Vài nét tổng quan về đặc điểm lưu vực

Hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình là hệ thống sông lớn đứng hàng thứ 2 của Việt Nam (sau hệ thống sông Mê Kông) được bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam - Trung Quốc. Sông Hồng là một sông quốc tế bao gồm lãnh thổ của 3 nước là: Việt Nam, Trung Quốc và Lào. Tổng diện tích toàn lưu vực là 169.020 km2.

Hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình là hệ thống sông lớn đứng hàng thứ 2 của Việt Nam (sau hệ thống sông Mê Kông) được bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam - Trung Quốc. Sông Hồng là một sông quốc tế bao gồm lãnh thổ của 3 nước là: Việt Nam, Trung Quốc và Lào. Tổng diện tích toàn lưu vực là 169.020 km2.

Diện tích lưu vực phía Trung Quốc là 81.240 km2 (chiếm 48% tổng diện tích toàn lưu vực). Diện tích lưu vực ở Lào là 1.100 km(chiếm 0,65% tổng diện tích toàn lưu vực).

          Trên lãnh thổ Việt Nam, lưu vực sông Hồng bao gồm 25 tỉnh, thành phố, diện tích là 86.660 km2 (chiếm 51,35% diện tích toàn lưu vực).

- Dân số toàn lưu vực tính đến năm 2002 khoảng 28 triệu người.

- Tài nguyên đất: Tổng diện tích tự nhiên toàn lưu vực là 86.660 km2. Đất nông nghiệp 1.874.100 ha, trong đó: đất canh tác 1.463.000ha, đất lúa-màu 1.031.000ha. Đất lâm nghiệp: 2.570.775 ha, trong đó đất có rừng 2.101.000 ha. Tiềm năng đất để phát triển nông, lâm nghiệp còn 3.919.500ha.

- Tài nguyên nước:

          + Nước mặt: Lưu vực sông Hồng và sông Thái Bình có tổng lượng nước mặt bình quân hàng năm là 133,68 tỷ m3 trong đó lượng nước từ ngoài lãnh thổ đổ vào là 51,82 tỷ m3 (chiếm 38,8% lượng nước toàn lưu vực). 

          Lượng nước đến trên lưu vực, phân bố không đồng đều theo thời gian và không gian, đã gây tình trạng thiếu nước vào mùa khô, úng lũ vào mùa mưa.

Nước ngầm: Trữ năng nước ngầm thuộc lãnh thổ Việt Nam có tổng lượng 18,219 tỷ m3 (tương đương với lưu lượng 577,4 m3/s).

about-star