I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
BÁO CÁO CỦA TỈNH BẮC GIANG TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT CÔNG TÁC 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2007 CỦA BAN QLQHLV S.HỒNG - THÁI BÌNH
 

Tỉnh Bắc Giang có 5 Công ty KTCTTL là Sông Cầu, Cầu Sơn, Nam yên Dũng, Yên Thế và Lục Ngạn. Hai công ty Sông Cầu và Cầu Sơn quản lý khai thác hại HTTN liên tỉnh, phụ trách tưới tiêu cho địa bàn nhiều huyện, 3 Công ty Nam Yên Dũng, Yên Thế và Lục Ngạn là những công ty phụ trách tưới, tiêu cho địa bàn một huyện.

Địa hình trong tỉnh phức tạp được chia thành 3 vùng rõ rệt vùng miền núi tưới cơ bản bằng các hồ chứa, tiêu tự chảy. Vùng miền núi hàng năm thường thiếu nước gây hạn hán căng thẳng cho vụ đông xuân. Vùng Trung du và đồng bằng cũng có những đặc thù riêng, một số diện tích cao cũng thường xuyên thiếu nước, vùng thấp ven Sông Cầu, Sông Thương, Sông Lục Nam khi mưa lớn thường ngập úng vào vụ mùa và bị hạn vào vụ đông xuân. Vì vậy chi phí cho chống hạn vụ đông xuân, bơm tiêu úng vụ mùa hàng năm thường rất lớn chiếm trên 40% giá trị thu thủy lợi phía của các Công ty KTCTTL.

Diện tích cánh tác toàn tỉnh:         123.492 ha

Trong đó:

- Vụ đông xuân:           49.381 ha

- Vụ mùa:        49.408 ha

- Rau màu:      11.149 ha

Trong 6 tháng đầu năm 2007 công tác thủy lợi phải tập trung phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh trên địa bàn đó là:

1. Công tác phòng, chống hạn đông xuân 2006 – 2007

1.1. Đặc điểm thời tiết

Năm 2006 thời tiết diễn biến tương đối phức tạp, mùa mưa kết thúc sớm hơn so với những năm trước, là năm thứ ba liên tục có tổng lượng trong năm thấp hơn so với lượng mưa trung bình nhiều năm (đạt 78%).

Do lượng mưa thấp và không đều trên các lưu vực hồ, vì vậy lượng nước tích trong các hồ chưa chỉ đạt gần 50% dung tích thiết kế. Đến thời điểm phục vụ cho sản xuất chiêm xuân 2007 mực nước 2 hồ chứa lớn như Cấm Sơn đạt 48%, Khuân Thần 30%.

Mực nước từ các sông suối nhất là 3 sông lớn là Sông Cầu, Sông Thương, Sông Lục Nam đều thấp hơn trung bình nhiều năm và thấp hơn cùng kỳ năm 2005 từ 30-50cm. Do đó việc tưới phục vụ sản xuất đông xuân gặp nhiều khó khăn.

1.2. Công tác chống hạn

Ngày 22 tháng12 năm 2006 Bộ Nông nghiệp & PTNT có công văn số 3433/BNN-TL : về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 38/2006/CT-TTg của Thủ Tướng Chính phủ về một số biện pháp cấp bách phòng chống hạn, bảo vệ sản xuất vụ đông xuân 2006 – 2007 đến UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các Sở Nông nghiệp & PTNT.

Căn cứ tình hình nguồn nước và diễn biến thời tiết trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Sở Nông nghiệp & PTNT đã tham mưu cho UBND tỉnh đi kiểm tra thực tế và thành lập Ban chỉ đạo phòng chống hạn ở các huyện, xã và Công ty KTCTTL để triển khai kế hoạch chống hạn mà ngành Nông nghiệp & PTNT đề xuất được UBND tỉnh thống qua đó là :

- Rà soát lại kế hoạch gieo cấy vụ chiêm xuân để xây dựng kế hoạch dùng nước, thống nhất lịch đưa nước đổ ải các đơn vị dùng nước với phương châm tiết kiệm nước, tiết kiệm điện năng tiêu thụ.

- Khoanh vùng tưới ăn chắc cho từng loại cây trồng cụ thể và xây dựng kế hoạch chống hạn ngay từ đầu vụ chiêm xuân chi tiết đến từng tuyến, cho từng vùng cụ thể, những nơi không có khả năng tưới cần sớm có kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý.

- Những trạm bơm tưới tập trung chỉ đạo bơm nước đổ ải về tưới dưỡng cho cây trồng tranh thủ thời gian khi mực nước sông lên cao, tận dụng nguồn nước từ các kênh tiêu, sông suối nhỏ, hồ ao của địa phương.

- Chủ động xây dựng kế hoạch tu bổ sửa chữa công trình, nạo vét kênh mương, kênh nội đồng (ưu tiên các cửa dẫn nước vào cống tưới và kênh dẫn vào trạm bơm tưới) để lấy nước thuận lợi và điều tiết, tiết kiệm nước tưới.

- Kế hoạch đưa nước tưới, tu bổ sửa chữa công trình có sự phối hợp giữa các Công ty KTCTTL với các huyện, xã thực hiện nạo vét kênh, mương đưa nước tưới hợp lý tiết kiệm ngay từ đầu vụ.

- Ngay sau khi hoàn thành tưới đổ ải và bắt đầu tưới dưỡng đã phải có kế hoạch bơm tát lượng nước chết trong các hồ chứa và lắp đặt các trạm bơm giã chiến kể cả bơm dầu, bơm điện đảm bảo diện tích gieo trồng ăn chắc vì tháng 3-4/2007 lượng mưa ít tương tự như năm 2006.

- Xây dựng phương án tưới chống hạn cho từng vùng, khu vực cụ thể dự trù kinh phí cho công tác chống hạn để chủ động thực hiện.

- Mua nước hồ Núi Cốc tưới cho hệ thống Sông Cầu.

- Sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền vận động hướng dẫn nhân dân phòng chống hạn theo dõi sát tình hình diễn biến thời tiết để chỉ đạo điều hành và thực hiện cấp nước phục vụ sản xuất và đời sống cho phù hợp.

Được sự chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp & PTNT và cấp kịp thời 5 tỷ đồng cho công tác chống hạn, với sự nỗ lực của các địa phương đặc biệt vai trò của các Công ty KTCTTL, vì vậy kết quả vụ dông xuân 2006 – 2007 đã cung cấp đủ nước tưới giải quyết cho 12.400 ha diện tích bị hạn nặng có thu hoạch năng suất cao. Đồng thời đối với các huyện miền núi đảm bảo đủ nước sinh hoạt cho hàng vạn dân.

2. Tình hình thiên tai và các biện pháp khắc phục

Bắc Giang là tỉnh miền núi có lượng mưa thấp so với các tỉnh Đông bắc. Song lượng mưa phân bổ không đều thường tập trung vào 3 tháng 7, 8, 9 chiếm tới 75 – 80% lượng mưa cả năm. Chính vì vậy vụ đông xuân thường gặp hạn hán ở vùng cao, vùng thiếu công trình thủy lợi và vụ mùa thường gặp ngập úng vùng trũng ven Sông Cầu, Sông Thương và Sông Lục Nam. Ngoài ra Bắc Giang hàng năm cũng thường xuyên chịu ảnh hưởng từ 4 đến 6 cơn bão từ biển đông đổ vào, tuy không lớn quá cấp 10. Song cũng gây nhiều thiệt hại cho sản xuất và đời sống nhất là đối với các huyện miền núi mấy năm gần đây thường xảy ra lũ quét, sạt lở hồ đập kênh mương; với các huyện vùng thấp khi có bão cũng là lúc có mưa to tập trung vào nước các triền sông dâng cao gây sạt trượt đê điều uy hiếp tới đời sống của người dân vùng ven sông.

Từ tình hình thực trạng thiên tai thường xảy ra trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong những năm qua. Công tác khắc phục của địa phương đã tập chung vào một số biện pháp chính đó là :

- Đối với vụ sản xuất đông xuân luôn chủ động công tác phòng chống hạn bằng mọi biện pháp như đã nêu ở phần trên (1.2).

- Đối với mùa lũ; trước vụ kiểm tra các công trình đê điều, hồ đập, trạm bơm… theo dõi diễn biến thời tiết và xây dựng kế hoạch tu bổ, sửa chữa và phương án phòng chống tới các cấp các ngành một sách sát thực.

Là Sở chuyên ngành tham mưu cho các cấp chính quyền về công tác thủy lợi phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh trong 6 tháng đầu năm 2007 cũng như từ năm 2000 trở lại đây đã được các cấp các ngành địa phương ghi nhận và 6 tháng cuối năm 2007 chúng tôi đã sẵn sàng mọi công việc cho công tác phòng chống lụt bão giảm nhẹ thiên tai theo chỉ đạo của Chính phủ và Ban chỉ đạo PCLB Trung ương.

3. Các vấn đề phát sinh trong lưu vực; những khó khăn tồn tại và một số kiến nghị:

3.1. Các vấn đề phát sinh và khó khăn tồn tại

- Nguồn nước trong vùng mỗi ngày một suy giảm cả trên sông và các hồ chứa.

- Nhu cầu dùng nước mỗi ngày một nhiều và đa dạng cả trong phục vụ sản xuất và dân sinh.

Hai vấn đề này dẫn đến thiếu nguồn nước cần có sự hỗ trợ của lưu vực để giải quyết.

- Nguồn nước trên Sông Cầu, Sông Thương, Sông Lục Nam ngoài việc suy giảm còn bị ô nhiễm bởi chất thải của khu công nghiệp và làng nghề.

- Các công trình thủy lợi bị xâm phạm bởi tệ nạn phá rừng, khai thác cát sỏi, xây nhà, lều quán thậm chí còn phá hỏng, lấy cắp các thiết bị công trình làm tổn hại giảm tuổi thọ cũng như hiệu quả phục vụ của công trình.

Hai vấn đề nêu trên Sở Nông nghiệp & PTNT phối hợp với các ngành các địa phương trong tỉnh làm thường xuyên để ngắn chặn. Song những tồn tại phát sinh này chỉ giảm theo thời điểm.

- Hệ thống công trình thủy lợi xây dựng đã lâu nay xuống cấp từ đầu mối đến kênh mương.

- Các hồ đập vừa và nhỏ miền núi được xây dựng thời kỳ bao cấp, nhà nước và nhân dân cùng làm nên không đảm bảo kỹ thuật an toàn nay lại xuống cấp nghiêm trọng nên hàng năm không giảm cho tích nước theo thiết kế nên việc phục vụ hiện nay hiệu quả rất thấp.

- Diện tích trồng cây ăn quả ở các huyện miền núi nhiều lại trồng trên cao, không có nước tưới.

- Tình trạng khai thác nước ngầm không phép, không theo quy định ngày một nhiều làm ảnh hưởng lớn đến tầng nước và chất lượng nước.

- Việc phát triển nuôi trồng thủy sản không theo quy hoạch làm ảnh hưởng tới việc cấp nước và tiêu thoát nước của từng hệ thống.

- Việc phát triển công nghiệp theo xu hướng đầu tư mỗi ngày tăng làm phá vỡ quy hoạch thủy lợi và thu hẹp diện tích canh tác ở những vùng thâm canh. Trong thời gian tới theo lộ trình mà hai Bộ Nông nghiệp & PTNT và Bộ Tài chính trình Chính phủ thì đến tháng 1 năm 2008 sẽ miễn giảm thủy lợi phí cho nông dân.

Trên đây là những vấn đề tồn tại phát sinh do cả điều kiện khách quan, chủ quan và xu thế thời đại mang lại mà địa phương phải tập trung giải quyết.

3.2. Những kiến nghị với Ban quản lý lưu vực sông Hồng – Thái Bình

Để giải quyết vấn đề phát sinh tồn tại như nêu ở trên là cả một vấn đề lớn mà cơ bản ở mỗi địa phương phải có giải pháp của mình sao cho phù hợp.

Song với vai trò quản lý lưu vực sông tầm quốc gia, chúng tôi đề nghị Ban quản lý lưu vực sông Hồng – Thái Bình một số vấn đề sau:

- Do lượng nước sinh thủy ở thượng lưu đập Thác Huống những năm gần đây thiếu hụt dẫn tới mực nước, lưu lượng thấp so với thiết kế nên cần có sự chỉ đạo tốt và điều tiết nước sao cho phù hợp để đáp ứng lưu lượng cho hệ thống thủy nông sông Cầu phục vụ chống hạn vụ đông xuân.

- Phê duyệt lại quy trình điều tiết hồ Cấm Sơn sau khi hoàn thành mở rộng tràn và khôi phục nhà máy thủy điện.

- Giúp địa phương điều chỉnh quy hoạch thủy lợi hàng năm cho phù hợp với sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

- Chỉ đạo Ban quản lý lưu vực sông Cầu hoạt động thiết thực và hiệu quả.

- Phối hợp với Cục Thủy lợi đề nghị Bộ và Chính phủ sớm cho triển khai thực hiện chương trình an toàn hồ chứa.

 
CÁC TIN KHÁC
  BÁO CÁO THAM LUẬN TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT NĂM 2007 CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN
  MỘT SỐ CÔNG VIỆC 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2007 CỦA TIỂU BAN QLQHLV SÔNG ĐÁY.TỒN TẠI VÀ KIÊN NGHỊ
  SƠ KẾT HOẠT ĐỘNG 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2007 BAN QUẢN LÝ QUY HOẠCH LƯU VỰC SÔNG HỒNG – THÁI BÌNH
  CÔNG TÁC THUỶ LỢI HÀ NAM PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG
  CÔNG TÁC QUẢN LÝ QUY HOẠCH LƯU VỰC SÔNG NĂM 2006 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn