa chữa , nâng cấp công trình thuỷ lợi đầu mối năm 200:

Hệ thống thuỷ nông Bắc Thái Bình:

-          Dự án làm mới công Trà Linh I đảm bảo cùng cống Trà Linh II tiêu nước cho 50.332 ha mặt bằng của  huyện phía tỉnh (đã được Bộ phê duyệt)

-          Dự án nạo vét sông Tiên Hưng - Sa Lung (đã được Bộ phê duyệt)

-          Dự án cải tạo công Việt Yên - nạo vét sông Việt Yên

-          Dự án cải tạo trạm bơm Tịnh Xuyên

-          Dự án cải tạo công Thiên Kiều - Nạo vét sông Thiên Kiều

-          Dự án kiên cố kênh nổi sau các cống dưới đê khai thác tự chảy lấy sa: kênh nổi Lão Khê, Việt Yên, Minh Tân, Hà Thanh, Hậu Thượng, Cao Nội.

Hệ thống thuỷ nông Nam Thái Bình:

-          Dự án làm mới cống Tân Đệ

-          Dự án xây lại mới cống Dục Dương

-          Dự án nạo vét cống Cự Lâm giai đoạn III

-          Dự án làm mới đập càu Mùa - nạo vét sông Bạch

-          Dự án cải tạo nâng cấp các trạm bơm tiêu qua đe đã xuống cấp nghiêm trọng: Nguyên Tiến Đoài.

-          Dự án kiên cố hoá nỏi sau các cống dưới đê khai thác tự chảy lấy sa: kênh nổi cống Nang, công Ngô Xá, kênh TB Nguyên Tiến Đoài, kênh TB Tân Phúc Bình, kênh TB Phù Sa.

*/ Khôi phục, nâng cáp công trình đầu mối:

- Dự án xây lại mới cống Đại Nẫm

- Dự án cải tạo nâng cấp 16 công dưới đê ( huyện Thái Thuỵ) đã xuống cấp nghiêm trọng : Mai Diêm, Tám Thôn, Bạch Đằng, Tân Bồi I, Tân Bồi II, Giáo Lạc, Thiên Kiều, Nghĩa Phong, Phúc Khê, Thứ 5, Chỉ Bồ, Cháy, Hồng Quỳnh I, Vân Am, Đồng Đỗi, Bùi I.

- Dự án cải tạo trạm bơm Hậu Thượng và Đại Nẫm

- Dự án nạo vét các trục sông nhánh chính của sông Tiên Hưng - Sa Lung: Tà Sa, Sành, Đại Nẫm, sông  Yên Lộng, sông Cô, Hoàng Nguyên…

- Dự án kiên cố kênh nổi sau các cống dưới đê khai thác tự chảy lấy sa

Hệ thống thuỷ nông Nam Thái Bình:

- Dự án xây lại mới cống Vũ Đoài

- Dự án xay lại mới cống dưới đê biển (Tiền Hải): Doãn Đông, Bồng He, Khổng, Trung Lang, sông Cá, các cống thuộc Kiến Xương: Khả Phú, Tân Ấp, Dương Liễu, Hồ, Đắc Chúng, Ngõ Quýnh…

- Dự án cải tạo nâng cấp các trạm bơm tiêu qua đê đã xuống cấp: Tân Phúc Bình, Đông Tây Sơn

 

 

 

 

 

 
CÁC TIN KHÁC
  BÁO CÁO CỦA TỈNH SƠN LA TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT NĂM 2006
  BÁO CÁO CỦA TỈNH LẠNG SƠN TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT NĂM 2006
  BÁO CÁO CỦA TỈNH HƯNG YÊN TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT NĂM 2006
  BÁO CÁO CỦA TỈNH BẮC GIANG TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT NĂM 2006
  BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC THUỶ LỢI, TÌNH HÌNH THIÊN TAI VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC NĂM 2006 CỦA TỈNH YÊN BÁI

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn