I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
THAM LUẬN CỦA TP.HÀ NỘI TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2007 CỦA BAN QLQHLV S.HỒNG - THÁI BÌNH
 

Thành phố Hà Nội có diện tích tự nhiên là 920,98km2, với dân số xấp xỉ 3,0 triệu người, tiếp giáp với các tỉnh: Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên, Hà Tây và Vĩnh Phúc; vị trí nằm ở trung tâm đồng bằng châu thổ sông Hồng, chịu ảnh hưởng nhiều của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Lượng mưa trung bình năm khoảng từ 1.250mm đến 1.870 mm, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 thường tập trung tới 85% lượng mưa cả năm, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chiếm khoảng 15% tổng lượng mưa năm; mưa lớn nhất thường vào tháng 7, 8 đây cũng là tháng thường có nhiều cơn bão nhất mực nước các sông dâng cao gây khó khăn cho tiêu úng, tháng có lượng mưa nhỏ là tháng 1 và tháng 2 khó khăn cho việc làm ải và gieo cấy vụ đông xuân.

Về thuỷ văn, trên địa bàn Hà Nội có nhiều con sông chảy qua, các hồ chứa nước...đây là nguồn nước mặt cung cấp cho sản xuất và các hoạt động phát triển kinh tế khác.

Hà Nội có một hạ tầng kỹ thuật thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp, nông thôn tương đối hoàn chỉnh. Hệ thống thuỷ lợi tưới gồm: 418 trạm bơm điện (664 máy bơm các loại từ 1.000m3/h đến 8.000m3/h); 30 hồ chứa nhỏ, đập dâng tại huyện Sóc Sơn; tổng chiều dài kênh mương tưới là 1.247,5km. Hệ thống công trình thuỷ lợi tiêu gồm: 35 trạm bơm tiêu quy mô lớn với 315 máy bơm các loại, trên 279,5km kênh tiêu chính. Năng lực tưới hiện nay của hệ thống công trình thuỷ lợi là 32.133ha, đảm bảo tưới chủ động trên 80% diện tích đất canh tác, phần diện tích chưa được tưới chủ động còn lại chủ yếu ở vùng trung du, bãi ngoài đê; diện tích tiêu 60.601ha (trong đó tiêu bằng động lực là 21.628ha). Hệ thống đê điều đã được hình thành từ lâu đời với 7 tuyến đê chính có tổng chiều dài 151,8km (trong đó có 37,7km tuyến đê Hữu Hồng là đê cấp đặc biệt, 50,5km đê tuyến Tả Hồng, Hữu Đuống là đê cấp I, 22,4km đê Tả Đuống là đê cấp II và 41,2km đê Tả, Hữu Cà Lồ và Hữu Cầu là đê cấp III).

I. Tình hình thiên tai và các biện pháp khắc phục của địa phương

Cũng như các tỉnh thuộc lưu vực sông Hồng - Thái Bình, vụ xuân 2006-2007 của Hà Nội cũng là vụ xuân thứ 4 liên tiếp xảy ra tình trạng hạn hán: tổng lượng mưa thấp hơn trung bình nhiều năm; dòng chảy sông Hồng thấp hơn trung bình nhiều năm từ 20% đến 50%, mực nước sông Hồng ở mức rất thấp, tại Hà Nội đã xuống tới +1,12m (ngày 23/02/2007) thấp hơn 0,24m so với vụ xuân năm 2005-2006. Nước cạn đồng nghĩa với việc dòng chảy sinh thái suy giảm, làm ảnh hưởng đến sinh hoạt và phát sinh những hiểm hoạ về môi trường; đồng thời việc thiếu nước ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đối với việc gieo trồng của bà con nông dân.

Trước tình hình hạn hán, để đảm bảo nước tưới cho 32.133ha cây trồng theo kế hoạch, được sự quan tâm chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp & PTNT, UBND thành phố Hà Nội, với chức năng quản lý nhà nước, bằng các văn bản cụ thể, Sở Nông nghiệp & PTNT Hà Nội đã chỉ đạo các Công ty KTCT Thuỷ lợi, các xã triển khai các biện pháp chống hạn, tập trung vào bốn nội dung cơ bản sau:

1. Rà soát những diện tích có khả năng thiếu nước để lên kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Trong vụ xuân vừa qua, tổng diện tích lúa giảm được chuyển đổi sang trồng lạc, đậu tương, rau, hoa cao cấp trên địa bàn là 2.500ha.

2. Tổ chức nạo vét, tu bổ hệ thống kênh mương, các bể hút, đặc biệt là các bể hút trạm bơm đầu mối ngoài sông đã được hạ đến cao trình thiết kế Min; tổ chức kiểm tra đánh giá hiện trạng và xử lý kịp thời các sự cố công trình.

3. Theo dõi chặt chẽ các nguồn nước, đặc biệt là trữ nước các hồ chứa, sử dụng mọi nguồn nước hợp lý, tích kiệm, tăng cường các biện pháp trữ nước tại mặt ruộng, các hệ thống sông, kênh trục nội đồng để cung cấp nước tạo nguồn cho các trạm bơm trong hệ thống.

4. Xây dựng phương án chống hạn chi tiết đến từng trạm bơm đầu mối. Chuẩn bị sẵn sàng nhân lực, vật lực và các biện pháp cụ thể để có thể chủ động nguồn nước trong điều kiện mực nước sông xuống đến mức thấp nhất.

II. Đánh giá kết quả công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất và đời sống

1- Kết quả đạt được:

Với các giải pháp nêu trên, tổng khối lượng làm thuỷ lợi trên địa bàn đã thực hiện được như sau:

- Khối lượng nạo vét kênh mương, bể hút là 236.000m3 (trong đó: các Công ty KTCT Thuỷ lợi thực hiện 51.000m3, nhân dân thực hiện nạo vét các kênh nội đồng là 185.000m3).

- Bảo dưỡng 201 tổ máy bơm của 49 trạm bơm do các Công ty KTCT Thuỷ lợi quản lý; chuẩn bị phương tiện, vật tư để sẵn sàng lắp đặt các trạm bơm dã chiến bơm tạo nguồn khi mực nước sông, hồ xuống thấp.

- Thay thế, nối dài ống hút (trung bình trên 1,5m/máy) nhằm đảm bảo các trạm bơm hoạt động được khi mực nước trên các sông xuống thấp.

Mặc dù tình hình khí tượng, thuỷ văn vụ Xuân 2006-2007 có những diễn biến bất lợi đối với sản xuất nông nghiệp, đời sống nhân dân, nhưng do chú trọng trong công tác chống hạn, công tác thuỷ lợi trên địa bàn đã đạt được những kết quả chính như sau:

- Chủ động cấp đủ nước tưới, góp phần nâng cao năng suất cho 32.133ha cây trồng vụ xuân (20.763ha lúa vụ xuân và 11.370ha rau, màu, hoa các loại).

- Đảm bảo cung cấp đủ nước cho 2.800ha đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, đưa giá trị sản xuất của ngành thuỷ sản trong 6 tháng năm 2007 là 70 tỷ đồng.

- Để hạn chế tình trạng ô nhiễm nguồn nước sông Nhuệ - sông Đáy, Sở Nông nghiệp và PTNT Hà Nội đã có văn bản đề xuất với UBND thành phố chỉ đạo sở Giao thông Công chính Hà Nội đóng hệ thống cống Thanh Liệt không cho nước bị ô nhiễm từ các sông nội thành chảy vào sông Nhuệ. Đồng thời, UBND thành phố Hà Nội đã chỉ đạo sở Tài nguyên Môi trường & Nhà đất xây dựng “đề án tổng thể Bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy”, ngày 24/4/2007 thành phố đã tổ chức hội nghị với sự tham gia của các đồng chí lãnh đạo các tỉnh trong lưu vực, các cơ quan trung ương và địa phương dự họp để nghe báo cáo kết quả triển khai, bàn kế hoạch thực hiện và đã ký kết biên bản ghi nhớ.

2- Thuận lợi, khó khăn.

Sản xuất nông nghiệp ở Hà Nội mang tính sản xuất hàng hoá chất lượng cao, một nền sản xuất sinh thái gắn với quy hoạch về không gian đô thị của thủ đô, lao động nông nghiệp dồi dào có trình độ văn hoá, có tri thức tiếp thu nhanh những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới. Đặc biệt trong nền sản xuất hàng hoá đã tỏ ra nhanh nhạy, linh hoạt, những mô hình chuyển đổi sản xuất sang trồng hoa, nuôi bò sữa, sản xuất cá giống... cho thấy rõ thế mạnh của sản xuất nông nghiệp trong cơ chế thị trường.

Đất đai phần lớn là đất phù sa châu thổ sông Hồng nên màu mỡ, thời tiết thuận lợi cho cây trồng phát triển, lưu lượng dòng chảy khá phong phú, lượng phù sa hàng năm lớn thuận lợi cho phát triển nông nghiệp.  

Công nghiệp của thành phố phát triển nhanh đã và đang thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá nông thôn, hiện đại hoá nông nghiệp. Tuy nhiên các trang thiết bị, công nghệ phục vụ nông nghiệp chưa nhanh chóng đổi mới, còn lạc hậu, chắp vá, sản phẩm nông nghiệp chưa đáp ứng được với yêu cầu về số lượng và chất lượng.

Cơ chế chính sách đã và đang được chuyển đổi cho phù hợp với quá trình phát triển sản xuất ở nông thôn, đã tạo ra động lực cho các ngành kinh tế phát triển.

Quá trình đô thị diễn ra nhanh khiến đất nông nghiệp ngày giảm đi, sức ép dân số ngày một tăng đã đặt ra cho ngành nông nghiệp những thách thức mới để thực hiện nhiệm vụ về cung cấp lương thực, thực phẩm cho dân cư của thủ đô.

Vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp - nông thôn còn hạn chế, sức thu hút đầu tư đặc biệt là đầu tư nước ngoài còn thấp.

3- Cơ hội, thách thức

Thành phố Hà Nội đang được các nhà đầu tư quan tâm, có xu thế mở rộng hợp tác phát triển kinh tế với các tổ chức quốc tế, do vậy cần chuẩn bị sẵn những dự án để gọi vốn đầu tư của nước ngoài.

            Nguồn lao động dồi dào, có khả năng đón nhận và  áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ mới trong nước và của thế giới vào sản xuất để tăng nhanh sản xuất, chất lượng sản phẩm, hiệu quả.

Nền kinh tế trong tỉnh ngày càng phát triển nhu cầu nước ngày một tăng đối với sản xuất và cấp nước sạch cho người dân cần có biện pháp sử dụng hợp lý nguồn nước để đảm bảo sự phát triển bền vững trong khu vực nói chung.

Tốc độ đô thị hoá cao, phát triển các mạnh các khu du lịch, dịch vụ, các làng nghề và công nghiệp đòi hỏi mức độ tiêu cao hơn, hệ số tiêu tăng lên, nên phải có biện pháp tiêu phù hợp.

Nguồn nước của các sông trong thành phố đang có nguy cơ bị ô nhiễm nặng do nước thải công nghiệp và sinh hoạt không được xử lý và kiểm soát chặt chẽ, thiên tai diễn biến phức tạp khiến cho tình hình hạn hạn, lũ úng  ngày càng gia tăng.

Những thách thức đó đặt ra yêu cầu cho ngành thuỷ lợi phải tìm ra giải pháp phát triển và quản lý nguồn nước, khai thác hệ thống công trình thủy lợi hợp lý, đảm bảo sự phát triển bền vững, bảo đảm lợi ích chung, công bằng giữa các địa phương, các ngành.

III. Các vấn đề phát sinh, những khó khăn tồn tại và các kiến nghị.

1- Những vấn đề phát sinh và tồn tại:

- Chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng mới, thay đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây con vật nuôi mới, chuyển đổi một bộ phận đất trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản và trồng cây ăn quả, rau an toàn, trồng hoa có giá trị hàng hoá cao hơn... đang đặt ra hàng loạt vấn đề thay đổi về yêu cầu cấp nước cũng như tiêu thoát nước.

- Diện tích đất nông nghiệp ở Hà Nội có xu hướng giảm, đặt ra yêu cầu cần phải đầu tư thâm canh, tăng năng suất cây trồng để thu được hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích ; do vậy phải chủ động về cấp và thoát nước cho vùng sản xuất, giải quyết tưới cho vùng bãi thuộc huyện Đông Anh và Gia Lâm.

- Tốc độ đô thị hoá cao, phát triển các mạnh các khu du lịch, dịch vụ, các làng nghề và công nghiệp ; đồng thời diện tích nông nghiệp và công nghiệp đang trong tình trạng đan xen, cho nên đòi hỏi phải có sự tính toán hợp lý trong việc thực hiện nhiệm vụ tiêu thoát nước.

- Nhiều công trình thuỷ lợi được xây dựng và khai thác quá lâu, nay đã xuống cấp làm hạn chế năng lực phục vụ. Hệ thống kênh mương phần lớn là kênh đất, sử dụng lâu ngày bị sạt lở nhiều, không đảm bảo mặt cắt thiết kế dẫn đến năng lực tưới bị hạn chế và phát sinh nhiều chi phí. Các trục tiêu thoát nước chính trong thành phố bị bồi lắng ảnh hưởng đến tiêu thoát.

- Hà Nội là thủ đô của cả nước vấn đề phòng chống lũ và bảo vệ đê điều được đặt ra ở mức cao nhất, không để xảy ra vỡ đê trong bất kể trường hợp nào. Các tuyến đê thuộc hệ thống sông Hồng phải đảm bảo an toàn với mực nước lũ thiết kế tại trạm thuỷ văn Hà Nội 13,1m (riêng đê hữu sông Hồng thuộc phạm vi nội thành Hà Nội là đê cấp đặc biệt phải đảm bảo mức chống lũ với mực nước 13,4m tại trạm thuỷ văn Hà Nội). Tiếp tục nâng cao chất lượng đê, hoàn chỉnh mặt cắt đê theo tiêu chuẩn thiết kế, thực hiện các giải pháp kỹ thuật nhằm tăng cường chất lượng của nền đê.

- Lượng nước thải công nghiệp và sinh hoạt ngày càng tăng, cần có biện pháp, phương án xử lý và kiểm soát nước thải để không gây ảnh hưởng tới môi trường chung cho cả đô thị và nông thôn, đảm bảo sự phát triển bền vững cũng cần được đặt ra.

2. Phương án giải quyết:

            - Rà soát, bổ sung và hoàn chỉnh lại các quy hoạch về thuỷ lợi của các huyện ngoại thành trên cơ sở quy hoạch phát triển nông nghiệp và các quy hoạch phát triển kinh tế của Thủ đô.

  - Sớm ban hành các hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành các điều khoản trong nội dung của Luật Đê điều đã quy định;

  - Đầu tư các dự án xây dựng công trình trạm bơm tiêu Yên Nghĩa, trạm bơm tiêu Long Biên, trạm bơm tiêu Vĩnh Thanh.  

  - Đầu tư nâng cấp hệ thống công trình đê điều thuộc tuyến sông Đuống;

  - Nghiên cứu, hướng dẫn, trang bị các thiết bị để quản lý và vận hành hiệu quả hệ thống giếng giảm áp đã xây dựng trên địa bàn Hà Nội;

            - Đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án cải tạo nâng cấp hệ thống sông Nhuệ;

            - Cần có một chương trình và kế hoạch cụ thể toàn diện về bảo vệ môi trường nước, xử lý nước thải trước khi xả vào nguồn nước, xử lý rác thải. Bổ sung nguồn nước cho các hệ thống để pha loãng, giảm ô nhiễm đảm bảo nước có chất lượng để sử dụng tiếp cho các vùng lân cận Hà Nội.

 
CÁC TIN KHÁC
  THAM LUẬN CỦA TỈNH HÀ NAM TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT CÔNG TÁC 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2007 CỦA BAN QLQHLV S.HỒNG - THÁI BÌNH
  BÁO CÁO VỀ CÔNG TÁC THUỶ LỢI VÀ PCLB TỈNH BẮC KẠN TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT CÔNG TÁC 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2007 CỦA BAN QLQHLV SÔNG HỒNG - THÁI BÌNH
  BÁO CÁO CỦA TỈNH BẮC GIANG TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT CÔNG TÁC 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2007 CỦA BAN QLQHLV S.HỒNG - THÁI BÌNH
  BÁO CÁO THAM LUẬN TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT NĂM 2007 CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN
  MỘT SỐ CÔNG VIỆC 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2007 CỦA TIỂU BAN QLQHLV SÔNG ĐÁY.TỒN TẠI VÀ KIÊN NGHỊ

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn